BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
TP. HỒ CHÍ MINH”
SVTH
:
NGÔ THỊ NGỌC THƠ
MSSV
:
07124113
LỚP
:
DH07QL
KHÓA
UBND HUYỆN BÌNH CHÁNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÒNG TÀI NGUYÊN
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
VÀ MÔI TRƯỜNG
Bình Chánh, ngày 30 tháng 06 năm 2011
GIẤY XÁC NHẬN THỰC TẬP
Kính gửi: Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
Sinh viên: Ngô Thị Ngọc Thơ – Lớp DH07QL, thuộc khoa Quản Lý Đất Đai và
Bất Động Sản, trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh đã đến phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Bình Chánh thực tập từ ngày 01/04/2011 đến ngày 30/06/2011.
Đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn
huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh”
Trong quá trình thực tập, sinh viên Ngô Thị Ngọc Thơ, đã hoàn thành tốt công
tác được phân công. Đạo đức phẩm chất tốt, tác phong giản dị khiêm tốn, chấp hành
tốt nội quy, quy chế của cơ quan, có tinh thần tự giác trong công việc, cố gắng tìm tòi
thu thập số liệu tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các
anh chị cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường trong công tác quản lý về đất đai.
Nay phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh xác nhận để tạo điều
kiện cho sinh viên Ngô Thị Ngọc Thơ hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp
TRƯỞNG PHÒNG
LỜI CẢM ƠN
Lâm Tp. Hồ Chí Minh.
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia là yếu tố cấu thành nên
giang sơn đất nước. Đất đai đóng vai trò là một nguồn lực, đồng thời là một yếu tố đầu
vào không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế của đất nước. Tuy vậy quỹ đất đai lại
có hạn, do đó việc sử dụng một cách tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên này vào
việc phát triển kinh tế của đất nước có ý nghĩa rất quan trọng.
Bình Chánh là huyện nằm ở ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh được
thành lập theo NĐ 103/2003/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ. Với lợi thế vị trí
địa lý, điều kiện tự nhiên, Bình Chánh đã và đang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh
tế xã hội. Mặt khác sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụnông nghiệp đã gây áp lực đối với đất đai. Nên công tác quản lý và sử dụng đất đai
trên địa bàn với 13 nội dung, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước nắm chắc, quản lý chặt
chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và
khai thác tiềm năng từ đất mang lại.
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy huyện Bình Chánh năm 2010 có diện tích tự
nhiên là 25.255,99 ha. Trong đó đất nông nhiệp là 17.242,99 ha( chiếm 68,28% diện
tích đất tự nhiên), đất phi nông nghiệp là 7.892,42 ha( chiếm 31,25% diện tích đất tự
nhiên), đất chưa sử dụng là 119,88 ha( chiếm 0,47% diện tích tự nhiên).
Trong năm 2010, tổng số GCN cấp lần đầu là 2.698 với diện tích là 685,13 ha,
có 17.640 hồ sơ đăng kí đất đai, công tác kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện
trạng sử dụng đất năm 2010 hoàn thành, tổng diện tích giao đất, cho thuê đất cho đối
tượng sử dụng là 22.229,90 ha, diện tích đất thu hồi là 343,68 ha, chuyển mục đích sử
dụng đất có 1.515 trường hợp với diện tích là 658.155,9 ha. Huyện đã giải quyết được
7 hồ sơ tranh chấp về đất đai, 172/285 đơn khiếu nại, công tác thanh tra việc chấp hành
các chế độ thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai được tổ chức thường xuyên, đúng thẩm
quyền, phát huy kịp thời những ưu điểm về xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm
trên lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.
Từ kết quả nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những khuyết
điểm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất. Đồng thời kiến nghị cấp trên với các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền sửa chữa, điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính
sách, cơ chế quản lý Nhà nước về đất đai đã không còn phù hợp.
