LỜI NÓI ĐẦU
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa
bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Đất là
điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của ngành kinh tế quốc dân và hoạt động
của con người, là điều kiện vật chất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất cho các
thế hệ tiếp theo.
Ngày nay, hoạt động của con người ngày càng gia tăng cùng với việc gia tăng
dân số làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và đất đai ngày càng bị suy thoái
dẫn đến giảm năng suất và không mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nên cần phải đánh
giá lại vấn đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường để phục vụ cho công tác
quy hoạch đạt hiệu quả lâu dài và ổn định. Trong đó công tác đánh giá đất đai là một
phần quan trọng và là nền tảng trong quy hoạch sử dụng đất đai, cung cấp đầy đủ thông
tin về tính chất đất đai và các kết quả họat động của con người trên từng đơn vị đất đai
đó, từ đó các nhà chuyên môn có thể vận dụng để chọn lọc và đề nghị cho các đánh giá
và đề xuất khác nhau làm cơ sở cho các quyết định và cấp độ quản lý sử dụng đất.
Thuộc khu vực miền núi Tây nguyên, Di Linh có diện tích đất nông nghiệp khá
lớn, tuy nhiên để phát triển được tối đa tiềm năng của đất đai, mang lại hiệu quả kinh tế
cao, ta cần thực hiện việc quy hoạch phân bổ hợp lý tài nguyên đất với loại hình sử dụng
đất lựa chọn.
Trong nông nghiệp, hiệu quả kinh tế từ việc trồng các loại cây công nghiệp dài
ngày khá cao nhờ vào giá trị xuất khẩu của chúng , giúp cuộc sống của người dân cải
thiện được nhiều hơn trong đó phải kể đến cây cao su. Cũng như nhiều địa phương khác
lựa chọn việc trồng và phát triển cao su nhằm đem lại giá trị về kinh tế , huyện Di Linh
đã lựa chọn loại hình sử dụng đất này để quy hoạch, phát triển.
Do đó, để thực hiện tốt công tác quy hoạch cần phải đánh giá khả năng thích nghi
của cây cao su đối với chất lượng đất đai của huyện Di Linh đến từng đơn vị đất đai .Qua
đó phân bố, thành lập bản đồ thích nghi làm căn cứ, cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất.
PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
có những biện pháp khắc phục sao cho cây trồng đạt năng suất cao đem lại những hiệu
quả lớn về kinh tế.
1.2 Tổng quan lịch sử và quan điểm lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới
Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, các nhà khoa học không dừng lại ở việc
nghiên cứu đặc điểm đất đai và thống kê tài nguyên đất mà còn nghiên cứu đánh giá
khả năng thích nghi đất đai để đề xuất sử dụng đất hợp lý. Năm 1970 nhiều quốc gia
ở Châu Âu đã cố gắng tìm cách phát triển các hệ thống đánh giá đất đai riêng cho
quốc gia họ, các nhà khoa học đã quan tâm đặc biệt đến phương pháp đánh giá đất đai
và xem như một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng. Các nước như
Mỹ, Anh, Canada, Ấn Độ, Ba Lan, Bungaria, Liên Xô cũ… đã nghiên cứu đánh giá
đất đai, xác định khả năng thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp cho sản xuất
nông - lâm nghiệp dựa vào các chỉ tiêu lựa chọn riêng của từng quốc gia.
Qua đánh giá đất đai của các nước trên thế giới, các nhà nghiên cứu thấy rằng cần có
sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá việc đánh giá đất đai trên toàn cầu. Vì vậy đã hình
thành hai Uỷ ban nghiên cứu là Hà Lan và FAO (Rome, Ý); kết quả là một dự thảo
đầu tiên ra đời (FAO,1972), sau đó được Brinkman và Smyth soạn lại và in ấn năm
1973.
Năm 1975, hội nghị tại Rome có những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm 1973
đã được các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO biên soạn lại để hình
thành nội dung phương pháp về đánh giá đất đai đầu tiên của FAO (A Framework for
Land Evaluation) công bố năm 1976, sau đó được bổ sung và chỉnh sửa năm 1983.
