Giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện văn yên tỉnh yên bái - Pdf 34

MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG - HÌNH


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á
2. BHYT: Bảo hiểm y tế
3. CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
4. GDP: Tổng thu nhập quốc nội
5. HDI: Chỉ số phát triển con người
6. HPI: Chỉ số nghèo của con người
7. LĐTBXH : Lao động – thương binh và xã hội
8. ODA: Viện trợ phát triển chính thức
9. PPP: Sức mua tương đương
10. TW :Trung ương
11. UBND: Ủy ban nhân dân
12. USA: Đô la Mỹ
13. WB: Ngân hàng thế giới
14. XĐGN: Xóa đói giảm nghèo
15. XHCN: Xã hội chủ nghĩa


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa kinh tế Kế hoạch &
Phát triển, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu
trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Em
đặc biệt cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Th.S Ngô Quốc Dũng - giảng viên

con cái những hộ nghèo thấp, vì đầu tư thấp dẫn tới kết quả sản xuất thấp, kết quả
học tập của con cái thấp. Vì kết quả sản xuất thấp sẽ không đủ để trang trải các
khoản chi phí cho đời sống, quá trình đầu tư tái sản xuất thấp, đầu tư thấp làm cho
thu nhập thấp, dẫn tới đói nghèo. Công việc xóa đói, giảm nghèo đã được các địa
phương quan tâm, tuy nhiên, thực trạng xuất hiện: vừa xóa nghèo, nhưng cũng xuất
hiện thêm hộ nghèo. Do đó, việc xoá nghèo phải làm thế nào để vừa đảm bảo giảm
tỷ lệ hộ nghèo, vừa hạn chế mức thấp nhất số hộ nghèo tái xuất hiện.
Văn Yên là một huyện vùng cao, có mức thu nhập trung bình thấp của tỉnh
Yên Bái với tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các điều kiện cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng
còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp… Vì vậy, thực hiện mục tiêu xóa
đói giảm nghèo bền vững đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho nước ta nói chung và
huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái nói riêng trong tiến trình hội nhập và phát triển. Chính
điều này đã làm cho việc nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo bền vững trở nên
cấp thiết. Do đó, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền
vững tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái”.

1


2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng giảm nghèo tại địa bàn huyện Văn Yên,
thông qua khung lý thuyết vừa xây dựng, đánh giá giảm nghèo bền vững một cách
chính xác. Từ đó rút ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền vững tại huyện
Văn Yên tỉnh Yên Bái
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng giảm nghèo tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Phân tích các nhân tố tác động tới giảm nghèo bền vững trong địa bàn huyện
Văn Yên và nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả giảm nghèo.
- So sánh được thực trạng giảm nghèo theo các phương án được nêu trong đề

- Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng đến giảm nghèo của các hộ
trong huyện. Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các
giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân. Góp phần thúc đẩy
kinh tế, văn hóa, giáo dục, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người
dân trên địa bàn huyện.
4.

Phương pháp nghiên cứu

Để phân tích được tình trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Văn
Yên ta cần dùng một số phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, thống kê và mô
tả nhằm phân tích xoáy sâu vào các nhân tố tác động đến sự nghèo khó, đánh giá
xem mức độ nghèo đói đến đâu, diễn biến quá trình giảm nghèo bền vững như thế
nào và phạm vi ảnh hưởng của nó ra sao. Mặt khác, cần phải có sự kết hợp với các
số liệu thống kê để phản ảnh tình trạng giảm nghèo 1 cách trung thực hơn, chính
xác hơn. Qua đó cho phép ta so sánh được các hộ nghèo, các nhóm dân cư nghèo,
các vùng nghèo khác nhau.
5.

Kết cấu của chuyên đề

Chuyên đề sẽ được chia thành 3 phần:
Chương 1: Khung lý thuyết về giảm nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng giảm nghèo bền vững tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái
giai đoạn 2011 – 2015
Chương 3: Giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái
giai đoạn 2016 – 2020

