Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÙI THỊ HÀ
GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TẠI HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng .
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
:
- GS. TS. Nguyễn Văn Công, Giảng viên Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dâ
- ;
-
;
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO VÀ
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 6
1.1. Nghèo và chuẩn nghèo 6
1.1.1. Quan điểm về nghèo 6
1.1.2. Quan điểm về chuẩn nghèo 8
1.2. Giảm nghèo và chính sách g 13
1.2.1. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 13
1.2.2. Các chính sách giảm nghèo 17
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động giảm nghèo bền vững 20
1.3.1. Các yếu tố khách quan 21
1.3.2. Các yếu tố chủ quan 23
1.4. Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững 24
1.4.1. Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở một số nƣớc trên thế giới 24
1.4.2. Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh thành 25
1.4.3. Bài học rút ra cho huyện Sóc Sơn 27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
Chƣơng 2. CÂU HỎI, PHƢƠNG PHÁP VÀ CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 30
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 30
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 30
2.2.1. Phƣơng pháp luận 30
2.2.2. Phƣơng pháp thu 30
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 32
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG
TẠI
HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI 34
3.1. Tổng quan về huyện Sóc Sơn, Hà Nội 34
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 34
4.2.7. Một số giải pháp khác 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Dạng đầy đủ
1
UBND
Ủy ban nhân dân
2
HĐND
Hội đồng nhân dân
3
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
4
CNH
Công nghiệp hóa
5
HĐH
Hiện đại hóa
6
THCS
Trung học cơ sở
cận nghèo trên địa bàn huyện qua 3 năm 53
Bảng 4.1: Mục tiêu giảm nghèo của huyện Sóc Sơn đến 2015 83
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ biểu thị tỷ lệ hộ nghèo theo vùng 40
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ biểu thị hộ nghèo qua các năm trên địa bàn huyện 42
Biểu đồ 3.3: Biểu đồ thể hiện nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói
tại huyện Sóc Sơn 49
Biểu đồ 3.4: Biểu đồ biểu thị nguyên nhân nghèo của nhóm hộ điều tra 50
Biểu đồ 3.5: Biểu đồ biểu thị kết quả dạy nghề và giới thiệu việc làm 55
Biểu đồ 3.6: Biểu đồ biểu thị kết quả thực hiện chính sách vay vốn cho hộ
nghèo và cận nghèo 58
Biểu đồ 3.7: Biểu đồ biểu thị kết quả chính sách hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói vẫn là nỗi ám ảnh thƣờng trực đối với cả loài ngƣời, nó diễn
ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt ở các nƣớc
đang phát triển nhƣ Việt Nam đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải
tháo gỡ nhƣng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện giảm nghèo.
Ở Việt Nam, nghèo đói là vấn đề đƣợc Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(02/9/1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm nghèo đói nhƣ một thứ giặc,
đó là “giặc đói” chính vì thế Ngƣời đã xác định nhiệm vụ trƣớc mắt là phải diệt
giặc đói để đồng bào ta “ai cũng có cơm ăn áo mặc” (Đảng cộng sản Việt Nam
(2001), tr416). Là một nƣớc đang phát triển lựa chọn xu hƣớng xã hội chủ
yếu ở các vùng nông thôn có tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống ngƣời nghèo nhìn chung
vẫn còn nhiều khó khăn. (Thủ tƣớng Chính phủ (2011), Tr3)
Nghiên cứu nghèo đói đang trở thành một vấn đề cấp bách của đất nƣớc.
Muốn thực hiện đƣợc mục tiêu phát triển xã hội bền vững thì không thể không
giải quyết vấn đề nghèo đói. Giảm nghèo bền vững không chỉ là vấn đề kinh tế
đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế -xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ
đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
Sóc Sơn là huyện ngoại thành của Thành phố Hà Nội, những năm gần
đây mặc dù huyện đã đạt đƣợc một số kết quả trong công tác giảm nghèo. Tuy
nhiên, tốc độ giảm nghèo còn chậm và chƣa bền vững. Sóc Sơn vẫn là một
trong những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao, tình trạng phát sinh hộ nghèo còn
diễn ra hàng năm. công cuộc giảm nghèo ở huyện Sóc sơn vẫn đang đứng
trƣớc nhiều khó khăn, thách thức, trong đó công tác quản lý triển khai thực
hiện các chính sách của các cấp còn chƣa hiệu quả, hoạt động còn mang tính
hình thức, việc rà soát xác định hộ nghèo và áp dụng các chính sách của nhà
nƣớc vào thực tế chƣa mang tính cụ thể, chạy theo thành tích, đặc biệt kể đến
tính không bền vững của công tác giảm nghèo, nguy cơ tái nghèo cao. Ngoài
ra có nhiều hộ gia đình không thuộc nhóm hộ nghèo nhƣng thu nhập bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
quân của họ nằm sát ngay trên chuẩn nghèo, chỉ cần một rủi ro nhƣ ốm đau,
dịch bệnh, thiên tai, lạm phát… thì ngay lập tức có hàng trăm hộ “rơi” vào
nhóm hộ nghèo.