Bên cạnh tài liệu tổng quát của FAO, một số hướng dẫn cụ thể khác về đánh giá đất
đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng được FAO ấn hành như:
Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation for Rainfed
Agriculture, 1983); Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (Land Evaluation
đất, các trường Đại học Nông nghiệp, Luật thuế sử dụng đất của Nhà nước cũng
dựa trên cơ sở đánh giá phân hạng đất. Một số công trình, đề tài nghiên cứu về
đánh giá, phân hạng đất được triển khai trên toàn quốc với nhiều đối tượng cây
trồng và nhiều vùng chuyên canh. Đánh giá đất đai trở thành qui định bắt buộc
trong công tác quy hoạch sử dụng đất. Một số công trình tiêu biểu như:
+ Đánh giá phân hạng đất khái quát trên toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nhóm
nghiên cứu) thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1/50.000 dựa trên nguyên tắc phân
loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng đất là đặc
điểm thổ nhưỡng và địa hình, được phân cấp gồm 07 nhóm đất.
+ Trong nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam
(Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu) đã tiến hành phân loại khả năng thích hợp
đất đai theo FAO nhưng chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên và hệ thống phân vị
dừng lại ở lớp thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất.
+ Trong chương trình 48C, Viện Thổ nhưỡng - Nông hóa do Vũ Cao Thái chủ trì
đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên với cây cao su, chè, cà phê và
dâu tằm. Đề tài vận dụng phương pháp đánh giá khả năng thích nghi đất đai của
FAO theo kiểu định tính, đánh giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng, việc phân
cấp được dừng lại ở cấp phân vị là lớp thích nghi với cấp: Rất thích nghi (S1),
Thích nghi trung bình (S2), Ít thích nghi (S3), Không thích nghi (N).
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được những chỉ tiêu và tiêu chuẩn đánh giá, phân
hạng đất cho từng loại cây trồng, nhưng các chỉ tiêu đó đơn thuần thiên về mặt thổ
nhưỡng, chưa quan tâm đến vấn đề khí hậu, thuỷ văn và các điều kiện kinh tế xã
hội cũng như tác động của môi trường.
+ Ở đồng bằng sông Cửu Long một số nghiên cứu chuyên đề ở khu vực nhỏ đã
bước đầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (Lê Quang
Trí, 1989; Trần Kim Tính, 1986).
Từ năm 1992, phương pháp đánh giá đất đai của FAO và các hướng dẫn tiếp theo
(1983, 1985, 1987, 1992) đã được các cơ quan nghiên cứu về đất trên phạm vi cả
với các quốc gia. Những công trình nghiên cứu về nội dung phương pháp đánh giá
đất đai ngày càng được hoàn thiện; nghiên cứu tài nguyên đất hiện nay không thể
dừng lại ở thống kê tài nguyên mà còn phải thực hiện đánh giá khả năng thích nghi
và giới hạn của tài nguyên đất đai trong quá trình sử dụng đất.
Từ sau những năm 1990 đến nay, đánh giá đất đai theo FAO đã được áp dụng khá
rộng rãi vào điều kiện thực tiễn Việt Nam; nghiên cứu đánh giá đất theo quan
điểm hệ thống trong mối quan hệ giữa tự nhiên với kinh tế - xã hội có xem xét đến
tác động môi trường. Quy trình đánh giá đất đai theo FAO (1976) đã tổng hợp
được ý tưởng của thế giới về phương pháp đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai
nông thôn tốt nhất, làm tiền đề cho công tác quy hoạch sử dụng đất, làm căn cứ đề
xuất sử dụng đất hợp lý và hiệu quả. Phương pháp đánh giá đất đai theo hướng dẫn
của FAO đã được trắc nghiệm và được chấp nhận ở nhiều quốc gia; bản chất của
đánh giá đất đai chính là sự so sánh hay gắn kết các nhu cầu của mỗi kiểu sử dụng
đất đai tiềm năng với các đặc tính của mỗi loại đất.
Việc nghiên cứu, đánh giá về các loại hình sử dụng đất bền vững, tính hiệu quả
kinh tế của từng hệ thống sử dụng đất hầu như ít được chú trọng. Tình hình biến
động đất đai trong những năm qua khá lớn, nhất là đất sản xuất nông nghiệp, việc
chuyển dịch cơ cấu cây trồng diễn ra khá phổ biến, một phần do phụ thuộc vào
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một phần do việc bố trí cây trồng chưa phù hợp
với tính thích nghi của đất đai. Vì vậy vấn đề đặt ra là phải xác định cụ thể chất
lượng đất đai, xác định tính phù hợp và hạn chế của đất đai với từng loại hình sử
dụng đất; nhất thiết phải xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên đất.
