Đồ án tốt nghiệp các cách giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến nay, các quan hệ
thương mại quốc tế giữa thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài được thiết lập
ngày càng nhiều và tỷ lệ thuận với nó là số lượng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tăng lên
nhanh chóng. Tuy nhiên, một thực tế là còn khá nhiều thương nhân trong nước tỏ ra lúng túng
khi tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, điều này xuất phát từ
việc chưa nắm và hiểu rõ các vấn đề liên quan đến luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Chính vì vậy, “Luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” sẽ là một
trong những vấn đề mà doanh nhân phải tìm hiểu.Trong quá trình đàm phán ký hết hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, các chủ thể có quyền tự do lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh các
quan hệ trong hợp đồng.Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc chọn luật
để điều chỉnh phù hợp với ý chí của mình khi có tranh chấp xảy ra
Từ thực tế đó, em xin chọn đề tài “Các cách giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế”. Đề tài gồm những đặc điểm chính sau:
>Đối tượng nghiên cứu: các cáchgiải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế
>Mục tiêu: điều chỉnh các bất đồng xung đột dựa trên những căn cứ và bằng những
phương thức khác nhau do các bên lựa chọn
Những nội dung chính được đề cập đến trong đề tài gồm:
Phần I.Cơ sở lý luận
Phần II.Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
Phần III.Các cách giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Em thực hiện xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Hợp Toàn đã tận tình hướng
dẫn em thực hiện đề tài này.

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Trang A– Lớp Luật 48

NguyÔn Thu Trang A


+hiệp định về quan hệ thương mại với Hoa Kỳ (ngày 16/10/2001)
+hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU
+và gần 100 hiệp định thương mại song phương mà Việt Nam đã ký với các nước
khác.

NguyÔn Thu Trang A


-Tập quán thương mại (lex mercatoria) là các thói quen thương mại được hình thành từ lâu
đời, có nội dung rõ ràng, được áp dụng liên tục trong thương mại quốc tế, được chấp nhận có
giá trị pháp lý bắt buộc.
Thông thường, tập quán, tập quán thương mại quốc tế trở thành luật áp dụng chung đối
với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các bên lựa chọn.
Một trong những tập quán thông dụng trong thương mại quốc tế hiện nay là các điều kiện
thương mại quốc tế - Incoterms (International Commercial Terms) do Phòng thương mại quốc
tế - ICC ban hành năm 1936, được sửa đổi bổ sung năm 1953, 1967, 1980, 1990 và gần đây
nhất là năm 2000; Quy tắc chung về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (UCP 500); Bộ
nguyên tắc của UNIDROIT; Luật mẫu của trọng tài UNCITRAL ban hành năm 1985; Công
ước New York năm 1958…
-Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại là các quy tắc pháp luật hình thành từ thực tiễn xét xử
của Tòa án được gọi là tiền lệ pháp và chủ yếu được áp dụng tại các nước theo hệ thống luật
Anh - Mỹ (Anglo Saxon), tại đây các Tòa án thường sử dụng một hoặc một số phán quyết của
Tòa án đã được công bố để làm khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp tương tự.
Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa của
quốc gia đó. Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
trong các trường hợp sau:
+Khi các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng
về việc chọn luật của một bên hoặc bên thứ ba để điều chỉnh hợp đồng
+Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy
định trong các điều ước quốc tế liên quan, luật quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng

Điều 3 BLHH quy định về pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng hàng hải trong thương
mại.
Điều 4 LHKDD quy định tổ chức, cá nhân Việt Nam có thể thỏa thuận với tổ chức, cá nhân
nước ngoài về việc áp dụng pháp luật nước ngoài khi ký kết hợp đồng vận chuyển, dịch vụ
hàng không với điều kiện không vi phạm điều cấm của pháp luật và phong tục tập quán Việt
Nam.
Điều 5 quy định về việc xác định pháp luật áp dụng khi có xung đột pháp luật.
Điều 7 PLTTTM quy định các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại có quyền tự do thỏa
thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng và cơ quan trọng tài sẽ áp dụng pháp
luật do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Tuy nhiên, quyền tự
do lựa chọn luật của các bên bị hạn chế.
Ngoài ra, khoản 5 Điều 49 của PLTTTM còn quy định ngoài quyền tự do lựa chọn và áp
dụng pháp luật nước ngoài, các bên còn có quyền thỏa thuận chọn tập quán thương mại quốc
tế để điều chỉnh quan hệ tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài.
2.KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
2.1.Khái niệm:
-Hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán
ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau,
theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu(Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một
bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên mua có
nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
-Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ
sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ
giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận
thanh toán; và Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu, nhận hàng và quyền
sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
-Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký kết hợp đồng đều
có nghĩa vụ đối với nhau. Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên
nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu
-Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa vụ thì cũng có

nghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp) và đã đăng ký mã số
kinh
doanh
XNK
tại
cục
hải
Quan
tỉnh,
thành
phố.
-Doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu những mặt hàng cấm xuất nhập khẩu.
Ðối với mặt hàng được phép NK, XK có điều kiện, họ phải xin được hạn ngạch (trường hợp
hàng thuộc nhà nước quản lý bằng hạn ngạch) hoặc được giâý phép (trường hợp hàng thuộc
diện
nhà
nước
quản

bằng
giấy
phép
kinh
doanh
XNK).
(b): đối tượng hợp đồng phải là hàng được phép xuất nhập khẩu theo các văn bản pháp luật
hiện hành.