3


4


Khái niệm cơ sở về nghèo được sử dụng ở đây “Nghèo là tình trạng một bộ
phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống”. Tuy
nhiên trên thực tế, do có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ
tiêu dùng hay thỏa mãn nhu cầu của con người; với xu hướng chung là mức thu
nhập càng cao thì mức tiêu dùng càng cao. Do vậy, khái niệm nghèo ở đây tập trung
vào khía cạnh thu nhập của nghèo để vừa bảo đảm được nội hàm “nhu cầu cơ bản
của cuộc sống”, vừa thống nhất với khái niệm nghèo của ESCAP mà khái niệm này
của ESCAP đã được sử dụng làm cơ sở tiếp cận và xây dựng chuẩn nghèo ở Việt
Nam trong nhiều năm qua. Do vậy, khái niệm nghèo ở đây có thể hiểu cụ thể
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập, chi tiêu chỉ có thể
thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống”.
1.1.1.2. Thước đo đánh giá nghèo
Chuẩn nghèo là thước đo nhằm xác định số lượng hộ nghèo và đánh giá mức
độ nghèo. Vì vậy, vạch ra giới hạn nghèo được coi là bước đầu tiên để tiến hành
đánh giá về thực trạng nghèo. Chuẩn mức nghèo luôn thay đổi và tùy thuộc vào
trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Trên cơ sở chuẩn nghèo, chúng ta có thể đánh
giá tình trạng nghèo theo các tiêu chí sau:
Mức và tỷ lệ nghèo khổ: đây là tiêu chí phản ánh rõ nhất, tổng quan nhất tình
trạng nghèo khổ và cũng là phương pháp cơ sở để đánh giá giảm nghèo. Mức nghèo
khổ (chỉ số đếm đầu – HC) được xác định trên cơ sở đếm đầu người sống dưới chuẩn
nghèo. Tức là những các nhân hoặc hộ gia đình có mức thu nhập dưới mức chi tiêu
tối thiểu (C). Còn tỷ lệ nghèo đếm đầu (HCR) sẽ là HCR =

với n là tổng dân số.

Về nghĩa, chỉ tiêu trên cho chúng ta kết luận về quy mô, phạm vi nghèo khổ
trong sự so sánh với tổng dân số của quốc gia hay địa phương.

- Khái niện giảm nghèo
Thực tế không có nhiều tài liệu thảo luận về khái niệm “giảm nghèo”, có thể là
do mục đích của “giảm nghèo” đã rất rõ ràng là giảm tình trạng nghèo đói trên cơ sở
khái niệm và các tiêu chuẩn về nghèo đói. Trong một số tài liệu, giảm nghèo được
giải thích là giảm tỷ lệ hộ nghèo hay là giảm số hộ nghèo trên một địa bàn, là giảm
mức độ nghèo của một cộng đồng, làm giảm khoảng cách nghèo cũng có thể được
hiểu là làm tăng thu nhập bằng các biện pháp hỗ trợ hộ gia đình đạt được mức thu
nhập bình quân cao hơn chuẩn nghèo. Theo Bộ LĐTBXH, các chương trình giảm
nghèo được hiểu là tập hợp các chính sách, biện pháp và dự án nhằm thúc đẩy khả
năng tiếp cận của hộ nghèo đến dịch vụ xã hội. Như vậy giảm nghèo lại có nghĩa là
6


tăng khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội hay giảm nghèo được hiểu là kết quả từ
những nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân làm cho người dân đạt được
mức sống (mức thu nhập) vượt trên mức sống tối thiểu.
Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo được xác định ở đây là
giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc
sống. Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo được hiểu là giảm số lượng hay tỷ lệ người
hay hộ gia đình không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản. Ở cấp độ gia đình, giảm
nghèo được hiểu là nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình
hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo.
Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu
cầu cơ bản. Nhưng mục tiêu của giảm nghèo là phải thoát nghèo (vượt chuẩn
nghèo). Do vậy, các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo nếu chỉ đặt mục tiêu là cải thiện
mức độ thỏa mãn các như cầu cơ bản là chưa đủ, mà cần xác định mục tiêu là thoát
nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao (so với chuẩn).
Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo được xem trong một tổng thể, bao gồm biến
động tình trạng nghèo của nhiều hộ gia đình với các trạng thái khác nhau, như tái
nghèo, nghèo kinh niên, thoát nghèo, cận nghèo… Một số trạng thái nghèo liên

thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “giảm
nghèo bền vững”, nhưng theo một số báo cáo (Báo cáo giảm nghèo quốc gia 2008,
Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, Báo cáo thực hiện các mục tiêu thiên
niên kỷ,…) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là
“vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững.
“Bền vững” là không gì lay chuyển được, là khả năng duy trì. Như vậy, nên
hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự “chắc chắn” đối với kết quả
giảm nghèo. Mục đích rất rõ ràng của giảm nghèo bền vững chính là bảo đảm hay
duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững. Nếu hiểu “bền vững” với
nghĩa duy trì, là vững chắc thì “giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân
cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn
chuẩn (nghèo) và duy trì được mức độ thỏa mãn này những nhu cầu cơ bản hay
thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro”; giảm
nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay

8


không tái nghèo.
1.1.2.2. Tiêu chí đánh giá giảm nghèo bền vững
Trên cơ sở khái niệm giảm nghèo và giảm nghèo bền vững đã trình bày ở trên,
một số chỉ số đánh nghèo, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững cụ thể như sau:
- Quy mô và tốc độ giảm nghèo
Quy mô giảm nghèo(Ne) là tổng số hộ nghèo giảm được trong một giai đoạn
nhất định. Tốc độ giảm nghèo (Ps) là phần trăm thay đổi trong tỷ lệ hộ nghèo.
Psi =

×100%

Về mặt ý nghĩa, chỉ số Ne cho chúng ta kết luận về quy mô, phạm vi giảm


người, hộ nghèo ở một quốc gia, địa phương tại một thời điểm được xác định dựa
trên bốn thành tố chính là số hộ nghèo của thời điểm trước đó, số hộ thoát nghèo, số
hộ tái nghèo và số hộ nghèo mới. Do đó, khi số hộ nghèo phát sinh mới tăng trong
lên khi tốc độ tăng dân số ổn định sẽ đồng nghĩa với việc tỷ lệ nghèo tăng lên làm
cho quá trình giảm nghèo bền vững sẽ kém hiệu quả. Chỉ số quy mô và tỷ lệ phát
sinh nghèo mới cũng là một chỉ số nhằm đo lường, đánh giá mức độ hiệu quả, bền
vững của quá trình giảm nghèo.
- Quy mô và tỷ lệ hộ cận nghèo
Quy mô hộ cận nghèo (An) là số lượng hộ cận nghèo trên một địa phương
trong một thời gian nhất định. Tỷ lệ hộ cận nghèo (Pa) là phần trăm quy mô hộ cận
nghèo so với tổng số hộ, Pa =

. Mức độ bền vững của quá trình giảm

nghèo phụ thuộc rất lớn vào quy mô và tỷ lệ hộ cận nghèo. Có mức thu nhập không
quá cao so chuẩn nghèo nhưng những hộ cận nghèo lại không được hưởng các
chính sách, ưu đãi dành cho hộ nghèo. Trong quá trình lao động sản xuất các hộ này
rất dễ rơi vào tình trạng nghèo đói khi công việc không ổn định hoặc do điều kiện
thời tiết, rủi ro… Do đó, quy mô và tỷ lệ hộ cận nghèo cũng dùng để phản ánh mức
độ bền vững của quá trình giảm nghèo. Quy mô và tỷ lệ hộ cận nghèo càng thấp thì
quá trình giảm nghèo càng bền vững.
1.2. Các nhân tố tác động đến giảm nghèo bền vững
1.2.1.

Tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo bền vững

1.2.1.1. Tăng trưởng kinh tế tác động đến giảm nghèo bền vững
Có thể khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng hàng đầu


2010 là 6,7%,năm 2014 là 5,98%), tuy nhiên sự tăng trưởng ấy còn có một số hạn
chế, đặc biệt là "sự lan toả của tăng trưởng kinh tế đến các đối tượng chịu ảnh
hưởng không mạnh và khuynh hướng ảnh hưởng tiêu cực có phần gia tăng". Trong