II.2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2010.....................................................................32
II.2.2 Sử dụng đất theo đối tượng sử dụng..........................................................33
II.2.3 Theo mục đích sử dụng đất.........................................................................34
iii
II.2.4 Tình hình biến động đất đai huyện Bình Chánh.......................................38
II.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
BÌNH CHÁNH…………………………………………………………………….40
II.3.1 Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực
hiện các văn bản đó hành chính............................................................................40
II.3.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính.................................................................................................41
II.3.3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.....................................42
II.3.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất..................................................43
II.3.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất.........................................................................................................................47
II.3.6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý sổ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất........................................................................................49
II.3.7 Thống kê, kiểm kê đất.................................................................................55
II.3.8 Quản lý tài chính về đất đai.........................................................................56
II.3.9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản................................................................................................................57
II.3.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất..........................................................................................................................57
II.3.11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai.............................................................57
II.3.12 Giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
Bảng 2.14: Phân bổ diện tích trong kỳ sử dụng đất
Bảng 2.15: Kết quả thực hiện việc phân bổ diện tích các loại đất trong kỳ kế
hoạch
Bảng 2.16: Kết quả công tác lập sổ bộ địa chính theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB
Bảng 2.17: Tổng hợp kết quả ĐKĐĐ của các xã trên địa bàn huyện Bình
Chánh từ năm 2006
Bảng 2.18: Kết quả cấp GCNQSDĐ lần đầu từ năm 2006 – 2010
Bảng 2.19: Thống kê số liệu cấp Giấy chứng nhận theo Nghị định số
88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ tính đến ngày 31
tháng 8 năm 2010
Bảng 2.20: Các nguồn thu tài chính về đất đai qua các năm
Bảng 2.21:Kết quả tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo và tranh chấp đất
đai từ 1/7/2004 đến ngày 30/9/2010
Bảng 2.22: Tổng hợp kết quả giải quyết TCĐĐ của các xã trên địa bàn huyện
Bình Chánh từ năm 2005
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Bình Chánh năm 2010
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Bình Chánh năm 2010
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Bình Chánh năm 2010
v
CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT
TNMT
:
Tài nguyên và Môi trường
CN-TTCN
:
Công ngiệp-Tiểu thủ công nghiệp
TM-DV
:
Thương mại-Dịch vụ
MNCD
:
Mặt nước chuyên dùng
HTSDĐ
:
Hiện trạng sử dụng đất
BĐĐC
:
Bản đồ địa chính
vi
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện tự nhiên không thể thiếu và
không có gì để thay thế của các ngành kinh tế quốc dân, của các ngành văn hóa, xã
hội, an ninh quốc phòng và việc định cư cho cộng đồng dân cư.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động. Trong quá trình lao động,
con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con
người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao
động của con người. Do đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn nên vấn đề hàng đầu
của mỗi quốc gia hiện nay là cần có một chiến lược quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn
tài nguyên này một cách có hiệu quả và hợp lý nhất.
Vai trò của công tác quản lý đất đai ngày càng trở nên quan trọng, nhất là trong
điều kiện hiện nay đất nước ngày càng phát triển, hội nhập, hợp tác kinh tế, công tác
này được Nhà nước giao nhiệm vụ, trọng trách nhằm quản lý tốt mang lại hiệu quả về
mặt kinh tế, tạo sự ổn định về mặt xã hội. Trong những năm gần đây công tác này càng
được chú trọng, xác định là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước gắn liền với hiệu quả quản lý sử dụng tài nguyên đất Quốc gia.
Bình Chánh là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, là vùng
kinh tế động lực thúc đẩy sự tăng trưởng chung của Thành phố, khu vực được xem là
có tiềm năng lớn như: đất đai màu mỡ, nguồn nhân lực đông và có tay nghề cao.Trong
những năm gần đây Bình Chánh đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư cả
trong và ngoài huyện.Từ một huyện chuyên làm nông nghiệp trồng lúa là chính, năm
2000 trở đi tốc độ đô thị hóa trong huyện diễn ra khá nhanh cơ cấu kinh tế của huyện
Công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Chánh,Thành phố Hồ
Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian:đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Bình Chánh
Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: công tác quản lý và sử dụng đất từ 2006-2010
Trang 2
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
PHẦN I: TỔNG QUAN
I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.1.1 Cơ sở khoa học
I.1.1.1 Các khái niệm
Đất đai
Đất đai là một vùng không gian được xác định, trong đó bao gồm đặc trưng về
thổ quyển trong vùng không gian đó, đặc trưng về thạch quyển, thủy quyển, khí quyển,
sinh quyển,…trong vùng không gian đó. Đất đai còn đặc trưng cho yếu tố quản trị,
hoạt động của con người từ quá khứ đến hiện tại và kỳ vọng cho tương lai.
Quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất
đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại
quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng
đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử
dụng đất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Thống kê đất đai
Là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về hiện trạng sử dụng
đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê. Thống
kê được tiến hành một năm một lần.
Kiểm kê đất đai
Là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về
hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động giữa hai lần kiểm
kê. Kiểm kê đất đai được tiến hành năm năm một lần.
Tranh chấp đất đai
Là sự tranh giành về quyền quản lý, quyền sử dụng trên một khu đất cụ thể mà
mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó là đúng pháp luật. Vì vậy họ không
thể cùng nhau tự giải quyết mà yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Thanh tra đất đai
Là việc xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên định kỳ nhằm rút ra những
nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với cơ quan nhà nước nhằm khắc phục những
nhược điểm, thiếu soát, phát huy ưu điềm góp phần nâm cao hiệu quả quản lý nhà
nước về đất đai.
Quy hoạch sử dụng đất
Là hệ thống các biện pháp của nhà nước về tổ chức, quản lý nhằm mục đích sử
dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, bảo vệ
môi trường để phát triển bền vững trên cơ sở phân phối quỹ đất vào các mục đích phát
triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng theo các đơn vị hành chính các cấp, các vùng
và cả nước.
Kế hoạch sử dụng đất
Là sự chi tiết hóa các nội dung của quy hoạch, thời gian thực hiện các phương
án quy hoạch.
I.1.1.2 Một số vấn đề về quản lý nhà nước về đất đai
các văn bản đó hành chính.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính.
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý sổ địa chính, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
- Thống kê, kiểm kê đất.
- Quản lý tài chính về đất đai
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
lý các vi phạm pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong
việc quản lý và sử dụng đất đai.
- Quản lý các dịch vụ công về đất đai.
Trang 5
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
I.1.2 Cơ sở thực tiễn
Sơ lược về công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta
I.1.2.1 Trong thời kỳ đầu lập nước
Khi người Việt cổ cùng sống chung trong một công xã nguyên thuỷ thì đất đai
Việt Luật lệ” (còn gọi là Bộ luật Gia Long).Trong bộ luật này có 14 điều tập trung bảo
vệ chế độ sở hữu ruộng đất, đảm bảo việc thu thuế.
Trang 6
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
I.1.2.3 Trong thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã lo ngay đến vấn đề ruộng đất.
Thực dân Pháp chia đất nước ta thành 3 kỳ. Mỗi kỳ thực dân Pháp thực hiện
một chế độ cai trị khác nhau. Mỗi làng xã có một chưởng bạ phụ trách điền địa.
- Nam kỳ là chế độ quản thủ địa bộ
- Bắc kỳ và Trung kỳ là chế độ quản thủ địa chính.
Pháp cũng đã tiến hành xây dựng 3 loại bản đồ: bản đồ bao đạc, bản đồ giải
thửa và phác hoạ giải thửa. Các loại bản đồ thời kỳ này được lập với nhiều tỷ lệ khác
nhau từ 1/200 đến 1/10.000
Chế độ điền thổ tại Nam kỳ
Pháp bắt đầu thành lập Sở Địa chính Sài Gòn vào năm 1867, đặt dưới quyền
một viên Thanh tra hành chính người Pháp.
Đến năm 1896, Sở Địa chính đặt dưới quyền trực tiếp của Thống đốc Nam kỳ,
từ đó tiến hành lập bản đồ giải thửa.
Đến năm 1930, đã đo đạc và lập xong bản đồ giải thửa cho hầu hết các tỉnh phía
Tây và phía Nam của Nam kỳ.
Chế độ quản thủ địa bộ tại Nam kỳ như sau:
- Chế độ quản thủ địa bộ theo Nghị định ngày 06/05/1891 : Tỉnh trưởng đảm
nhiệm việc quản thủ địa bộ cho người Việt Nam trong tỉnh, đồng thời lo các công việc
sau: điều tra quyền sở hữu ruộng đất, xếp hạng ruộng đất, đăng ký theo số liệu địa
kỳ), tài liệu gồm: một bộ bản đồ giải thửa chính xác, sổ địa chính, sổ điền chủ, sổ mục
lục các thửa và mục lục điền chủ,sổ khai báo
I.1.2.4 Chế độ miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Mỹ- Ngụy (1954-1975)
Miền Nam trong thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất khác nhau: chính
sách ruộng đất của chính quyền cách mạng và chính sách ruộng đất của Mỹ - Nguỵ.