NguyÔn Thu Trang A


kiện mới trở thành một chào hàng.
+Một là đề nghị đó phải được gửi tới một hoặc nhiều người cụ thể (xác định).
+ Hai là đề nghị đó phải đủ chính xác, tức là phải nêu rõ tên hàng và ấn định rõ ràng
hoặc ngầm định hay quy định phương pháp xác định số lượng và giá cả.
+Ba là phải chỉ rõ ý chí của người đề nghị muốn tự ràng buộc trách nhiệm trong trường
hợp có chấp nhận.
+Trường hợp một đề nghị không thoả mãn điều kiện thứ nhất, nhưng người đề nghị nêu
rõ đó là một chào hàng thì đề nghị đó cũng được coi là một chào hàng.

NguyÔn Thu Trang A


Trong ba điều kiện trên thì điều kiện thứ hai là quan trọng nhất vì nó xác định tính chất của
giao dịch là giao dịch mua bán hàng hoá. Để thể hiện một giao dịch mua bán thì nội dung của
giao dịch phải xác định rõ đối tượng hàng hoá (tên hàng và số lượng) và phải xác định giá cả
để phân biệt với giao dịch khác (tặng, cho…).
Mặc dù vậy, CISG lại quy định nếu hợp đồng được ký kết hợp pháp nhưng trong hợp đồng
không ấn định rõ ràng hoặc ngầm định hay quy định phương pháp xác định giá cả thì giá cả
trong hợp đồng được coi là giá trên thị trường trong những điều kiện tương tự vào thời điểm
ký kết hợp đồng (Điều 55). Điều này khiến người ta hiểu có sự mâu thuẫn là nếu coi điều
khoản giá cả là điều khoản bắt buộc phải có trong chào hàng thì hợp đồng không xác định giá
cả sẽ không được coi là “ký kết hợp pháp” và do đó quy định này trở nên vô nghĩa. Nhưng
trong thực tiễn thương mại quốc tế, một hợp đồng không thể hiện rõ một trong ba nội dung
trên, nhưng dựa vào những thói quen được thiết lập giữa các bên mà có thể xác định được ý
định của các bên về các nội dung đó thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực.
Theo các nguyên tắc giải thích hợp đồng của Unidroit thì một hợp đồng phải được giải thích
theo cách hiểu, ý định thông thường của các bên, sau đó là theo cách hiểu của người bình
thường có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc theo ý định của bên đó nếu bên kia biết hoặc
không thể không biết.
Thực tế, khi các bên đã thiết lập những thói quen với nhau thì những nội dung được các bên

mâu thuẫn nhau?
Rõ ràng một thông báo chấp nhận tới nơi người chào hàng trước khi chào hàng có hiệu lực
thì chưa thể coi là một chấp nhận (chào hàng). Nhưng một chấp nhận như vậy sẽ trở nên có
hiệu lực khi chào hàng bắt đầu có hiệu lực, vì nó đảm bảo trong thời hạn hiệu lực của chào
hàng thì chấp nhận đó đã tới nơi người chào hàng. Tuy vậy, trong trường hợp này thì chấp
nhận chào hàng cũng không phải và không thể có hiệu lực kể từ khi nó tới nơi người chào
hàng.
Chính vì vậy, Điều 18 CISG quy định “chấp nhận chào hàng có hiệu lực kể từ khi nó tới nơi
người chào hàng” – mà nếu chỉ dừng ở đây thì rõ ràng mâu thuẫn với Điều 20 – nhưng cũng
điều này còn quy định thêm rằng: “chấp nhận chào hàng không phát sinh hiệu lực nếu nó
không được gửi tới người chào hàng trong thời hạn quy định trong chào hàng hoặc, nếu không
có thời hạn đó, thì trong khoảng thời gian hợp lý”. Như vậy thời điểm chấp nhận chào hàng
bắt đầu có hiệu lực không hoàn toàn là thời điểm nó tới nơi người chào hàng mà là thời điểm
khi cả hai điều kiện được đáp ứng: một là nó đã tới nơi người chào hàng và hai là thời hạn
hiệu lực của chào hàng vẫn còn.
Nếu như quy định chào hàng có hiệu lực kể từ khi nó được gửi đi thì chưa hẳn có lợi cho bên
được chào hàng vì thời điểm chào hàng bắt đầu có hiệu lực sớm hơn so với thời điểm chào
hàng tới nơi người được chào sẽ rút ngắn hạn chấp nhận chào hàng. Nhưng ngược lại sẽ bất lợi
cho người chào hàng trong trường hợp vì lý do nào đó chào hàng tới nơi người được chào
hàng rất muộn (người chào hàng sẽ không kiểm soát được thời hạn chấp nhận nếu không ấn
định ngày hết hiệu lực). Có lẽ vì lý do này mà thời hạn chấp nhận chào hàng theo CISG (Điều
20) được chia thành hai trường hợp theo phương thức truyền tin như đã đề cập. Thêm nữa một
thời hạn hợp lý được xác định là thời hạn hiệu lực của chào hàng được xác định trên cơ sở căn
cứ vào nhiều tình tiết, trong đó có tốc độ truyền tin của phương tiện truyền tin.Điều đó đảm
bảo được quyền lợi của cả hai bên một cách hợp lý.
-Thời hạn hiệu lực của chào hàng theo Công ước Vienna là khoảng thời gian do người
chào hàng quy định. Trường hợp không có quy định về thời hạn đó thì thời hạn hiệu lực của
chào hàng là một khoảng thời gian hợp lý. Đối với chấp nhận chào hàng thì chỉ cần quy định
về thời điểm bắt đầu có hiệu lực là đủ vì đó chính là thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Thời hạn
hiệu lực của hợp đồng sẽ phụ thuộc vào các điều khoản cụ thể của hợp đồng và việc thực hiện