11


báo cáo của mình, GS-TS Nguyễn Văn Nam (ĐH KTQD) đã viết rằng "Điều đáng
nói là, thực tế tác động của tăng trưởng kinh tế tới giảm nghèo đang có xu hướng
giảm và bất bình đẳng lại tăng lên tương ứng". Ông đưa ra một số con số chứng
minh cho nhận định của mình: Năm 1990, sự cách biệt của 20% số hộ giàu nhất và
20% số hộ nghèo nhất chỉ là 4,1 lần. Con số này năm 1995 là 7,0; năm 1999 là 7,6;
năm 2002 là 8,1; năm 2006 là 8,37; năm 2010 là 8,82; năm 2013 là 9,1. Điều này
cho thấy tình trạng tụt hậu của hộ nghèo trong mối tương quan với người giàu. Phân
tích tình hình biến đổi về thu nhập của các nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng
lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn, mức độ cải thiện thu nhập của hộ nghèo chậm
hơn nhiều so với mức sống chung và đặc biệt so với nhóm có mức sống cao. Nhiều
báo cáo tại hội thảo đưa ra nhận xét: khoảng cách giàu - nghèo lớn và phân hoá giàu
nghèo ngày càng dãn ra. Nếu trong năm 1993, chi tiêu bình quân đầu người
của những hộ gia đình giàu nhất cao gấp 5 lần so với hộ gia đình nghèo nhất thì
năm 2004, tỷ lệ này là 7,27 lần. Tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập
thấp nhất có xu hướng ngày càng thấp đi trong tổng thu nhập dân cư : năm 1995
là 21,1%; năm 1999 là 17,98%, năm 2006 là 17, 47%. Một vấn đề cần được quan
tâm chú ý là tính bền vững của xoá đói giảm nghèo. Đến hết năm 2008, nước ta còn
khoảng 1 triệu hộ cận nghèo với khoảng 4,3 triệu người, còn 62 huyện có trên 50%
số hộ nghèo. Nếu tính theo tiêu chuẩn nghèo quốc tế là 2 USD/ngày/người thì tỷ lệ
hộ nghèo ở Việt Nam còn khoảng 35% đến 40%. Còn theo tiêu chuẩn "nội" thì tỷ lệ
hộ nghèo đã giảm từ 37,4% năm 1998 xuống còn 19,5% năm 2004. Số lượng là vậy
nhưng chất lượng chưa vững chắc. Theo TS Lê Quốc Hội (ĐH KTQD), thu nhập
của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo. Do vậy, khi có những

định lượng được tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo. Chính vì thế,
những chỉ tiêu sau sẽ khắc phục những hạn chế của chỉ tiêu này.
- Hệ số co giãn của giảm nghèo với tăng trưởng
Thước đo tốt nhất để thấy được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm
nghèo chặt chẽ thế nào là tính độ co giãn của giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế
(Growth Elasticity of Poverty - GEP). Độ co giãn này thể hiện bằng phầm trăm thay
đổi tỷ lệ nghèo khi có 1% tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người.
GEP > 0 cho thấy tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghèo cùng chiều. Điều này thể
hiện tốc độ tăng trưởng tăng làm đói nghèo tăng, độ tăng trưởng giảm làm đói
nghèo giảm.

13


GEP < 0 cho thấy tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghèo ngược chiều, trong trường
hợp này tăng trưởng kinh tế quốc gia có lan tỏa tốt cho xóa đói giảm nghèo.
GEP < -1 cho thấy thấy tốc độ giảm nghèo vượt qua tốc độ tăng trưởng, tăng
trưởng thay đổi ngày càng tích cực tới giảm nghèo
GEP = 0 cho thấy tốc độ tăng trưởng không ảnh hưởng tỷ lệ nghèo
-1 < GEP < 0 cho thấy thấy tốc độ giảm nghèo thấp hơn tốc độ tăng trưởng,
tăng trưởng làm thay đổi phân phối thu nhập theo hướng bất bình đẳng hơn, tỷ lệ
nghèo có giảm nhưng ít hơn
Ưu điểm của chỉ tiêu này là định lượng được tác động và cho biết xu hướng
tác động của tốc độ tăng trưởng đến giảm nghèo là tích cực hay tiêu cực. Hạn chế là
với tỷ lệ nghèo thấp (
phương; hỗ trợ đất sản xuất thông qua ngân sách nhà nước và cho vay ưu đãi;
chuyển đổi nghề nghiệp ở những nơi không còn quỹ đất để giao sản xuất…. Nhờ đó
đã cải thiện được tình trạng thiếu đất sản xuất ở các vùng khó khăn, đời sống các hộ
nghèo được cải thiện và nhiều hộ vươn lên thoát nghèo bền vững.
- Hỗ trợ vốn
Trên thực tế hộ nghèo thiếu nhiều điều kiện cần thiết cho việc tự vươn lên làm
kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Vì vậy sự hỗ trợ của nhà nước để bù đắp sự thiếu hụt
của nó là cần. Hộ nghèo cần được trợ giúp về các yếu tố liên quan đến vốn và
hướng dẫn họ làm kinh tế, với các chính sách về vay vốn ưu đãi, quỹ tín dụng nhân
dân hiệu quả và trợ giúp về kỹ thuật chuyên môn trong sản xuất, định hướng kinh
doanh phù hợp của chính quyền, ngân hàng và các chuyên gia… Sẽ làm cho hộ
nghèo có khả năng tự mình nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo đói, tăng thu
nhập và phát triển kinh tế bền vững tránh tình trạng tái nghèo. Ở Việt Nam, chỉ
riêng ngân sách nhà nước chi cho các chương trình quốc gia liên quan đến mục tiêu
xóa đói giảm nghèo đã chiếm trên 21 tỉ đồng. Nguồn quỹ tín dụng giúp hộ nghèo
vay vốn lãi suất thấp được mở rộng. Ngân hàng phục vụ hộ nghèo đến cuối năm
1999 đã huy động được 4.078 tỉ đồng. Tổng dư nợ đạt 3.503 tỉ đồng, đã cho
2.170.000 hộ vay, bình quân mỗi hộ vay 1,56 triệu đồng. Có hàng trăm chương
trình, dự án với hơn 40 tỉ đồng giúp hộ nghèo, huyện nghèo, xã nghèo.Theo đánh