Chính sách ruộng đất của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam
Việt Nam mà nội dung xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc là
ruộng đất về tay người cày, nhưng do chiến tranh kéo dài và ác liệt chính sách này chỉ
thực hiện được ở vùng giải phóng.
Từ năm 1954- 1975, chính quyền Mỹ - Nguỵ chia miền Nam nước ta thành 3
miền: nam phần, trung phần và cao nguyên trung phần. Tổ chức và hoạt động quản thủ
điền địa từ năm 1954 đến năm 1975 đã thay đổi theo 3 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1954-1955: là giai đoạn thiết lập Nha Địa chính tại các miền: Nam
phần, Trung phần, Cao nguyên
Giai đoạn 1956-1959: Chúng thành lập Nha Tổng giám đốc Địa chính và địa
hình, ở các tỉnh có Ty Địa chính; chúng còn ban hành "Quốc sách về điền địa và nông
nghiệp".
Giai đoạn 1960-1975: Chúng thành lập Tổng nha Điền địa với 11 nhiệm vụ,
trong đó có 3 nhiệm vụ chính sau: xây dựng các tài liệu được nghiên cứu, tổ chức điều
hành tất cả các việc của công tác địa chính, quản thủ tài liệu, khai thác tài liệu để tiến
hành cải cách điền địa.
I.1.2.5 Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn chưa có Luật đất
đai ( từ 1945 đến 1987)
Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
(1945-1975). Trong đó: từ năm 1945-1954, nước ta thực hiện Cách mạng dân tộc dân
chủ; từ năm 1954-1975 nước ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam. Đặc trưng cơ bản của chính sách
ruộng đất trong thời kỳ này là: khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản
xuất nông nghiệp; tịch thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia
cho dân nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân.
đất đai 1987 ( từ 08-01-1988 trên 14-10-1993)
Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu kinh tế kế hoạch, đến năm
1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xoá bỏ bao
cấp, chuyển sang nền kinh tế hạch toán kinh doanh. Trước tình hình đó, ngày 29 tháng
12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật
đất đai đầu tiên - Luật Đất đai 1987.
Luật Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như ở Quyết
định số 201/CP năm 1980, nhưng có hoàn thiện hơn.
Theo tinh thần của Luật Đất đai 1987, để tăng cường công tác quản lý đất đai,
ngày 14 tháng 7 năm 1989 Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành
Quyết định số 201 QĐ/ĐKTK về việc ban hành quy định cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Trong bản quy định ban hành kèm theo Quyết định này quy định về điều
kiện, đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trang 9
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Ngày 6 tháng 11 năm 1991 , Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số
364-CT về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính
tỉnh, huyện, xã. Thực hiện Chỉ thị này, các địa phương đã tiến hành xác định, cắm mốc
địa giới hành chính và lập hồ sơ địa giới hành chính.
Ngày 12 tháng 5 năm 1993, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước đã
ban hành Quyết định số 77-QĐ- CT quy định kỹ thuật thành lập và quản lý hồ sơ địa
giới hành chính các cấp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, Ban
dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Trang 10
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Do những nhu cầu mới của đất nước và sự phát triển của xã hội,tại Kỳ họp thứ
4 Quốc hội khóa XI xem xét nhất trí thông qua và Quyết định Luật đất đai có hiệu lực
từ ngày 1/7/2004. Tại Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội khóa
XI kỳ hộp thứ nhất đã quy định danh sách các bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ,
trong đó xác lập thành lập mới Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Vì Luật đất đai 2003 chỉ quy định, những nguyên tắc chung nhất nên để đảm
bảo việc thi hành Luật đất đai có hiệu quả, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
hướng dẫn để cụ thể các điều luật trong Luật đất đai 2003 quy định. Từ khi Luật Đất
đai 2003 có hiệu lực, công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày càng được hoàn thiện,
từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
I.1.3 Cơ sở pháp lý
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
- Luật đất đai 2003 ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai
năm 2003.
- Nghị định 182/ 2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt hành
chính trong lĩnh vực đất đai.
- Nghị định 69/2009/NĐ -CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hổ trợ và tái định cư.