hiệu lực). Luật Thương mại thì không và không thể quy định như vậy khi đã quy định thời hạn
trách nhiệm của các bên là từ khi chào hàng/chấp nhận chào hàng được gửi đi.
-Về những nội dung cơ bản của chào hàng: Công ước Vienna quy định một thông báo trả
lời tỏ ý chấp nhận chào hàng nhưng có những sửa đổi, bổ sung vẫn được coi là một chấp nhận
chào hàng nếu những sửa đổi, bổ sung đó không làm thay đổi tính chất những điều kiện của
chào hàng (trừ trường hợp người chào hàng ngay lập tức thông báo không đồng ý về những
sửa đổi đó). Những sửa đổi, bổ sung liên quan đến các nội dung (nhưng không giới hạn ở) giá
cả, thanh toán, chất lượng, số lượng của hàng hoá, địa điểm và thời hạn giao hàng, phạm vi
trách nhiệm của một bên đối với bên kia hay việc giải quyết tranh chấp được coi là những sửa
đổi, bổ sung làm thay đổi tính chất các điều khoản của chào hàng.
Với quy định như vậy, tám nội dung trên thường được xem là những nội dung cơ bản (chủ
yếu) của chào hàng hay của hợp đồng. Đó là những nội dung quan trọng liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Nhưng đó không phải là những nội dung bắt buộc
của chào hàng hay hợp đồng, khác với ba nội dung bắt buộc để một đề nghị (thoả mãn hai điều
kiện còn lại) được coi là một chào hàng.
-Về thời điểm ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá: Công ước Vienna quy định hợp đồng
được coi là ký kết từ thời điểm chấp nhận chào hàng tới nơi người chào hàng nhưng không đề
cập đến các hình thức giao kết khác.
Ngoài quy định như Công ước Vienna, Luật Thương mại còn quy định hợp đồng có hiệu lực
kể từ khi các bên có mặt ký vào bản hợp đồng đối với hình thức giao kết này. Theo các
Nguyên tắc của Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế thì hợp đồng có thể được ký kết

NguyÔn Thu Trang A


bằng cách chấp nhận chào hàng hoặc bằng cách khác của các bên miễn là nó thể hiện sự thoả
thuận giữa các bên.
2.2.3.Kết luận:
Một trong những bất cập lớn của các chế định về hợp đồng trong Luật Thương mại hiện hành
là gây ra nhiều hợp đồng vô hiệu trong thực tế, không đáp ứng được mong muốn của các chủ