Điều này đặt ra vấn đề phải làm thế nào để tăng tính bền vững trong
công tác giảm nghèo và đảm bảo sự bền vững của kết quả nghèo trong thời
gian tới. Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần phải tiếp tục nghiên
cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cƣờng tính bền vững
trong xây dựng, thực hiện các chƣơng trình, dự án, chính sách giảm nghèo,
3. Phạm vi nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu
*Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung:
giảm nghèo ở Sóc Sơn.
- Phạm vi về không gian: Địa bàn huyện Sóc Sơn
- Phạm vi về thời gian: Tập trung nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn
2010-2013.
* Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu tình hình thực hiện công tác giảm nghèo, tính bền vững
trong công tác giảm nghèo ở Sóc Sơn.
- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến công tác giảm nghèo và những
giải pháp để có thể thực hiện mục tiêu giảm nghèo theo hƣớng bền vững.
4. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về nghèo và giảm nghèo bền vững
- Phân tích đúng, khách quan và trung thực tình hình nghèo đói và các
chính sách giảm nghèo bền vững tại Sóc Sơn trong thời gian từ 2010 - 2013
đồng thời tìm ra những nguyên nhân và hạn chế.
- Phát hiện những khó khăn vƣớng mắc và đƣa ra giải pháp trong công
tác giảm nghèo theo hƣớng bền vững tại Sóc Sơn. Luận văn hệ thống hóa các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
lý luận căn bản về nghèo đói và giảm nghèo bền vững. Từ đó nghiên cứu thực
trạng nghèo đói và tình hình thực hiện các chính sách, các chƣơng trình nhằm
giảm nghèo theo hƣớng bền vững của huyện
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục, luận văn chia làm 04 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo và giảm nghèo bền vững
tồn tại sinh học của con ngƣời. Theo ý đó, đói là tình trạng nghèo khổ, cùng
cực, là trạng thái con ngƣời ăn không đủ no, không đủ năng lƣợng để duy trì
sự sống bình thƣờng và không đủ để lao động, tái sản xuất sức lao động.
Tại hội nghị thƣởng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra định nghĩa cụ thể hơn về ngƣời
nghèo nhƣ sau: “Ngƣời nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn 1đô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
la (USD) mỗi ngày cho mỗi ngƣời, số tiền đƣợc coi nhƣ đủ mua các sản phẩm
thiết yếu để tồn tại”. (Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội (2005), Tr 4)
Trong báo cáo về tình hình phát triển - tấn công nghèo đói năm 2000,
WB thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo. Đói nghèo
không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất đƣợc đo lƣờng theo một khái
niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dung mà còn là sự hƣởng thụ thiếu thốn
về giáo dục, y tế. Báo cáo đã mở rộng quan điểm về đói nghèo khi tính đến
nguy cơ dễ bị tổn thƣơng, dễ gặp rủi ro của ngƣời nghèo. Báo cáo nêu bật
“nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc,
mù chữ và không đƣợc đến trƣờng”.
Ngoài ra ngân hàng thế giới WB cũng đƣa ra quan điểm: “Ngƣỡng
nghèo là mốc mà nếu cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dƣới mốc này
thì bị coi là nghèo. Ngƣỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần
nghèo của một quốc gia”. (Đỗ Thị Dung (2011), Tr 17)
Theo WB thì nghèo là những hộ không có khả năng chi trả cho số lƣợng
hàng hóa lƣơng thực của mình đủ cung cấp 2.100 calori mỗi ngƣời mỗi ngày.
Nghèo có hai dạng là nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cƣ thƣờng trực không có
khả năng thảo mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế
một bộ phận lớn dân cƣ nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.
- Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng.
1.1.2. Quan điểm về chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là thƣớc đo mức sống của dân cƣ để phân biệt trong xã
hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện hộ nghèo. Trên thế giới hình
thành 03 phƣơng pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu sau: phƣơng pháp dựa
vào nhu cầu chi tiêu; phƣơng pháp dựa vào thu nhập thực tế; phƣơng pháp
dựa vào đánh giá của ngƣời dân. Trong 03 phƣơng pháp trên thì 02 phƣơng
pháp đầu đƣợc các quốc gia sử dụng khá phổ biến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Để xác định chuẩn nghèo có nhiều tiêu chí, chuẩn mực đánh giá khác
nhau. Trên thế giới ngƣời ta lấy những chỉ tiêu: chất lƣợng cuộc sống, chỉ tiêu
phát triển con ngƣời, chỉ tiêu nhu cầu dinh dƣỡng, chỉ tiêu thu nhập quốc dân
bình quân tính theo đầu ngƣời để làm các tiêu chí xác định chuẩn nghèo (Đỗ
Thế Hanh (2000), Tr 20).