Quan điểm lựa chọn đề tài
Đánh giá đất đai là nền tảng của quy hoạch sử dụng đất đai trong tương lai. Đánh
giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghi của đất đai bao gồm các yếu tố về tự
nhiên và kinh tế - xã hội, các yếu tố đó phát triển theo thời gian cùng với sự phát
triển của đất nước luôn mang theo sự phát triển đó thì các yếu tố về đất đai, cây
đất đã chọn, ta tổng hợp và đưa ra kết luận, kiến nghị, định hướng sử dụng đất một
cách hiệu quả, tiết kiệm và hợp lý.
1.3 Cơ sở lý thuyết, pháp lý và thực tiễn
Cơ sở lý thuyết
Đặc tính của đất đai
Đặc tính của đất đai (Land characteristics) là những thuộc tính của đất đai
mà ta có thể đo lường hoặc ước lượng được. Như vậy có một số thuộc tính
tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng đất đai nhưng vì lý do nào đó ta không
đo đếm hay ước lượng được (không định lượng được mà chỉ có định tính)
thì cũng không được chọn để mô tả đặc tính đất đai.
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT)
Loại hình sử dụng đất hiện tại là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của
một vạt hoặc khoanh đất với những phương thức quản lý, sản xuất trong
điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định. Một loại hình sử dụng
đất có thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trồng trong một điều
kiện kỹ thuật và kinh tế - xã hội nhất định. Các thuộc tính của loại hình sử
dụng đất bao gồm các thông tin về sản xuất; thị trường tiêu thụ sản phẩm;
đầu tư, lao động, biện pháp kỹ thuật, yêu cầu về cơ sở hạ tầng; mức thu
nhập v.v...
Yêu cầu sử dụng đất đai ( Land use requirement - LR)
Yêu cầu sử dụng đất đai là những điều kiện đất đai cần thiết và đòi hỏi cho
việc bố trí một loại hình sử dụng đất cụ thể một cách ổn định và có hiệu
quả. Bao gồm các yêu cầu của cây trồng, vật nuôi, yêu cầu về quản trị và
bảo vệ đất đai.
Yếu tố hạn chế là chất lượng đất đai hoặc đặc tính đất đai có ảnh hưởng
bất lợi đến tiềm năng đất đai đối với loại hình sử dụng đất nhất định; được
dùng làm tiêu chuẩn để phân cấp các mức thích nghi đất đai.
Đơn vị đất đai (Land Units):
nhiều đặc tính đất đai.
Phương pháp đánh giá đất của FAO (1976)
Hiện nay công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và
trở thành một khâu trọng yếu trong hoạt động đánh giá tài nguyên đất và
quy hoạch sử dụng đất đai (FAO, 1994). Từ năm 1992 đến nay, đánh giá
đất của FAO đã được Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp tiến hành
nghiên cứu, ứng dụng trên thực tế khá phù hợp nhằm đưa vào quy trình xây
dựng các dự án quy hoạch và phát triển nông nghiệp, quy hoạch tổng thể và
quy hoạch sử dụng đất từ các cấp vùng, tỉnh hoặc huyện trên phạm vi toàn
quốc.