+các điều khoản thương phẩm (như tên hàng, số lượng, phẩm chất, bao bì);
+các điều khoản tài chính (như giá cả và cơ sở của giá cả, thanh toán, trả tiền hàng,
chứng từ thanh toán);
+các điều khoản vận tải (như: điều kiện giao hàng, thời gian và địa điểm giao hàng);
+các điều khoản pháp lý (như: Luật áp dụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất
khả kháng, trọng tài)
2.3.3.Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế
Việc soạn thảo hợp đồng thương mại yêu cầu khá nhiều kĩ năng. Người soạn thảo phải dự
tính được những rủi ro sẽ xảy ra trong tương lai để có thể điều chỉnh các điều khoản cho phù
hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Vai trò của hợp đồng trong các giao dịch thương mại quốc tế lại
càng quan trọng; phần vì đối tác là những doanh nhân chuyên nghiệp, rất am hiểu luật trong
việc giải quyết tranh chấp; phần vì các hợp đồng quốc tế không được mặc nhiên công nhận là
sẽ được luật Việt Nam điều chỉnh. Từ đó có thể thấy việc làm quen với luật và tập quán quốc
tế là rất cần thiết.
Đã từ lâu, Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế, viết tắt theo Tiếng Pháp là UNIDROIT,
(insitute International pour l`Unification des Droits Privé), một tổ chức quốc tế liên chính phủ
thành lập năm 1929, đặt trụ sở tại Roma, Italia, đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm các quy định
chung để điều chỉnh hợp đồng sao cho có thể thích hợp trong nhiều hệ thống pháp luật của
những nước khác nhau. Năm 1994 UNIDROIT đã cho ra đời cuốn sách (Nguyên tắc Hợp
đồng Thương mại Quốc tế), viết tắt theo tiếng Anh là PICC (Principles of International
Commercial Contracts).Cùng với Công Ước Viên 1980 về Buôn bán Hàng hoá Quốc tế
(CISG), PICC là tài liệu tham khảo được nhắc đến nhiều nhất trong luật thương mại quốc tế ở
châu Âu. Nó đã được dịch và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước đang
phát triển.
Trong hoàn cảnh nước ta, PICC có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho bên Việt Nam
xem xét và bổ sung kịp thời những điểm cần thiết trong các bản hợp đồng thương mại quốc tế
do bên nước ngoài soạn thảo. Ngoài ra, PICC còn có thể được dùng làm sách nghiên cứu về tư
pháp quốc tế và luật dân sự, coi như một ví dụ về các điều khoản của luật hợp đồng. Bản dịch
do T.S. Lê Nết, giảng viên trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thực hiện, sau khi dự lớp tập
huấn hai tháng tại Roma năm 1998 và được sự đồng ý của UNIDROIT.

-Công ước này đã trở thành công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước
quốc tế đa phương về mua bán hàng hoá quốc tế. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có 66 quốc
gia là thành viên Công ước này .Từ khi công ước có hiệu lực (ngày 01/01/1988), đến thời
điểm hiện nay tổng số các bản án, phán quyết đã lên tới hơn 1.600.
-CISG cũng góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy sự phát triển của quan hệ thương mại về
hàng hoá giữa các quốc gia. Việc cùng trở thành thành viên của công ước giúp các quốc gia
xích lại gần nhau hơn trong quan hệ mua bán, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được nhanh chóng và thuận lợi hơn.
+Trong số hàng nghìn án lệ về CISG, đã có một án lệ liên quan đến Việt Nam. Đây là án
lệ về tranh chấp giữa Công ty thương mại Tây Ninh - Tanico (Việt Nam) và DN Ng Nam Bee
(Singapore), được xét xử tại Toà phúc thẩm - TAND Thành phố Hồ Chí Minh, bản án tuyên
ngày 4/5/1996. Khi xét xử vụ việc này, Toà án đã tham chiếu điều 29 và điều 53, điều 64
CISG. Đây là một án lệ về CISG đầu tiên đối với Việt Nam. Án lệ này cho thấy, dù Việt Nam
chưa phải là thành viên công ước, nhưng vẫn có những trường hợp công ước này có thể được
áp dụng ở Việt Nam.
+Câu hỏi được đặt ra là: một khi VN chưa trở thành một quốc gia thành viên của công
ước thì khi nào và trong trường hợp nào, CISG có thể được áp dụng tại VN?
+Vì vậy, để xem xét các trường hợp có thể áp dụng CISG ở Việt Nam, chúng ta cần
nghiên cứu Điều 1 của CISG. Điều 1.1 của CISG quy định: "Công ước này áp dụng cho các
hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau: a.
Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của công ước; b. Khi theo các quy phạm tư
pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của công ước."
+Khi Việt Nam chưa là thành viên của CISG thì không thể áp dụng CISG theo điều
1.1.a nói trên cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà một bên là bên Việt Nam
-Tuy vậy,ở trường hợp thứ hai,CISG sẽ có thể được áp dụng cho các hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế được ký kết giữa một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia là thành
viên và một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia chưa phải là thàng viên của công ước
VD:một hợp đồng mua bán sản phẩm viễn thông được ký kết giữa người bán Singapore
(Singapore đã gia nhập CISG vào ngày 16/02/1995 và có hiệu lực từ ngày 1/3/1996) và người
mua Việt Nam (Việt Nam chưa gia nhập hay phê chuẩn Công ước). Hai bên không lựa chọn

tranh chấp có thể áp dụng phương thức trung gian hoà giải.
+Thứ ba, nếu hoà giải bất thành, khi đó các bên bắt buộc phải áp dụng các phương pháp
mang tính chất bắt buộc cao hơn, đó là đi kiện trước trọng tài và các toà án thương mại.
-Hiện nay, chưa có một toà án quốc tế nào lập ra để chuyên xét xử các tranh chấp phát sinh
trong thương mại quốc tế. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế
mà các bên không quy định rõ thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì nguyên đơn phải
gửi đơn kiện tới các toà án có thẩm quyển tại nước bị đơn, nước nguyên đơn, hoặc nước thứ
ba, tuỳ từng trường hợp cụ thể.
-Thông thường, trong hợp đồng thương mại quốc tế thường dẫn chiếu luật trước vào hợp
đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi giải quyết khi phát sinh tranh chấp.
-Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, các bên tham gia giao kết hợp đồng không thoả thuận,
không quy định trong hợp đồng sẽ áp dụng luật nào thì khi có tranh chấp xảy ra, không biết
dẫn chiếu luật pháp nước nào ( nước người mua, nước người bán, hay nước thứ ba), tranh chấp
pháp luật có thể xảy ra nếu quốc gia của 2 chủ thế ký kết hợp đồng này chưa tham gia điều
ước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.
-Lúc đó, việc giải quyết tranh chấp pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế, có thể sử
dụng những gợi ý sau:
+Nếu xung đột về hình thức của hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật (Toà
án hoặc trọng tài) sẽ áp dụng luật nơi giao kết hợp đồng.

NguyÔn Thu Trang A


+Nếu xung đột về nội dung hợp đồng - Luật nước người bán, Luật nơi thực hiện nghĩa
vụ, Luật lựa chọn...
+Nếu xung đột về địa vị pháp lý của các bên ký hợp đồng - Luật quốc tịch, Luật nơi cư
trú.
-Mỗi phương thức khi được sử dụng độc lập đều có những ưu và nhược điểm riêng nhưng
khi kết hợp với những phương thức khác theo 1 trình tự hợp lý thì sẽ phát huy được tối đa các
ưu điểm và hạn chế các nhược điểm

so với thương lượng khi kí kết hợp đồng .Nếu thương lượng ban đầu chủ yếu theo chiến thuật
mềm dẻo để thiết lập được hợp đồng thì thương lượng giải quyết tranh chấp nhiều khi theo
chiến thuật cứng,có tính chất được-thua nhiều hơn.Nếu thương lượng ban đầu thất bại thì hai
bên sẽ chia tay nhau,không có quan hệ hợp đồng tiếp theo như mong muốn nhưng thương

NguyÔn Thu Trang A


lượng lại mà không thành công mà các bên tranh chấp sẽ tiếp tục gặp nhau với tư cách của
nguyên đơn và bị đơn trong các quá trình tố tụng có tính chất chính thức-pháp lý hơn như nếu
xét xử tại trọng tài hoặc Tòa án.Do đó,thương lượng giả quyết tranh chấp thường được gọi là
“thương lượng dưới cái bóng của Tóa án”
3.1.2..Hiệu lực pháp lý của thương lượng
-Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quá trình tố tụng tại
tòa án hoặc trọng tài
+đối với thương lượng độc lập:nghĩa vụ của các bên phải tiến hành thương lượng được
quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp,do đó cũng phải được thực hiện nghiêm
chỉnh như mọi điều khoản khác của hợp đồng.Kết quả thương lượng được coi như một thỏa
thuận mới về vấn đề tranh chấp,các bên phải thi hành tự nguyện thỏa thuận đó theo quy định
của luật áp dụng về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
+nếu thương lượng được tiến hàng trong khuôn khổ tố tụng trọng tài hay tố tụng tư
pháp,pháp luật của nhiều nước quy định trọng tài viên,thẩm phán,theo yêu cầu của các bên,có
thể ra văn bản công nhaanjkeets quả thương lượng.Văn bản này có giá trị như một quyết định
của trọng tài hay tòa án (điều 43 Quy tắc tố tụng của Tóa án trọng tài thương mại quốc tế
Công hòa liên bang Nga,điều 49 Luật trọng tài của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa,điều 18
Luật Trọng tài quốc tế của Singapore,Điều 30 Luật mẫu UNCITRAL…)
3.1.3..Đặc điểm của thương lượng
-Hoạt động thương lượng bên cạnh những đặc điểm chung như thương lượng các loại hợp
đồng thông thường khác thì cũng có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
+Các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu sự điều chỉnh của một

-Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy có rất nhiều phương thức thương lượng khác nhau
các phương thức sau đây thường xuyên được các bên áp dụng:
+Thương lượng qua thư tín là phương thức thương lượng được sử dụng phổ biến trong
hoạt động kinh doanh hiện đại vì những ưu điểm của nó như tiết kiệm chi phí, thời gian…
+Thương lượng qua điện thoại là một trong những phương thức thương lượng phổ biến
hiện nay, nhất là trong thời đại phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật và công nghệ.
+Thương lượng trực tiếp thường được áp dụng khi liên quan đến các hợp đồng lớn, phức
tạp, nhiều chủ thể tham gia, phạm vi đa dạng.


3.1.6..Các bước của quá trình thương lượng
-Thực tiễn cho thấy quy trình thương lượng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường
diễn ra theo những bước sau:
+Xác định tình huống thương lượng là tìm hiểu và kiểm tra bối cảnh thương lượng và
những vấn đề có liên quan, chú ý những khía cạnh chủ chốt tác động đến mối quan hệ thương
lượng, thiết lập các mục tiêu chung cho quá trình thương lượng, đó là lợi ích cụ thể mà các
bên đều hướng tới.
+Lập kế hoạch thương lượng là công việc chuẩn bị trực tiếp cho việc thương lượng như
tổ chức thu thập và xử lý thông tin, xây dựng kế hoạch, chương trình thương lượng, luyện tập
việc thực hiện các chiến thuật thương lượng cụ thể…
+Tổ chức thương lượng là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều bên để bàn bạc và tiến tới
thống nhất một số hoặc tất cả các vấn đề được nêu ra mà trước đó các bên chưa thống nhất
được.
3.1.7.Ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
-Sau khi đã thống nhất các vấn đề cơ bản ở giai đoạn thương lượng, các bên tiến hành ký
kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi ký kết, các bên cần tuân thủ các nguyên tắc ký
kết, đó là bình đẳng, tự nguyện, thỏa thuận song phương, tuân thủ pháp luật và thông lệ quốc
tế.

NguyÔn Thu Trang A

NguyÔn Thu Trang A


3.2.Hòa giải các tranh chấp thương mại quốc tế
3.2.1..Khái niệm
-Trong các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế thì hòa giải là một phương pháp lựa
chọn đã được các nhà kinh doanh và các luật gia của nhiều nước(nhất là các nước Châu Á và
Vành đai Thái Bình Dương) quan tâm nghiên cứu và sử dụng trong thực tiễn của thương
trường quốc tế đặc biệt là trong hơn hai thập kỉ cuối
-Theo từ điển luật học Anh-Mĩ của Black: “hòa giải là 1 quá trình giải quyết tranh chấp
mang tính chất riêng tư,trong đó hòa giải viên là người thứ ba trung gian giúp các bên tranh
chấp đạt được thỏa thuận”
3.2.2..Các mục tiêu cơ bản cần đạt được qua hòa giải
-Mục tiêu thứ nhất: bằng hòa giải để giải quyết tranh chấp một cách thân thiện nhằm tiếp
tục giữ gìn và phát triển các quan hệ kinh doanh trong thời gian dài vì lợi ích chung của cả hai
bên
+Khái niệm giải quyết thân thiện thể hiện mong muốn về tâm lý của các bên là dàn xếp
vụ việc sao cho không có bên nào bị coi là thua cuộc,không dẫn đến tâm trạng đối đầu,thắng
thua như kết cục thường diễn ra sau các quá trình kiện tụng tại tòa án
-Mục tiêu thứ hai: bằng hòa giải có thể tập trung sự chú ý và quan tâm của các bên vào các
vấn đề chính,cơ bản của nội dung tranh chấp,hạn chế tối đa sự hao phí thời gian và tiền của
vào các vấn đề mang tính chất hình thức tố tụng,tăng cường sự tham gia trực tiếp và khả năng
kiểm soát của các nhà kinh doanh đối với quá trình giả quyết cũng như đối với kết quả giả
quyết tranh chấp
+Trên thực tế,nhiều tranh chấp kinh doanh thương mại mang tính chất kĩ thuật(xây
dựn,tài chính,ngân hàng..) đồi hỏi những người tham gia giả quyết phải có đủ hiểu biết trong
những lĩnh vực kinh doanh,thương mại liên quan.Trong khi đó,nếu đưa vụ kiện ra tòa thì do
yêu cầu tuân thủ các quy tắc,thủ tục tố tụng tư pháp rất phức tạp và thường là xa lạ với những
người không chuyên luật nên các bên tranh chấp buộc phải giao phó hoàn toàn vụ kiện cho các
chuyên gia luật( thẩm phá,luật sư..),những người ít hiểu biết sâu sắc về kinh daonh.Điều đó

cái họ muốn và cái họ cần,xác định rõ những lợi ích ưu tiên số một mà mỗi bên cần đạt được
qua giải quyết tranh chấp,từ đó tự điều chỉnh lại quan điểm,lập trường thương lượng cho thích
hợp
+Hòa giải viên có thể đề xuất nhưng không được ép buộc với các bên những phương án
lựa chọn để giải quyết tranh chấp một cách hợp lý,công bằng nhằm đáp ứng các nhu cầu ưu
tiên của họ
-Hòa giải sẽ lập tức chấm dứt nếu hai bên không đạt được thỏa thuận hoặc nếu một trong
hai bên không muốn tiếp tục được hòa giải
+Do tính chất tự nguyện của hòa giải nên khi một trong hai bên đơn phương chấm dứt
hòa giải(không cần nêu lý do)thì quá trình hòa giải sẽ đương nhiên chấm dứt và sẽ được
chuyển sang giải quyết bằng phương pháp khác
-Bảo toàn bí mật những tài liệu,chứng cứ,ý kiến của các bên và của hòa giải viên trong quá
trình hòa giải.
+Do tính chất riêng tư,tự nguyện của hòa giải,luật hay quy tắc hòa giải của nhiều nước
và Trung tâm trọng tài/hòa giải quốc tế đều có quy định đảm bảo rằng các chứng cứ,tài liệu và
ý kiến của các bên trong quá trình hòa giải sẽ không bị sử dụng như chứng cứ bất lợi cho họ
trong bất cứ quá trình tố tụng nào tiếp theo nếu hòa giải không thành.Một số nước và Trung
tâm trọng tài quốc tế còn quy định người đã làm hòa giải viên thì sẽ không được chọn làm
trọng tài viên cho cũng vụ việc để đảm bảo bí mật của hòa giải và sự khách quan của trọng tài
viên.
3.2.4.Một số quy trình hòa giải mẫu của các Trung tâm trọng tài quốc gia và quốc tế
-Theo nguyên tắc,quy trình hòa giải là do các bên có tranh chấp thỏa thuận lựa chọn sao
cho phù hợp,thuận lợi cho các bên đồng thời phải ngắn gọn,đơn giản linh hoạt nhằm đáp ứng
được tốt nhất các mục tiêu như đã trình bày ở trên
-Nhằm giúp các bên có điều kiện tham khảo,lựa chọn các quy trình hòa giải hữu hiệu và
tăng cường sử dụng các dịch vụ hòa giải,các Trung tâm trọng tài,Trung tâm hòa giải ở nhiều
nước và quốc tế đã ban hành các quy tắc hòa giải hay các bản hướng dẫn quy trình hòa giải
mẫu
-Trung tâm hòa giải Bắc Kinh(thành lập năm 1987) để hòa giải các tranh chấp thương mại
và hàng hải quốc tế đã ban hành một quy trình ngắn gọn,linh hoạt:

+Bước 2: Các bên có thể thỏa thuận chọn một HGV hoặc 1 Hội đồng hòa giải gồm 3
người ( hai người do hai bên chỉ định,sau đó hai người này sẽ chọn lấy người thứ ba).(điều 4)
+Bước 3: HGV đề nghị các bên bằng văn bản yêu cầu của mình về tất cả các vấn đề cần
giải quyết.Văn bản này được cho vào hòa giải viên và bên kia (điều 5)
+Bước 4: Sau khi các tài liệu trên đã được trao đổi,xem xét,HGV sẽ tổ chức phiên tòa
hòa giải với cách thức phù hợp theo các nguyên tắc khách quan,công bằng,hợp lý,cân nhắc kĩ
lợi ích,quyền và nghĩa vụ của cả 2 bên,các tập quán thương mại,hoàn cảnh cụ thể và mối quan
hệ làm ăn trước đó của các bên tranh chấp (điều 7)
+Bước 5:Quá trình hòa giải kết thúc hoặc bằng việc ký kết 1 thỏa thuận giữa các bên
hoặc bằng việc một hay cả 2 bên tuyên bố rằng họ không tham gia tiếp tục hòa giải nữa (điều
15)
3.2.5.Hiệu lực của kết quả hòa giải
-Tính chất tự nguyện của hòa giải dẫn đến những hạn chế về hiệu lực của thỏa thuận hòa
giải( ban đầu) và hiệu lực của thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải
-Thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc như thỏa thuận trọng tài,do đó,trên thực
tế,không có tòa án nước nào lại ra lệnh đình chỉ vụ kiện chủ vì lý do một bên không thực hiện
thỏa thuận hòa giải
-Thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải không được bắt buộc thi hành như phán quyết của
trọng tài hay của tòa á.Hiệu lực cao nhất của thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải giống như
một điều khoản hợp đồng ràng buộc các bên.Thậm chí một số nhà nghiên cứu cho rằng ngay

NguyÔn Thu Trang A


quy định về “hiệu lực hợp đồng” của thỏa thuận giải quyết bằng hòa giải như trong Qui tắc
hòa giải của ICC vafUNCITRAL cũng đã làm giảm “tính tự nguyện” của hòa giải và đó chính
là một nguyên nhân làm giảm số đơn yêu cầu hòa giải theo qui tắc của hai tổ chức quốc tế có
uy tín này
-Để phát huy các ưu điểm của hòa giải và tăng cường các cơ hội lựa chọn sử dụng hòa giải
đồng thời nâng cao hiệu lực của hòa giải,các luật gia cùng với các nhà kinh doanh đã nỗ lực

giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án,trừ những trường hợp vụ án
không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định trong BLTTDS.Việc hòa
giải được tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương
sự,không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực,bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận
không phù hợp với ý chí của mình,nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái
pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội ( điều 180)
-Sự kết hợp giữa kiện tụng với hòa giải này là một đặc trưng quang trọng của tố tụng tư
pháp tại các nước Châu Á.Ưu điểm nổi bật của sự kết hợp này là nâng cao được hiệu lực thi
hành của thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

NguyÔn Thu Trang A


3.3.Giải quyết bằng trọng tài
Trong thực tiễn tố tụng kinh doanh - thương mại cho thấy ngày càng nhiều vụ việc tranh chấp
giữa các bên được giải quyết bằng Trọng tài thay vì bằng Tòa án theo truyền thống. Dưới đây
sẽ đề cập đến một số vấn đề về giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
3.3.1.Các văn bản pháp lý
-Ngày 5/9/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/NĐ-CP, quy định về tổ chức và
hoạt động của trọng tài kinh tế phi chính phủ.
-Tuy nhiên, sau gần 10 năm thực hiện, những quy định của Nghị định 116 không còn phù
hợp với tình hình mới, vì vậy Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
Pháp lệnh quy định mọi tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại đều có thể đưa ra
giải quyết tại Trọng tài và các phán quyết của Trọng tài được đảm bảo cưỡng chế thi hành theo
quy định của pháp luật.
+Khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh quy định: “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự,
thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định”.
3.3.2.Điều kiện để Trọng tài giải quyết tranh chấp
-Trọng tài là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Chính vì

trọng tài đã có hiệu lực thì không bên nào được đơn phương rút lui ý kiến.Điều khoản trongjt
ài được coi là độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng chính nên ngay cả khi hợp đồng
chính đã kết thúc hoặc bị vô hiệu thì cũng không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu một
cách tương ứng (điều 11 PLTTTM của Việt Nam 2003,Điều 16 Luật mẫu UNCITRAL,Điều 1
quy tắc tố tụng của Tòa án trongjt ài thương mại quốc tế của CHLB Nga..).Nếu một bên không
thực hiện thỏa thuận trọng tài và cố ý đưa tranh chấp ra kiện tại Tóa án thì,theo pháp luật của
nhiều nước,Tòa án phải trả lại đơn kiện hoặc đình chỉ vụ kiện.trả các bên về trọng tài đã được
chọn trong thỏa thuận trọng tài( điều 32 PL thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế của Việt
Nam,Điều 10 Luật trọng tài Thái Lan,Điều 6 Luật trọng tài Malaysia,Điều 26 Luật trọng tài
Trung Quốc…).Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài (điều II(3)).Luật mẫu về trọng tài của UNCITRAL (điều 8) đều quy định tương tự
như vậy:Tòa án của các nước thành viên Công ước khi nhận được đơn kiện về tranh chấp đã
được các bên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài,theo yêu cầu của một trong các bên sẽ
chuyển đến các bên trọng tài có thẩm quyền,trừ khi thấy rằng thỏa thuận trọng tài vô hiueej
hoặc không có khả năng thi hành
+Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài sẽ ra một quyết định(phán quyết)sau khi cân
nhắc mọi chứng cứ và lập luận của các bên
>Các bên tranh chấp thỏa thuận giao cho trọng tài viên quyền và nghĩa vụ phải ra
được các phán quyết,quyết định có giá trị bắt buộc đối với các bên.Quyền này có ý nghĩa rất
quan trọng,tạo nên ưu thế đặc biệt của trọng tài so với các phương thức giải quyết tranh chấp
cũng dựa trên sự tự nguyện,thỏa thuận khác như thương lượng và hòa giải
>Để ra được quyết đinh,phán quyết,trọng tài viên phải tuân theo các qui trình,thủ
tục tố tụng nhất định do các bên lựa chọn(từ việc chọn các trọng tài viên đến việc chuẩn bị hồ
sơ và xét xử).Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ,hoặc các bên không có được cơ
hội công bằng để trình bày trường hợp của mình trước trọng tài viên thì quyết định của trọng
tài có thể sẽ không được công nhận và không được cho thi hành.Dưới góc độ này,trọng tài gần
với tòa án nhưng so với giải quyết tranh chấp theo tố tụng tư pháp thì tố tố tungjt rọng tài có
một số ưu điểm cơ bản là:đỡ tốn kém thời giản,bảo toàn được bí mật kinh doanh(trọng tài xét
xử kín);tính phù hợp về chuyên môn và nghiệp vụ kinh doanh của các quyết định trọng tài(do
các trọng tài viên thường là các chuyên gia trong các lĩnh vực kỹ thuật,các thương nhân có uy

một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với xét xử tại Tòa án bởi thông
thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp. Hội đồng trọng tài sau khi tuyên phán quyết xong
là đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và chấm dứt sự tồn tại.
+Thứ hai, hoạt động của Trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng Trọng tài xét xử vụ kiện
là do các bên thỏa thuận lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện, do đó các trọng
tài viên là người theo vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy họ có điều kiện để nắm bắt và tìm hiểu
thấu đáo các tình tiết của vụ việc. Chính điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải
hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa
thuận, điều mà ít khi xảy ra ở Tòa án.
+Thứ ba, trọng tài xét xử bí mật bởi tiến trình giải quyết của Trọng tài có tính riêng biệt.
Hầu hết các quy định pháp luật về Trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận nguyên tắc Trọng
tài xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác. Đây là một ưu điểm quan trọng bởi các
doanh nghiệp không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra công khai trước Tòa án,
điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình.
+Thứ tư, khi xét xử, Trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm của các
chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn Trọng tài viên của các bên. Các bên có thể
chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ, năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về
pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên biệt như licensing, leasing, xuất nhập
khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, chứng khoán…
+Thứ năm, hoạt động xét xử của Trọng tài liên tục do đó tiết kiệm thời gian, chi phí và
tiền bạc cho doanh nghiệp. Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thường rất khó đạt
được điều này bởi Tòa án phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, do đó tình trạng án
tồn đọng là điều không thể tránh khỏi.

NguyÔn Thu Trang A



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status