15


giá của Liên hợp quốc thì Việt Nam đã giảm được 1/2 tỷ lệ đói nghèo trong thập
niên vừa qua. Ngoài ra, các nguồn vốn hỗ trợ theo các chương trình 30a về xóa đói
giảm nghèo, Chương trình 134, Chương trình 135 của chính phủ cũng góp phần rất
lớn vào việc hỗ trợ vốn sản xuất cho hộ nghèo, giúp hộ nghèo thoát nghèo bền
vững. Khi có vốn để tham gia vào quá trình sản xuất, hộ nghèo có cơ hội nâng cao
thu nhập của bản thân và gia đình, từng bước tạo ra công việc ổn định, nâng cao thu
nhập, tạo ra tiết kiệm, đầu tư tái sản xuất nhờ đó từng bước tự vươn lên thoát nghèo

này sang thế hệ khác. Cho dù thị trường vận hành tốt đến đâu, nếu ai đó quá ốm yếu
đến mức không thể tận dụng được các cơ hội thì đói nghèo sẽ còn dai dẳng. Điều
này lý giải tại sao việc phát triển lĩnh vực giáo dục cơ bản lại thường là nhân tố
chính trong chiến lược giảm nghèo bền vững. Ở Việt Nam, nhờ các chính sách
nhằm hỗ trợ phát triển giáo dục hướng tới hộ nghèo như đề án Xã hội học tập 2011
– 2020, Chiến lược phát triển giáo dục 2020, Chương trình quốc gia về giảm nghèo
bền vững: miễn giảm học phí cho các con gia đình nghèo, gia đình người dân tộc
thiểu số; cung cấp miễn phí sách, vở, bút cho các con em trong gia đình có hoàn
cảnh khó khăn; hỗ trợ, trao tặng học bổng cho các học sinh nghèo vượt khó; xây
dựng quỹ giáo dục vì hộ nghèo… Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh
vực giáo dục, được công nhận là nước đạt chuẩn xóa mù chữ, phổ cập tiểu học. Đầu
tư cho giáo dục trong tổng đầu tư ngân sách năm 2000 là 15% và năm 2003 là trên
16%. Tính đến hết năm 2003, có tới 19 tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập trung
học cơ sở. Chỉ số phát triển người (HDI) của Việt Nam tăng khá so với các nước
nghèo và đang phát triển. Theo báo cáo về phát triển người của Liên hợp quốc: năm
1997, HDI của Việt Nam là 0,557 xếp thứ 121/174 nước, năm 1999 là 0,662 xếp
thứ 110, năm 2000 xếp thứ 108/174 và năm 2001 xếp thứ 109/175 nước, năm 2003
xếp thứ 101/174 nước. Nhờ có giáo dục, trình độ nhận thức của hộ nghèo ngày càng
được nâng cao, hộ nghèo có khả năng nắm bắt và tạo ra các cơ hội để nâng cao thu
nhập; nhờ có kiến thức, tay nghề, hộ nghèo sẽ tránh được các rủi ro trong quá trình
sản xuất, đảm bảo tạo ra thu nhập ổn định và thoát nghèo một cách bền vững.
- Chính sách về y tế
Cũng như giáo dục, các chính sách về y tế có thể cải thiện hoặc làm gia tăng
tình trạng nghèo đói, nếu các chính sách y tế được áp dụng đúng cách và hiệu quả
sẽ đảm bảo sức khỏe cho các người nghèo, khi có sức khỏe người nghèo có thể

17


tham gia lao động tạo ra thu nhập và nâng cao đời sống của bản thân và gia đình.



