CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
1. Khái niệm, vai trò và mục tiêu của chính sách lao động và việc làm.
a. Khái niệm
Chính sách quản lý nguồn nhân lực: là toàn thể các quan điểm, tư tưởng, mục
tiêu, và giải pháp nhằm đào tạo, phát triển và sử dụng một cách có hiệu quả
nguồn nhân lực của đất nước.
+Nguồn nhân lực:
Khái niệm:
− Là nguồn lực về con người.
− Là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội
− Là một yếu tố của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Số lượng, quy mô, tốc độ tăng của nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô và tốc
độ tăng dân số.
Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên nhiều mặt: sức khỏe, trình độ,
năng lực...
Chính sách việc làm: là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các giải
pháp và công cụ, nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng
lao động đó.
+Người có việc làm là
− Người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề
− Dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm
− Đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp
một phần trong xã hội.
+Tạo việc làm
− Theo nghĩa rộng gồm những vấn đề liên quan đến phát triển và sử dụng
hiệu quả nguồn nhân lực: giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp cho
người lao động.
− Theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có hoặc
thiếu việc làm nhằm tạo thêm chỗ làm cho người lao động và duy trì tỷ lệ
Khái niệm thất nghiệp và thị trường lao động không được đề cập.
Chế độ tuyển dụng suốt đời được coi là đương nhiên đối với người lao động
trong biên chế Nhà nước đã hạn chế đáng kể việc tự do di chuyển, tự do hành
nghề, do đó đã hạn chế đáng kể việc phát huy sức mạnh nguồn nhân lực nói riêng
và quá trình tăng trưởng phát triển kinh tế-xã hội nói chung.
+ Trong cơ chế mới – cơ chế thị trường:
Tạo và mở thêm hàng triệu việc làm.
Tuyển dụng khu vực nhà nước có nhiều thay đổi: thay chế độ biên chế bằng
hợp đồng, cắt giảm và xóa bỏ một số ưu đãi.
Tuy nhiên, thất nghiệp trở thành điều khó tránh khỏi trong điều kiện nền kinh
tế thị trường với nguồn lao động lớn ở Việt Nam.
→ Nhà nước cần kiểm soát thị trường lao động nhằm hạn chế thất nghiệp.
Chính sách lao động và việc làm bắt đầu hướng tới mục tiêu: “tạo ngày càng
nhiều việc làm cho người lao động” ( Hiến pháp 1992, điều 55 ), quản lý bằng
cách “ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động” ( Hiến pháp 1992, điều 56 )
Vai trò quản lý trực tiếp lao động và việc làm của các Bộ không còn, mà chỉ
mang tính xúc tác, khuyến khích tôn trọng quy định, luật hiện hành, nhất là bộ
luật Lao động và những quy định liên quan.
b. Các chính sách lao động và việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
+Những năm đầu thập kỷ 1990, khu vực Nhà nước giảm lao động ở quy mô
lớn làm số lượng lao động dôi dư lên tới gần 2 triệu người. Cùng với đó, thất
nghiệp thành thị lên tới gần 10%, kết hợp dân số tăng nhanh, lao động nông thôn
thiếu việc làm khoảng 30-35%.
→ Sức ép về việc làm rất lớn. Vì thế, giải quyết việc làm cho người lao động trở
thành vấn đề cấp bách, cần giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau.
+Chính sách việc làm:
- Xuất phát điểm là giải quyết việc làm trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn với
giải quyết các vấn đề xã hội.
phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, doanh nghiệp nhỏ, du lịch sinh
thái... để tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động.
+Trong nông nghiệp:
Chính sách khoán sản phẩm ( mở đầu bằng Chỉ thị 100 CT/TW ngày
13/01/1981, được khẳng định trong Nghị quyết 10 NQ/TW ngày 05/04/1988 ) ra
đời với mục tiêu:
- Giải phóng sức sản xuất.
- Phát huy các tiềm năng của các thành phần kinh tế.
- Khuyến khích phát triển và bảo hộ quyền kinh doanh của kinh tế gia đình, cá
thế và tư nhân.