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/ 2007 của Chính phủ về việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định
phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư số 09/2007/TT- BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ Tài nguyên Môi
trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng
đất.
- Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất.
- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ Tài nguyên Môi
trường về việc ban hành quyết định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Quyết định số 07/2007/QĐ-BTNMT ngày 27/02/2007 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc ban hành định mức kinh tế - kĩ thuật đăng kí quyền sử dụng đất,
lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Chỉ thị số 364/TTg của thủ tướng Chính phủ về quản lý địa giới hành chính.
I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Dưới thời nhà Nguyễn, Bình Chánh thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh
Gia Định. Sau khi Pháp xâm lược và cai trị, đã thay đổi cách thức cai trị và phân ranh
hành chánh, theo đó thì Bình Chánh lại thuộc quận Trung Quận (về phía chính quyền
cách mạng thì gọi là huyện Trung Huyện) tỉnh Chợ Lớn. Dưới thời nhà Nguyễn, Bình
Chánh thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Sau khi Pháp xâm lược
và cai trị, đã thay đổi cách thức cai trị và phân ranh hành chánh, theo đó thì Bình
Chánh lại thuộc quận Trung Quận (về phía chính quyền cách mạng thì gọi là huyện
Trung Huyện) tỉnh Chợ Lớn. Đến năm 1957 huyện Bình Chánh được thành lập trên cơ
sở tách ra từ huyện Trung Huyện; và đến năm 1960 do yêu cầu của cuộc kháng chiến
Bình Chánh lại tách ra Nam, Bắc Bình Chánh; Nam gọi là Bình Chánh - Nhà Bè, Bắc
nhập với Tân Bình gọi là Bình Tân. Đến năm 1972, tên gọi huyện Bình Chánh được
phục hồi trên cơ sở hợp nhất Nam, Bắc Bình Chánh. Đến tháng 12 năm 2003, do sự
hội của huyện.
- Đánh giá tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện năm 2010 và biến động đất
đai giai đoạn 2005-2010.
- Đánh giá tình hình quản lý đất đai theo 13 nội dung của Luật Đất đai trên địa
bàn huyện.
- Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác quản lý và sử dụng đất
của huyện Bình Chánh.
- Đề xuất những giải pháp quản lý và sử dụng đất trong tương lai.
I.3.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Thống kê diện tích các loại đất, thống kê các số liệu,
tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tổng hợp các số liệu vào các
bảng biểu để minh họa.
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở thu thập các số liệu, tài liệu tiến hành hệ
thống tổng hợp để lựa chọn các thông tin cần thiết.
- Phương pháp so sánh: So sánh đất đai qua các năm để đánh giá được tình
hình sử dụng đất đai cũng như tình hình quản lý biến động đất đai trên địa bàn.
Trang 13
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa có chọn lọc những văn bản thể hiện chủ trương
của Đảng và Nhà nước trong công tác quản lý đất đai, kế thừa các số liệu, tài liệu,
chuyên đề...
- Phương pháp phân tích: Phân tích vấn đề trước khi đưa ra quyết định.
- Phương pháp chuyên gia: Tham gia, trao đổi ý kiến với các nhà chuyên môn
-
Phía Nam giáp huyện Bến Lức và huyện Cần Giuộc tỉnh Long An.
-
Phía Tây giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An.
Với vị trí là cửa ngõ phía Tây vào nội thành Tp.Hồ Chí Minh, nối liền với các
trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, đây là huyết mạch giao thông
chính từ các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đến các tỉnh vùng trọng điểm kinh tế phía
Nam và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Với các tuyến đường liên tỉnh lộ 10 nối liền với
khu công nghiệp Đức Hòa ( Long An); đường Nguyễn Văn Linh nối từ quốc lộ 1A đến
khu công nghiệp Nhà Bè và khu chế xuất Tân Thuận quận 7, vượt sông Sài Gòn đến
Quận 2 và đi Đồng Nai, quốc lộ 50 nối huyện Bình Chánh với các huyện Cần Giuộc,
Cần Đước (Long An). Bình Chánh trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, giao thương
đường bộ giữa vùng đồng bằng Sông Cửu Long với vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ
và các khu công nghiệp trọng điểm.
Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng còn chậm phát triển đã ảnh hưởng đến quá
trình phát triển KT- XH của huyện.
Trang 15
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ vị trí huyện Bình Chánh