này đến với đối tượng mục tiêu mà không làm thất thoát sang các nhóm thu nhập
cao. Mạng lưới an sinh xã hội cũng tương tự như chuyển giao thu nhập nhưng được
sử dụng chủ yếu trong các trường hợp người rơi vào tình trạng nghèo tạm thời. Số
liệu điều tra cho thấy số hộ luôn nghèo ít hơn số hộ chỉ nghèo trong một khoảng
thời gian nhất định. Điều này đúng với cả nền kinh tế có thu nhập thấp và trung
bình cũng như các nước có thu nhập cao. Do đó các chính sách an sinh xã hội và
chuyển giao thu nhập cũng có tác động không nhỏ vào tỷ lệ nghèo đói và quá trình
giảm nghèo bền vững của một quốc gia. Ở Việt Nam, chính phủ nước ta đã xây
dựng được quỹ trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất. Hàng năm, có từ 1 triệu
đến 1,5 triệu người (gồm người già neo đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ lang
thang hoặc các gia đình bị thiên tai) được cứu tế. Riêng năm 1999 và 2000 nhờ quỹ
trợ cấp đột xuất, hàng triệu hộ được cứu trợ do bị lũ lụt ở miền Trung và Nam Bộ.
Mức tiêu dùng bình quân tăng từ 2,6 triệu đồng/người/năm (1995) lên 4,3 triệu
đồng/người/năm (2001).
1.2.3.

Tác động từ phía bản thân hộ nghèo đến giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo là cải thiện mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ nghèo.
Do đó, hộ nghèo là chủ thể quan trọng nhất cần hướng tới trong quá trình giảm
nghèo. Có thể chia tác động từ phía hộ nghèo đến giảm nghèo bền vững theo các
nhóm nhân tố sau:
1.2.3.1. Nhóm nhân tố về nhân khẩu
- Quy mô và cơ cấu hộ gia đình
Qua nghiên cứu cho thấy cơ cấu hộ gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình giảm nghèo. Các hộ gia đình có nhiều con, tuổi còn nhỏ rất khó để có thể tự
mình thoát nghèo do nghèo đói nên các hộ gia đình này thường có mức thu nhập
thấp không đủ trang trải cho các khoản chi tiêu hàng ngày hoặc làm ngày nào ăn hết

nghèo khó cải thiện cuộc sống và nâng cao mức sống, đảm bảo các nhu cầu cơ bản
của bản thân và thoát nghèo bền vững. Ngay cả khi thoát nghèo những người này
cũng rất đễ rời vào tình trạng tái nghèo do tính chất nghề nghiệp không ổn định,
tính rủi ro cao. Trong khi đó, những người bị lâm vào tình trạng nghèo đói do các
nguyên nhân về thiên tai, chu kỳ kinh tế… nhưng với nghề nghiệp ổn định và thu
nhập cao sẽ thoát khỏi tình trạng nghèo đói nhanh chóng và có cuộc sống ổn định.
- Cơ cấu chi tiêu

20


Cơ cấu chi tiêu của hộ nghèo thường rất eo hẹp. Họ chỉ có khả năng trang trải với
mức hạn chế, tối thiểu các chi phí lương thực và các đồ dùng thiết yếu khác, họ thường
phải bỏ thêm chi phí không đáng có hoặc bị giảm thu nhập do khó tiếp cận cơ hội tăng
trưởng kinh tế. Thu nhập thấp nên mãi họ chỉ có thể dùng toàn bộ thu nhập đó cho chi
tiêu hiện tại, không có tích lũy nên quá trình giảm nghèo trở lên khó khăn.
- Vốn và Tài sản
Thiếu vốn và tài sản là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của nhiều hộ gia đình.
Do xuất phát điểm thấp, không có nguồn vốn và tài sản có sẵn để sản xuất nên khi
các hộ gia đình này rơi vào tình trạng nghèo đói rất khó để họ có thể thoát nghèo.
Những hộ gia đình nghèo có điều kiện tiếp cận vốn và tài sản, cơ sở hạ tầng – kỹ
thuật có sẵn sẽ có điều kiện giảm nghèo nhanh chóng và bền vững vì tài sản, nguồn
vốn là yếu tố rất quan trọng quyết định đến quá trình giảm nghèo bền vững của các
hộ gia đình.
1.2.3.3. Nhóm nhân tố xã hội và nhận thức
- Giáo dục – sức khỏe
Trình độ học vấn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thoát nghèo của các cá
nhân và hộ gia đình. Hộ nghèo thường là những người có trình độ học vấn thấp,
không có kinh nghiệm làm ăn nên không có được giải pháp để tự thoát nghèo. Dân
trí thấp, tự ti, thiếu năng động, lại không được hướng dẫn cách làm ăn, đây là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status