Có thể nói, xuất phát từ những nhu cầu sử dụng và quản lý tài
nguyên đất, vấn đề nghiên cứu đất trên cơ sở đánh giá khả năng sử dụng
thích nghi đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi cơ cấu kinh tế sản
xuất nông lâm nghiệp là cần thiết nhằm điều tra, phân hạng và định hướng
sử dụng, quản lý nguồn tài nguyên đất một cách hữu hiệu gắn với quan
điểm sinh thái bền vững và bảo vệ môi trường.Các kết quả bước đầu của
các hoạt động đánh giá đất đai trong những năm qua với sự hỗ trợ và giúp
đỡ tích cực của các cơ quan Nhà nước và quốc tế đã và đang góp phần hoàn
thiện quy trình đánh giá đất của Việt Nam
Đánh giá đất đai là cơ sở và nền tảng cho quy hoạch sử dụng đất đai,
đánh giá đất đai bên cạnh việc liên quan đến các yếu tố thuận lợi và bất lợi
của môi trường, kết quả này còn cung cấp rất nhiều thông tin liên quan đến
tính chất của đất đai và những tác động của con người trong việc sử dụng
đất đai. Nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý đáp ứng
được nhu cầu thực tế trong sử dụng đất đai kèm theo sự phát triển của xã
hội, hạn chế sự suy thoái về đất đai trong huyện Di Linh thì việc đánh giá
đất đai, xây dựng các chất lượng đất đai, đồng thời đánh giá được khả năng
thích nghi của một số cơ cấu cây trồng, cụ thể là cao su là rất cần thiết cho
- Các chính sách và mục tiêu phát triển
- Những hạn chế đặc biệt trong sử dụng đất
- Những nhu cầu và ưu tiên của các chủ sử dụng đất
- Các điều kiện tổng quát về kinh tế - xã hội và sinh thái nông nghiệp trong
vùng đánh giá đất đai.
5) Quyết định các yêu cầu sử dụng đất (chủ yếu về tự nhiên và sinh học)
cho mỗi loại hình sử dụng đất được lựa chọn.
6) Đối chiếu xếp hạng các LUT trên cơ sở so sánh các yêu cầu sử dụng đất
của các LUT với các tính chất đất đai của các LMU nhằm xác định mức độ
phù hợp của các tính chất đất đai của mỗi LMU cho mỗi LUT. Quá trình
đối chiếu này là tiền đề của nội dung phân hạng thich hợp của các LMU
cho từng LUT. Tiến hành phân hạng thích hợp đất đai cho các LUT đã đối
chiếu.
7) Đề xuất các hệ thống sử dụng đất tối ưu và các giải pháp tạo các LUT
thích hợp phục vụ quy hoạch sử dụng đất và tăng cường công tác quản lý,
bảo vệ tài nguyên đất của vùng đánh giá đất.
Như vậy đánh giá đất đai dựa trên cơ sở so sánh các dữ liệu tài nguyên đất
với các yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình sử dụng đất. Nó cung cấp
thông tin về sự thích hợp đất đai cho việc sử dụng đất, cũng có nghĩa là nó
cung cấp thông tin về sự thích hợp trong sử dụng đất cho công tác quy
hoạch sử dụng đất.
Quy trình đánh giá đất đai đã dựa vào các ý kiến tham khảo của các chuyên
gia khoa học đất thế giới. Đây không phải là một hệ thống đánh giá đất đai
nguyên bản mà dựa trên cơ sở của các nguyên tắc và khái niệm của “Đề
cương đánh giá đất” của FAO có thể hệ thống hóa và phát triển thêm cho
mỗi quốc gia, mỗi vùng và địa phương. Nguyên nhân cần thiết phải tuân
thủ theo đề cương FAO là:
- Cung cấp một loạt các nguyên tắc, những khái niệm và quy trình đánh giá
không thể thiếu được.
- Khả năng thích nghi đưa vào sử dụng phải xây dựng trên nền tảng sử dụng
đất bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được dùng để
quyết định.
- Đánh giá đất đai phải đứng trên quan điểm sự ảnh hưởng và liên quan các
yếu tố về môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội đến vùng đang nghiên cứu.
Cơ sở pháp lý
Đánh giá đất đai là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được
thể hiện ở điều 22 Luật Đất đai 2013. Như chúng ta đã khẳng định Đánh giá đất
đai là xác định tiềm năng đất đai phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của con
người, qua đó đánh giá đất đai giữ một vai trò vô cùng quan trọng, để đánh giá
đúng số lượng, chất lượng đất đai phải cần phải tiến hành các biện pháp điều tra,
khảo sát và đánh giá đất .
Điều tra, khảo sát, đo đạc là các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ nhằm xác định về số
lượng đất ở từng địa phương và trên cả nước. Đánh giá đất đai nhằm mục đích xác
định tiềm năng đất đai phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của con người, là
tiền đề quan trọng cho công tác lập quy hoạch đất đai cũng như hoạt động xây
dựng thông tin đất đai. Thấy được tầm quan trọng của hoạt động đánh giá đất đai,
Nhà nước đã có những quy định hướng dẫn và thực hiện cũng như giám sát trong
Luật và các văn bản như :
- Luật đất đai 2013 quy định thực hiện hoạt động điều tra, đánh giá đất đai
trong điều 32, 33 tại Mục 2 Chương III .
- Nghị định số 43/NĐ-CP
- Thông tư số 35/2014/TT-BTNMT được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban
hành ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định, hướng dẫn thi hành về công tác
điều tra, đánh giá đất đai.
Dựa vào thực tiễn
Huyện Di Linh là huyện miền núi nằm về phía Đông Nam của tỉnh Lâm Đồng.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện theo ranh giới “364” là: 162.755 ha chiếm 16,7%
diện tích toàn tỉnh. Trong ranh giới hành chính của Huyện được chia thành 18 xã, thị
trấn (Thị trấn Di Linh, xã Tam Bố, Gia Hiệp, Đinh Lạc, Tân Nghĩa, Tân Châu, Tân
Thượng, Đinh Trang Thượng, Bảo Thuận, Gung Ré, Sơn Điền, Gia Bắc, Liên Đầm,
Đinh Trang Hoà, Hoà Ninh, Hoà Nam, Hoà Bắc, Hoà Trung).
Ranh giới hành chính:
- Bắc Giáp huyện Lâm Hà và tỉnh Đăk Nông
- Nam giáp tỉnh Bình Thuận.
- Đông giáp huyện Đức Trọng và huyện Lâm Hà.
- Tây giáp huyện Bảo Lâm.
Di Linh nằm ở trung tâm hai trục giao thông quốc lộ 20 từ thành phố Hồ Chí Minh
đi Đà Lạt và quốc lộ 28 từ Phan Thiết đi Buôn Mê Thuột. Cách Thành Phố Đà Lạt 80
km về phía Nam. Do đó Di Linh có vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế với các
huyện thị trong tỉnh và các vùng kinh tế Tây Nguyên, Duyên Hải, Nam bộ và vùng
trọng điểm phía nam.
b. Địa hình địa mạo
- Với độ cao trung bình từ 800 -1200m nằm ở phía nam cao nguyên Di Linh, phía
đông nam và phía tây là các sườn dốc đổ xuống Bình Thuận với nhiều đỉnh núi cao
trên 1500m về mặt địa hình trên địa bàn huyện khá đa dạng, có thể chia thành ba dạng
địa hình chính.
- Địa hình núi cao nằm ở phía đông nam thuộc các xã Bảo Thuận, Sơn Điền, Gia
Bắc độ cao trên 1200m. Độ dốc phổ biến > 200.
- Địa hình bình nguyên đặc trưng là các dãy đồi thấp đỉnh rộng có độ cao từ 900
-1200m. Độ dốc phổ biến từ 80 - 250.
màu và cây công nghiệp dài ngày, đất nông nghiệp chiếm diện tích khá lớn trong tổng
diện tích tự nhiên của toàn huyện. Di Linh có thế mạnh về kinh tế lâm sản, có nhiều
loại gỗ quý, đặc biệt và phong phú là thông 2 lá
Tài nguyên rừng
Nằm trong hệ sinh thái Rừng Tây Nguyên. Rừng ở đây có nguồn lực phong phú trong
quần thể sinh cảnh đa dạng phần lớn phân bố ở phía Bắc và phía Nam huyện (Vùng tụ
thuỷ và đầu nguồn lưu vực) có vai trò lớn đối với phòng hộ, cân bằng môi trường sinh
thái. Đặc biệt là nơi có 11.702,29ha rừng phòng hộ cho hai công trình thuỷ điện lớn của
phía Nam là Trị An và Hàm Thuận - Đa Mi. Rừng Di Linh có trữ lượng gỗ lớn, nhiều
loại gỗ quý hiếm, động vật hoang dã phong phú. Ngành lâm nghiệp chiếm vị trí đáng kể
trong cơ cấu kinh tế của huyện.
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
- Dân số, lao động, việc làm năm 2014
Toàn huyện đến nay có 155.084 người (Theo số liệu thống kê năm 2014). Hộ gia
đình cá nhân sử dụng đất: 33.253 hộ, tổ chức sử dụng đất đóng trên địa bàn: 46 đơn vị.
Năm 2014 tổng số người trong độ tuổi lao động của huyện là: 76.450 người, lao
động nông nghiệp là 48.580 người chiếm 63%, lao động phi nông nghiệp là 30.216
người chiếm 37%.
Có 28 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc ít người chiếm khỏang
36%. Trong những năm qua tình hình di dân tự do từ các tỉnh phía bắc, miền trung và
miền tây nam bộ đến Di Linh định cư và làm ăn sinh sống ngày càng đông, làm cho
dân số tăng nhanh không có định hướng, không quy họach. Có nhiều vấn đề nổi cộm
như tình hình sang nhượng đất đai, chuyển mục đích sử dụng.
Giao Thông
Di Linh nằm trên hai trục giao thông chính, quốc lộ 20 chạy từ tây sang đông dài
40km là trục giao thông huyết mạch nối Di Linh với Bảo Lộc và Đà Lạt. Quốc lộ 28
chạy từ bắc xuống nam dài 91 km nối Di Linh với Bình Thuận, Phan Thiết và Gia
Nghĩa tỉnh Đăk Nông. Di Linh hiện nay có khoảng 600km đường bộ trong đó quốc lộ
được tiến hành bằng sự phối hợp nhiều biện pháp, nhiều lĩnh vực, được triển khai thực
hiện có hiệu quả, cấp thuốc, khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc, các đối
tượng chính sách, xã hội. Chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao lên cả hai tuyến
huyện và cơ sở, đã tạo khả năng tốt hơn cho việc thực hiện nhiệm vụ y tế bảo vệ sức
khỏe trên địa bàn huyện.
-
Khó khăn tồn tại chủ yếu của lĩnh vực y tế là cơ sở vật chất, thiết bị khám phá
chữa bệnh còn nhiều thiếu thốn thất lạc hậu, chất lượng khám chữa bệnh, hiệu quả
hoạt động của mạng lưới cán bộ y tế cơ sở, công tác quản lý nhà nước về hoạt động y
tế trên địa bàn huyện còn nhiều điểm chưa khắc phục được.
Hạn chế trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở huyện Di Linh là chậm và
chưa đồng bộ, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, chất lượng
công trình chưa cao, nhất là tuyến giao thông quan trọng, hiệu quả phát huy các công
trình thủy lợi còn hạn chế.
Chương 2 : Đặc điểm tài nguyên đất đai
Huyện Di linh với tổng diện tích tự nhiên là : 158.393,92 ha với 5 nhóm đất là đất
phù sa, đất đỏ , đất xám, đất đen và đất chuyển đổi mới.
a. Nhóm đất phù sa (P, Pg)
Trên địa bàn huyện Di Linh có 8882,010 ha đất phù sa chiếm 0,55% diện tích tự nhiên
gồm 1 đơn vị đất đó là phù sa ngòi suối (Ps) Nhóm đất này được phân dọc sông Đa Dâng,
thuộc các xã Gia hiệp, Đinh Trang Thượng, Đinh Lạc và Tân Thượng .Độ dốc trung bình
từ 0 – 3 độ , tầng dày trên 100 cm. Hiện diện tích này được sử dụng trồng lúa nước, màu
mùa mưa một số khu vực thường ngập nước nên sản xuất không ổn định.
b. Nhóm đất đỏ (Fd)
Có 4.088,66 ha chiếm 2,58 % diện tích tự nhiên của huyện Di Linh, nhóm đất
Bảng 2.1 Thống kê loại đất trên địa bàn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Tên loại đất
Ký hiệu
Diện tích
Tổng diện tích tự nhiên = 158393.92ha
Hécta
%
Đất phù sa
So1
882.010
0,55
Đất gley
So2
0
0
Đất đỏ
So3
4088.660
2.58
Đất xám
So4
103464.420
65.32
Đất mới biến đổi
So5
277.810
0.18
Đất đen
So6
11381.29
7.47
15-20
Sl4
30671.28
19.36
20-25
Sl5
18344.89
11.58
>25
Sl6
87796.99
55.43
Bảng 2.2 Thống kê diện tích đất theo độ dốc trên địa bàn huyện di Linh, tỉnh Lâm
Đồng
Bảng 2.3 Thống kê diện tích đất phân loại theo tầng dày trên địa bàn huyện DI
Linh, tỉnh Lâm Đồng
Tầng dày( cm)
Ký hiệu
< 30
30-50
50-70
70-100
>100
STT
Khả năng tưới
Ký hiệu
1
2
3
Có tưới
Tưới bổ sung
Không tưới
Ir1
Ir2
Ir3
Tổng
Diện tích
Hecta
%
14764,77 9,32
17479,98 11,04
126149,1 79,64
7
158393,92 100
Nguồn nước mặt ở Di Linh khá phong phú và phân bố tương đối đều thuận tiện cho
phải được xác định rõ. Các đơn vị bản đồ đất đai phải được vẽ lên bản đồ, nếu chúng
không thể hiện được lên bản đồ thì cũng phải được mô tả chi tiết.