Ngân hàng Thế giới WB sử dụng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình
quân tính theo đầu ngƣời làm tiêu chí xác định chuẩn nghèo. Thu nhập bình
quân theo đầu ngƣời là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh đƣợc quy mô, trình
độ phát triển kinh tế và mức sống của ngƣời dân trong một nƣớc. Hiện nay
trên thế giới tồn tại 02 phƣơng pháp tính toán thu nhập quốc dân bình quân
theo đầu ngƣời chủ yếu của ngân hàng Thế giới WB đó là: Phƣơng pháp
Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD và phƣơng pháp PPP
(purchasing power parity) là phƣơng pháp tính theo sức mua tƣơng đƣơng và
cũng tính bằng USD.
- Theo phƣơng pháp Atlas, năm 1990 ngƣời ta chia mức bình quân của
các nƣớc trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000 USD/ngƣời/năm là nƣớc cực giàu.
Tổng Cục thống kê với vai trò thu thập, công bố và đánh giá số liệu cấp
quốc gia và có thể so sánh quốc tế đã cùng Ngân hàng thế giới áp dụng
phƣơng pháp xác định chuẩn nghèo theo phƣơng pháp đo lƣờng mức sống
của Ngân hàng thế giới đƣa ra chuẩn nghèo đói của Việt Nam gồm 02 mức:
mức nghèo lƣơng thực, thực phẩm và mức nghèo chung. Mức nghèo lƣơng
thực thực phẩm đây là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu ngƣời/
tháng. Còn mức nghèo chung Tổng cục thống kê dựa trên mức chi tiêu bình
quân đầu ngƣời/ tháng làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo.
Nhƣ vậy các chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào tình
hình phát triển kinh tế của từng quốc gia theo từng giai đoạn
Bộ Lao động - Thƣơng binh và xã hội là cơ quan thƣờng trực của
chƣơng trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Lúc
đầu chuẩn nghèo đƣợc xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang
mức thu nhập (Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội (2012), Tr 3).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
Ƣu điểm của phƣơng pháp này là đảm bảo từng bƣớc thoả mãn nhu cầu
của con ngƣời (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá…). Chuẩn nghèo đói đƣợc
điều chỉnh gắn với tăng trƣởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của
ngƣời dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập của ngƣời dân. Mặt
khác theo phƣơng pháp này, tạo điều kiện cho cơ sở có thể triển khai đƣợc
việc lập danh sách hộ nghèo và xác định các hỗ trợ cần thiết.
Tuy nhiên, phƣơng pháp tiếp cận này có hạn chế là chƣa tính toán đầy
đủ nhu cầu tiêu dùng (chỉ chú ý một số nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm và một
số nhu cầu phi lƣơng thực, thực phẩm). Độ tin cậy chƣa cao do không có điều
kiện điều tra diện rộng, thu nhập thông tin về thu nhập của ngƣời dân nông
thôn và miền núi rất khó chính xác.
Mặc dù có một số hạn chế nhƣng cách tính chuẩn nghèo của Bộ lao động -
đồng/năm;
+ Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng, 1.800.000 đồng/năm.
- Giai đoạn 2006 - 2010: (Thủ tƣớng Chính phủ (2005), Tr 2)
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/ngƣời/tháng (2.400.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/ngƣời/tháng (dƣới 3.120.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.
- Giai đoạn 2011 - 2015 nhƣ sau: (Thủ tƣớng Chính phủ (2011), Tr 2)
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/ngƣời/tháng (từ 4.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/ngƣời/tháng (từ 6.000.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.
* Các chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo:
Nghèo gồm các khía cạnh sau:
- Sự khốn cùng về vật chất đo lƣợng một tiêu chí thích hợp về thu nhập
hoặc tiêu dung.
- Sự hƣởng thụ thiếu thốn về giáo dục, y tế, dinh dƣỡng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
- Nguy co dễ bị tổn thƣơng và dễ gặp rủi ro
- Tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của ngƣời nghèo.
1.2. Giảm nghèo và chính sách giảm nghèo
1.2.1. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cƣ nghèo nâng cao mức sống, từng
bƣớc thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này đƣợc thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và
số lƣợng ngƣời nghèo giảm xuống.
Giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nƣớc và xã
hội hay là của chính những đối tƣợng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều
tế, xã hội của đất nƣớc. Cái đói, cái nghèo đang hiện hữu luôn là nỗi ám ảnh
của sự lạc hậu, kém phát triển của mỗi quốc gia. Thực hiện chƣơng trình giảm
nghèo bền vững thành công là điều kiện tiền đề quan trọng để cả đất nƣớc tiến
lên hội nhập và phát triển. Đó là cơ sở để xây dựng cho một nền tảng chính trị
vững vàng của sự nghiệp vì dân, do dân do Đảng đặt ra. Giảm nghèo bền
vững sẽ đem lại một nền kinh tế vững mạnh, xây dựng một quốc gia vững
mạnh và có vị thế trên trƣờng thế giới. Giảm nghèo bền vững thúc đẩy phát
triển văn hóa, nâng cao dân trí và đẩy mạnh mọi mặt an sinh xã hội.
Giảm nghèo bền vững và tăng trƣởng kinh tế có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Xóa đói giảm nghèo có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy tăng trƣởng kinh tế, ổn định xã hội, góp phần khắc phục hậu quả tiêu cực
của phân hóa giàu nghèo. Nếu để xảy ra tình trạng trên gây mất ổn định chính
trị xã hội, làm chệch hƣớng xã hội chủ nghĩa. Không giải quyết đƣợc vấn đề
xóa đói giảm nghèo sẽ không thực hiện đƣợc mục tiêu công bằng xã hội và
nhƣ vậy mục tiêu phát triển chủ nghĩa xã hội cũng không thực hiện đƣợc. Xóa
đói giảm nghèo có vai trò quan trọng trong việc tạo tiền đề, cơ sở cho sự phát
triển xã hội, là một trong những chính sách hƣớng vào phát triển con ngƣời,
nhất là nhóm ngƣời nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển
kinh tế, xã hội của đất nƣớc nhƣ: phát triển kinh tế tăng thu nhập, đƣợc tiếp
cận các dịch vụ cơ bản nhƣ giáo dục, y tế, nƣớc sạch góp phần nâng cao đời
sống vật chất cho nhân dân. Xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo trật tự an
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
toàn xã hội. Xóa đói giảm nghèo góp phần mở rộng cơ hội lựa chọn cho cá
nhân nhất là nhóm ngƣời nghèo nâng cao năng lực cá nhân để thực hiện có
hiệu quả sự lựa chọn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lƣợng cuộc
sống, tạo điều kiện và cơ hội cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng, giảm
khoảng cách và sự chênh lệch quá mức về mức sống giữa nông thôn và thành
động hoặc tạo việc làm cho ngƣời nghèo
- Tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội được tiếp cận với các dịch
vụ cơ bản như y tế, giáo dục, vệ sinh, nước sạch,…:
Hỗ trợ ngƣời nghèo về y tế để họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt
hơn, hạn chế đƣợc bệnh tật, có khả năng tái sản xuất sức lao động.
Ngƣời nghèo thƣờng gắn với dân trí thấp, do nghèo mà không có điều
kiện đầu tƣ cho con học hành, vì vậy cần phải có chính sách nâng cao nhận
thức cho ngƣời nghèo.
Ngƣời nghèo chủ yếu tập trung ở nông thôn, xa trung tâm kinh tế và
dịch vụ xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng yếu hơn các vùng khác, tình trạng thiếu
điện, thiếu nƣớc sinh hoạt là phổ biến. Vì vậy cần có những chính sách đầu tƣ
cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện cho ngƣời nghèo tiếp cận các dịch vụ tốt hơn.
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo tự lực vươn lên
thoát nghèo, chống tái nghèo:
Làm tốt công tác tuyên truyền đến ngƣời nghèo để họ nhận thức đƣợc
việc thoát nghèo phụ thuộc chủ yếu vào bản thân họ, không nên ỷ lại, trông
chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.
- Xóa đói giảm nghèo phải mang tính bền vững:
Trong thực tế có rất nhiều trƣờng hợp đã thoát nghèo, nhƣng do một
số nguyên nhân nào đó những hộ gia đình này lại tái nghèo trở lại. Vì vậy
cần phải hỗ trợ ngƣời nghèo thoát nghèo và trở thành những hộ khá giả,
không tái nghèo trở lại.
giảm nghèo : Tăng
thu nhập bình quân hộ nghèo (Thu nhập bình quân/ năm của hộ nghèo tăng
lên so với năm trƣớc), tăng số hộ thoát nghèo, giảm tỷ lệ hộ tái nghèo
nhƣ tình trạng việc làm, cải thiện nhà ở, sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe.