Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại VIệt nam - Pdf 34

Chúng ta đều biết rằng,ở mỗi quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại muốn tồn tại và
phát triển đều rất cần đến con người. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”luôn được cha
ông nhấn mạnh vì nhân tài chính là nhân tố cốt lõi của nguồn lực con người trong mọi
thời đại. Hơn nữa chúng ta sống và làm việc trong thời đại mà khoa học thực sự đã trở
thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thời đại mà không còn khoảng cách về không
gian và thời gian thì chính tiềm lực khoa học – công nghệ và trình độ dân trí mới là nhân
tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Vì thế ưu tiên phát triển
nhân tố con người, đặc biệt là đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, khoa học
kỹ thuật không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn làm chủ và khẳng định vị thế
của mình trên trường quốc tế trong tiến trình hội nhập của mỗi quốc gia nói chung và
Việt Nam nói riêng.
Thực tế hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày càng coi trọng nguồn nhân
lực có chất lượng cao, lấy vấn đề đào tạo và xây dựng nó làm “quốc sách hàng đầu”
trong chiến lược quốc gia đặc biệt là trong tiến trình hội nhập như hiện nay.
Điều này đã được xác định rõ qua từng chủ trương chính sách phát triển đất nước.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội của Đảng đã chỉ rõ: Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi
nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã định
hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay
nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền
giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”.
Vậy theo xu hướng khách quan và chủ quan của sự phát triển hiện nay đặc biệt là
theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân
lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phải luôn chiếm một vị trí trung tâm và
đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là
trong giai đoạn hiện nay –giai đoạn đẩy mạnh sự hợp tác toàn cầu, hội nhập quốc tế.


Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề về nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt
Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC)

công nghệ.
Còn theo GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn trong “Nghiên cứu văn hóa con người,
nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI” đưa ra khái niệm “một nguồn nhân lực mới” để chỉ “lực
lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng
nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất”. Tác giả chỉ chú trọng
đến học vấn và chuyên môn.
NNLCLC được TS. Nguyễn Hữu Dũng quan niệm trong “Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh
tế quốc tế” là: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người
lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề
cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học,
cao đẳng, công nhân lành nghề)” . Ở đây tác giả lại chú ý đến trình độ lành nghề.
Trong tạp chí “Thông tin Chủ nghĩa xã hội - lí luận và thực tiễn”, TS Bùi Thị Ngọc
Lan cho rằng: NNLCLC là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực. Lực lượng này có
trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng
thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có phẩm chất
tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào
quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Tác giả đã
đưa ra thêm khá nhiều tiêu chí để xác định hơn.
Như vậy, NNLCLC đã được đưa ra và hiểu dưới nhiều góc độ tùy theo nhưng tiêu
chí cụ thể đặt ra, ở góc độ tổng hợp nhất ta có thể hiểu như sau : NNLCLC là một bộ
phận kết tinh những gì tinh túy nhất của nguồn nhân lực. Là bộ phận lao động có trình độ
học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao hay có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo,
phải có tác phong công nghiệp và đạo đức trong nghề nghiệp. Đặc biệt là khả năng thích


ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng và
kinh nghiệm đã được đào tạo và tích lũy trong quá trình lao động nhằm đem lại kết quả
sản xuất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.
NNLCLC chính là lực lượng cốt lõi cả trong hai mặt số lượng và chất lượng của nguồn

trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều. Nhật Bản trở thành một trong
những cường quốc giáo dục của thế giới. Thực tế hiện nay là một minh chứng cụ thể
nhất. Nhật đã đứng trong top những cường quốc trên thế giới. Nhật Bản luôn là bài học
điển hình về sự thành công cho sự đầu tư phát triển về con người để chúng ta học hỏi.
Với một thị trường lao động khá năng động, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và
khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực.
Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu
hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi từ châu Âu và
nhiều nước khác trong đó có Việt Nam đã nhập cảnh vào Mỹ. Thực tế này trả lời cho câu
hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế
giới trong nhiều lĩnh vực.Và Mỹ luôn là cường quốc trong nhiều thập niên qua.
Trung Quốc ngay từ những năm 2003 đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác
bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả
được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội dung của chiến lược
là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng
cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và
sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều
chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh
công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá
và sử dụng nhân tài một cách khoa học...Hiện nay sự phát triển về kinh tế của họ là một
minh chứng rõ ràng nữa.Trung Quốc hiện nay phát triển kinh tế chỉ sau Mỹ.
Trong khu vực Đông Nam Á, Xin-ga-po được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhân
lực. Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây dựng


một đất nước có trình độ dân trí cao và và cũng rất đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục
mà hiện nay họ đang là một trong những nước có nền giáo dục đứng trong tốp đầu.
Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng
như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng của
mình. Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ mới vào giảng dạy,

hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó.
Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn
liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là
bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong
độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ
trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trong
các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…).
Giữa chất lượng NNL và NNLCLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ
giữa cái chung và cái riêng. Khi đề cập tới nguồn lực con người, người ta thường nói tới
mặt số lượng và mặt chất lượng của nó. Số lượng nguồn lực con người chính là lực lượng
lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhưng, yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người không phải là số lượng, mà là
chất lượng nguồn lực con người. Đây mới chính là yếu tố quyết định đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội. Nói đến chất lượng của nguồn lực con người là nói đến hàm lượng trí tuệ
ở trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất
tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với
một nền khoa học, công nghệ hiện đại”. Sở dĩ người ta nói đến tính vô tận, tính không bị


cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn lực con người chính là nói tới yếu tố
trí tuệ. Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhất đối với
sự tiến bộ và phát triển xã hội. Nhà tương lai học Mỹ- Alvin Toffler khẳng định rằng,
mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có trí tuệ con người là không
bao giờ cạn kiệt và “tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết”. Để khẳng định mình
trong một thế giới cạnh tranh đầy khốc liệt, chất lượng nguồn nhân lực đóng một vai trò
sống còn đối với một nền kinh tế đang trên đà phát triển và hội nhập như Việt Nam
Và tổng thể NNL của một quốc gia, NNLCLC chính là bộ phận cấu thành đặc biệt quan
trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về NNLCLC không thể

thống kê tóm tắt năm 2009 của tổ chức thống kê mới công bố. Chỉ số HDI của các nước
ASEAN như sau: Brunây 0,919; Campuchia 0,575; Indonesia 0,726; Lào 0,608; Malaysia
0,823; Myanmar 0,585; Philipine 0,745; Thái Lan 0,786; Singapore 0,918; Việt Nam
0,718. Như vậy, mặc dù đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này nhưng ngay trong
khối ASEAN chỉ số HDI của chúng ta cũng chỉ cao hơn 3 nước là Lào, Campuchia và
Myanmar. Cũng theo số liệu của TĐTDS 2009, tỷ lệ lao động được đào tạo có trình độ từ
sơ cấp trở lên cũng chỉ đạt 14,9%. Sơ bộ những điều này cho thấy mặc dù đã đạt nhưng
thành tích nhất định nhưng để nâng cao chất lượng dân số, phát triển được nguồn nhân
lực chất lượng cao, tận dụng hiệu quả, thì còn là một thách thức rất lớn đối với chương
trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong giai đoạn tới.
Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể hơn.
Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo đức nghề
nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với
công việc. Cao hơn cả, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốn đóng góp tài
năng, công sức của mình vào sự phát triển chung của dân tộc. Đây được coi là tiêu chí


mang lại tính chất nền gốc trong quá trình xây dựng những tiêu chí các định nguồn nhân
lực chất lượng cao.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng
thích ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn. Tiêu chí này đòi
hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, để có khả năng thích ứng
tốt với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay. Điều này cũng
có nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao phải có bản lĩnh nghề nghiệp để không bị
động trước những thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và cách thức tiến hành công việc
của thời đại toàn cầu hóa vá kinh tế tri thức.
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng
sáng tạo trong công việc.
Sáng tạo bao giờ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển. Đặc biệt
trong thời đại ngày nay, những gì là mới và sôi động của ngày hôm qua nhanh chóng trở

tiếp thu những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền
thống với cách tân để vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì
tương lai chỉ mãi là sự tụt hậu.
1.3 Vai trò NNLCLC trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.3.1 Khái niệm về hội nhập quốc tế
Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con
người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình.
Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập
nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được
nền độc lập dân tộc.


Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng
cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực,
quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn
khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Tìm hiểu thêm về khái niệm này nên lấy hội nhập quốc tế hay hội nhập kinh tế
1.3.2.Tác động của hội nhập quốc tế đến NNLCLC
1.3.2.1 Thách thức
Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực.Mỗi một lĩnh vực, một bộ phận lại
chịu sự tác động riêng của quá trình này. Là bộ phận không thể thiếu của một quốc gia
NNLCLC cũng sẽ có cơ hội phát triển cũng như thách thức khó khăn trong quá trình hội
nhập.
Quá trình hội nhập sẽ tiếp nhận những công nghệ mới – đặc biệt là công nghệ máy tính –
làm thay đổi bản chất của công việc, đòi hỏi người lao động nói chung phải được trang bị
những kỹ năng tổng hợp thông tin và kỹ năng tư duy độc lập, họ cần có khả năng học tập
sâu hơn, phân tích dữ liệu tốt hơn và ứng phó giải quyết các vấn đề mới nhanh
hơn.NNLCLC ngày càng có nhiều cơ hội để nâng cao khả năng cũng như để hoàn thiện
mình hơn.
Hội nhập và mở cửa làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu giá cả, khả năng và cách

doanh nghiệp bồi dưỡng và thu hút nhân tài trên thế giới. Năm 1963, Mỹ ban hành “Luật
giao dục ngành nghề” và năm 1990 được sửa đổi bổ sung để thu hút có hiệu quả cao nhân
tài từ các nước trên thế giới. Năm 1996, Mỹ lại thông qua “Luật giáo dục người lớn tuổi”,
trong đó yêu cầu tất cả doanh nghiệp công hữu và tư nhân hàng năm phải chi khoản kinh
phí chiếm 1% tổng thu nhập của doanh nghiệp dành cho huấn luyện đào tạo nâng cao tay
nghề cho nhân viên.


Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các yêu
cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mới trông
quá trình hội nhập. Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xử
công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi lao động phải
nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu
tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt.
Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị đang
là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương và
các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007),
thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn.
Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập của
người lao động. Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hội
giữa các nhóm lao động.Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa mức thu nhập của lao động
chất lượng cao và các bộ phận khác và vẫn đảm bảo “giữ chân người tài”-một thực tế
khó khăn.
Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui định
các vấn đề liên quan đến lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối xử tại
nơi làm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể… Điều này đang đặt ra cho
nguồn nhân lực các vấn đề mới cần giải quyết, như chi phí về nhân công tăng lên, các
điều kiện làm việc cần được đầu tư và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp hội tự do trong
các ngành nghề…Và NNLCLC lại càng được tiêu chuẩn hóa cao hơn, khắt khe hơn nữa.
1.3.2.2 Cơ hội

cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng
về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên gia giữa các nước với


Việt Nam sẽ làm cho trình độ chuyên môn kỹ thuật, tăng khả năng cơ giới hóa trong nông
nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động cũng như trình độ, nhận thức của nười
nông dân. Hợp tác quốc tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó góp phần nâng cao chất
lượng nhân lực, để có thể làm chủ các công nghệ và thiết bị tiên tiến trên thế giới. Như
hiện nay qua tìm hiểu trên các các kênh thông tin đại chúng đã có rất nhiều phát minh
sáng kiến ra đời mà chủ nhân của nó không ai xa lạ chính là từ các bác nông dân được
biết đến xưa nay “ bán mặt cho đất bán lưng cho trời” cải tạo công cụ sản xuất của họ
như: máy tuốt gặt liên hoàn, máy bóc ngô,vvv….Họ cũng chính là một bộ phận không
thể thiếu của NNLCLC .
Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự án hợp tác
đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn tài chính dồi
dào hơn cho việc đổi mới công nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.
Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động theo
định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Trong
khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt giảm. Tạo điều kiện
cho nhân lực lao động của nước ta tham gia sâu rộng hơn vào phân công và hợp tác lao
động quốc tế. Đặt nền móng cho việc tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực một cách
ổn định và bền vững nhất.
1.3.3 Vai trò của NNLCLC đến quá trình hội nhập
Trong truyền thống Việt Nam xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ". Còn
nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông "Tiền
bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng
không những không mất đi mà còn lớn lên".
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng
và phát triển kinh tế - xã hội nói chung . NNLCLC là bộ phận quan trọng nhất của nguồn
nhân lực .Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng,

trình hội nhập trình là quá trình lao vào vũ trụ bao la mà người cầm lái chính là
NNLCLC.Con tàu chỉ đi đúng hướng khi người cầm lái thực sự có đủ khả năng năng
lực để điều khiển nó.”Khả năng” này gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm.


Thêm vai trò của nnlclc
Chương 2: Thực trạng NNLCLC hiện nay trong tiến trình hội nhập
2.1. Thực trạng NNLCLC
Nên tìm hiểu số liệu gần đây nhát 2011
-tổng dân số
-cơ cấu dân số theo trình độ học vấn
-lao đọng tri thức lđ công nhân
Theo số liệu mới nhất về dân số tính đến năm 2009, Việt Nam có trên 44 triệu lao động
trên tổng số 89 triệu dân và là một nước có nguồn lao động dồi dào so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới.Về quy mô dân số, Việt Nam là nước đứng thứ 2 trong
khu vực và đứng thứ 13 trên thế giới. Trong số 89 triệu dân thì chiếm tới 50% là số
người nằm trong độ tuổi lao động và nhóm tuổi từ 15 tới 34 tuổi chiếm hơn 45% tổng số
lực lượng lao động. Cũng theo số liệu này thì hàng năm có khoảng từ 1,5 đến 1,7 triệu
người nhập vào lực lượng lao động. Nhìn chung, cung lao động tại Việt Nam rất dồi dào
và lớn hơn cầu về lao động. Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này là lao động
phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều
giữa các vùng, miền.
Tuy nhiên so với những năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và sự phát triển của các doanh nghiệp mới nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân lực
có chất lượng cao của các ngành dịch vụ và công nghiệp, đặc biệt là đối với lĩnh vực
quản trị doanh nghiệp, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, điện, điện tử và hoá
chất ngày càng tăng lên. Cùng với chính sách mở cửa, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu, làn sóng đầu tư trong nước cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày
càng tăng lên, các doanh nghiệp trong nước được thành lập mới ngày càng nhiều đã tạo
ra một lượng cầu nhân lực có chất lượng cao ngày càng lớn. Đối với các doanh nghiệp

thu nhập cao từ 14.000 USD/năm trở lên đều thuộc về người nước ngoài. Tại một nhà


máy gia công giầy ở Đồng Nai, tiền lương mà doanh nghiệp phải trả cho 70 chuyên gia
là người nước ngoài tương đương với tổng số tiền lương mà doanh nghiệp trả cho
20.000 lao động người Việt Nam.Tại một Nhà máy xi măng ở tỉnh Thanh Hoá, 20 vị trí
lao động chủ chốt, người Việt Nam lại giao cho người nước ngoài là người Nhật Bản
đảm nhiệm và họ đã được trả tiền lương ở mức tương đương với tổng số lương của
2000 công nhân người Việt Nam (đây quả thực là một điều rất thiệt thòi cho người dân
Việt Nam). Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn tới tình trạng cung nhân lực có chất
lượng cao không đáp ứng được nhu cầu. Theo điều tra mới đây của Bộ kế hoạch và Đầu
tư, gần 18% số các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả các tổ chức tín dung, ngân hàng được
hỏi đều gặp khó khăn trong việc đào tạo nguồn nhân lực lành nghề và có trình độ cao
cho chính doanh nghiệp của họ. Nguyên nhân chính của việc này là do các doanh nghiệp
thiếu thông tin và chưa tiếp cận một cách hiệu quả được với các dịch vụ đào tạo. Có
nhiều sinh viên đã không được định hướng tốt trong việc chọn trường, chọn ngành nghề
theo học. Cũng một phần do chất lượng đào tạo ở các cơ sở đào tạo không đáp ứng được
nhu cầu, điều này đã tạo ra sự lãng phí lớn đối với bản thân người được đào tạo và đối
với xã hội, đó chính là sự yếu kém trong công tác quản lý nguồn nhân lực có chất lượng
cao và suy cho cùng thì lực lượng lao động ở Việt Nam chưa phát triển.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia có trách nhiệm thì nguồn lao động chất lượng
cao trong một số lĩnh vực như cơ khí chế tạo, tự động hoá, vật lý nguyên tử, kinh doanh
thương mại quốc tế, kế toán kiểm toán, tín dụng, ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục bị thiếu hụt
và khan hiếm. Hầu hết các tổ chức doanh nghiệp khi được hỏi đều cho rằng tuyển dụng
được cán bộ nghiệp vụ giỏi đã khó, nhưng tuyển dụng được cán bộ quản lý giỏi còn khó
hơn rất nhiều. Đồng thời, việc giữ lao động giỏi ở lại doanh nghiệp cũng là việc không
dễ dàng. Điều này một lần nữa cho thấy trong tương lai khi mà cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu qua đi, các doanh nghiệp sẽ tiến hành tái cấu trúc và nhu cầu nhân lực có
chất lượng cao ngày càng tăng lên thì chắc chắn sự mất cân đối giữa cung và cầu về lao
động sẽ diễn ra ngày càng trầm trọng hơn nếu như Việt Nam không có những biện pháp


lại ít người học, ngành nhiều người học lại ít chỗ làm. Khi ra trường, sự mất cân đối này
dẫn đến việc những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật này phải làm những công
việc trái ngành. Thậm chí một số doanh nghiệp phải cử đi đào tạo lại ở nước ngoaì hoặc
thuê nước gây sự lãng phí nguồn lực quá lớn.
Theo xu hướng chung hiện nay,lực lượng lao động tri thức học sinh sinh viên đều thích đi
du học và làm việc ở nước ngoài. Đến khi về già mới trở về nước để đóng góp một phần
sức lực cuối cùng cho đất nước quê hương.Và còn phần đa bộ phận công nhân tài năng
còn lại trong nước thì thích làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt là các
doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài.
Có thể nói, từ những thực trạng trên, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực cao đã được đặt
ra một cách cấp bách trong thời kì hội nhập. Trước hết, phải đi tìm nguyên nhân của “sự
khủng hoảng này.
Chúng ta sử dụng vốn nhiều chứ không chú trọng đến NNLCLC thế thì mô hinh kinh tế
này nó đúng trong một giai đoạn nào đấy nhưng nếu để dài quá thì nó sẽ gây ra thảm họa
về hiệu quả.Trong nhân lõi các mô hình đó chúng ta thấy bóng dáng của công nghệ và
chất lượng cao rất ít. Đó là ý kiến của ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế
Việt Nam
Các trường đại học của chúng ta bây giờ chưa đào tạo theo yêu cầu của thị trường, chưa
bắt đầu từ những đơn đặt hàng của các doanh nghiệp mà đào tạo theo khả năng thao nhu
cầu của trường. Đây là sự bất cập đang rất cần sự thay đổi.
Vậy giải pháp nào cho tình trạng trên đây?

Chương 3: Giải pháp phát triển NNLCLC đáp ứng tiến trình hội nhập
Đầu tiên là phải nâng cao nhận thức cho mọi cá nhân tổ chức để hiểu rõ tầm quan trọng
của việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập vào nền kinh tế thế giới của nước ta hiện nay. Phải xác định


cho rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam trong công cuộc đổi mới

triển kinh tế tri thức như: Tăng đầu tư ngân sách hơn nữa cho giáo dục và đào tạo; Thực
hiện xã hội hóa giáo dục; Mở rộng quy mô và tăng nhanh tốc độ đào tạo; Thực hiện đào
tạo theo nhu cầu của xã hội; Tiếp tục cải cách nội dung và phương pháp đào tạo; Tăng
cường sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước đối với giáo dục, đào tạo.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế tri thức, trong thời gian tới giáo dục
đại học Việt Nam cần có sự đổi mới, trước mắt nên chú trọng vào các vấn đề:
- Xây dựng một hệ thống các trường đại học có uy tín, có khả năng đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính – ngân hàng, công nghệ thông tin,
kiểm toán và ngoại ngữ.
- Về cơ chế quản lý, thay đổi theo hướng tăng thêm tính chủ động cho các trường đại học
nhất là tự chủ về tài chính. Khuyến khích các trường dân lập hoạt động thực sự hiệu quả
đảm bảo nguồn cung đáp ứng nhu cầu.
- Về nội dung, chương trình: tăng cường thực hành nhằm phát triển tư duy sáng tạo của
sinh viên, gắn lý thuyết trong sách vở với thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh.Hiện
nay vấn đề này còn rất lỏng lẻo.Học sinh sinh viên mặc dù rất giỏi lí thuyết nhưng khi bắt
tay vào công việc hay tình huống cụ thể thì cách giải quyết gặp rất nhiều khó khăn.Nên
có nhiều những bài học thực tế, tổ chức những dịp giao lưu cọ xát bên ngoài để đánh giá
chung vào quá trình nhận thức của học sinh sinh viên.Tất nhiên để làm được điều này thì
không phải trách nhiệm của riêng ai mà là của tất cả mọi thành phần trong xã hội.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, cho phép các thành phần kinh tế
trong và ngoài nước tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế phù hợp với luật pháp
Việt Nam cũng là cần thiết trong bối cảnh hiện nay.Điều này rất phổ biến hiện nay đơn
cử như có rất nhiều trung tâm ngoại ngữ được thành lập nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi
người giao lưu học hỏi hay có cơ hội kiếm việc tốt hơn.


Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí
thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực nhân tài cho
đúng. Phải có sự phân biệt rành mạch giữa tài thật và tài giả, giữa những người cơ hội và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status