- Các đơn vị bản đồ đất đai phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại hình sử dụng đất sẽ
được đề xuất lựa chọn.
- Các đơn vị bản đồ đất đai phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những đặc
điểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng các kỹ thuật giải đoán ảnh
máy bay, ảnh viễn thám.
- Các đặc tính và tính chất của các đơn vị bản đồ đất đai phải là đặc tính và tính chất
khá ổn định của đất, nước, khí hậu không có sự thay đổi nhanh chóng làm ảnh hưởng
đến sự thay đổi trong thực hành quản lý. Vì chúng sẽ là các nhu cầu sử dụng đất thích
hợp cho các loại hình sử dụng đất trong đánh giá.
Như đã nói ở trên, các đơn vị bản đồ đất đai với các đặc tính và tính chất riêng biệt
có liên quan đặc biệt đến các điều kiện sinh thái và môi trường tự nhiên của mỗi
vùng. Vì vậy, trước khi tiến hành xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (LUM) cần phải thu
thập các tài liệu về môi trường, sinh thái, nguồn tài nguyên đất và khả năng sản xuất
của vùng nghiên cứu. Các tài liệu này hoặc đã và đang được các cơ quan nghiên cứu,
điều tra hoàn thiện hoặc chưa hoàn thiện, đòi hỏi các dự án đánh giá đất đai phải tiếp
tục thực hiện. Chúng là dữ liệu thông tin và số liệu kỹ thuật quan trọng để xác định
các chỉ tiêu chất lượng của đơn vị bản đồ đất đai (LMU) cũng như các chỉ tiêu phân
cấp khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai. Đối với bản đồ đơn vị đất đai huyện Di Linh,
tỉnh Lâm Đông được tổng hợp, chồng xếp của bản đồ đất và các bản đồ đơn tính chỉ
tiêu phân cấp như về độ dốc, tầng dày và khả năng tưới.
Nguyên tắc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là chồng xếp các lớp thông tin và các đặc
trưng tự nhiên quyết định chất lượng đất đai. Bao gồm các bước sau:
Bước 1: Khảo sát, thu thập các tư liệu (bản đồ), dữ liệu của vùng nghiên cứu
Để đánh giá đất đai (Land Evaluation - LE) phục vụ cho nông nghiệp, lâm nghiệp,
thủy sản, chăn nuôi cần thiết phải điều tra, khảo sát và thu thập các thông tin sau:
1) Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên
- Thông tin về đất: Bản đồ đất, báo cáo chú giải bản đồ đất, số liệu thống kê diện tích
các loại đất và số liệu phân tích lý hóa học đất…
tin trước trong trường hợp các lớp thông tin gần trùng nhau.
Kỹ thuật chồng xếp được thực hiện qua hai phương pháp:
- Phương pháp thủ công, chồng xếp theo thứ tự từng lớp thông tin
- Sử dụng kỹ thuật hệ thống thông tin địa lý (Geographical Information System - GIS)
Cụ thể để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng ta
chồng xếp lần lượt các bản đồ : lấy bản đồ đất nền tảng chồng lần lượt các bản đồ về
độ dốc, tầng dày và khả năng tưới.
Theo quy định, với các bản đồ đơn vị đất đai cấp huyện được xây dựng theo tỷ lệ :
• Tỷ lệ1/25000 với các huyện có diện tích tự nhiên dưới 100000 ha
• Tỷ lệ 1/50000 với các huyện diện tích tự nhiên trên 100000 ha
Huyện Di Linh có tổng diện tích tự nhiên là 158393,92 ha nên ta thành lập bản đồ đơn vị
đất đai của huyện Di Linh ở tỷ lệ 1/50000