Chính sách phát triển hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã.
Chính sách phát triển kinh tế trang trại ( Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày
02/02/2000 của Chính phủ )
Cùng hàng loạt chương trình:
Chương trình 327 “phủ xanh đất trống đồi trọc”.
Chương trình 5 triệu ha rừng.
Chương trình đánh bắt cá xa bờ.
Chương trình 773 về khai thác và sử dụng đất hoang hóa.
→ Thu hút lao động nông nghiệp, thông qua đó giải quyết lao động thiếu việc
làm trong nông nghiệp.
+Trong công nghiệp và dịch vụ:
Khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh phát triển bắt đầu bằng Nghị quyết 16
NQ/TW năm 1988.
Ban hành các bộ Luật như:
Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990).
Luật khuyến khích đầu tư trong nước(1994) và sửa đổi năm 1998.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Đặc biệt là Luật Doanh nghiệp (2005).
dụng tạo nên việc làm với lãi suất ưu đãi, đặc biệt ưu tiên cho các dự án tạo nhiều
chỗ làm việc và các dự án thu hút nhiều lao động nữ, người nghèo, người thất
nghiệp.
→ Với chương trình này, Nhà nước bước đầu tạo sự bình đẳng về cơ hội cho mọi
người dân tiếp cận nguồn vốn vay để tạo việc làm. Do đó, một mặt Nhà nước huy
động vốn để đầu tư, mặt khác tạo việc làm nhằm làm ổn định cuộc sống người lao
động nói riêng và xã hội nói chung.
Giải quyết lao động dôi dư trong các doanh nghiệp nhà nước
+Theo báo cáo của khối doanh nghiệp nhà nước năm 1998, số lao động không
bố trí được việc làm chiếm 9% số lao động hiện có trong các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (vốn dưới 3 tỷ đồng) có tỷ lệ dôi dư rất
cao, chiếm khoảng 15% tổng số lao động.
Lao động nữ, lao động trẻ, lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật và
lao động đào tạo ở trình độ trung cấp, dạy nghề có tỷ lệ dôi dư cao hơn cả.
+Ngoài số lao động dôi dư thực sự mà doanh nghiệp nhà nước không bố trí
được việc làm, còn có khoảng 9% lao động trong các doanh nghiệp nhà nước là
lao động dôi dư tiềm tàng (họ có việc làm, nhưng không cần thiết và có thể giảm
bớt mà không ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp)
→ Tỷ lệ lao động cần giải quyết việc làm trong doanh nghiệp nhà nước thực sự là
khoảng 18,5%.
Trước thực trạng này, Nhà nước có chính sách:
Chuyển dịch lao động từ khu vực doanh nghiệp nhà nước sang khu vực ngoài
quốc doanh, đảm bảo đúng pháp luật.
Khuyến khích lao động dôi dư tự động thôi việc.
Khuyến khích, hỗ trợ thêm với lao động dôi dư hoặc mất việc làm do doanh
nghiệp giải thể, phá sản nhằm giúp và hỗ trợ họ tìm việc.
Xuất khẩu lao động
Nhà nước đã thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp xuất khẩu
hướng bảo vệ lợi ích người lao động.
+Những doanh nghiệp ngoài quốc doanh do chịu áp lực cạnh tranh, công việc
đòi hỏi hoạt động có tính chất lưu động hoặc hoạt động theo thời vụ nên thường
sử dụng hình thức hợp đồng ngắn hạn; nhằm tránh phải đền bù cho người lao
động khi không đảm bảo được việc làm cho họ. Ngược lại, phần lớn số lao động
trong doanh nghiệp nhà nước thực hiện chế độ hợp đồng lao động không kỳ hạn
hoặc hợp đồng thời hạn 1-3 năm.
+Nhà nước vừa là người kiểm tra, giám sát việc thực hiện Bộ luật Lao động,
vừa là đối tượng chấp hành luật với tư cách là người sử dụng lao động. Mặc dù,
việc áp dụng Bộ luật Lao động tại khu vực ngoài nhà nước còn tùy tiện nhưng
trong khu vực nhà nước đã thể hiện rõ sự quan tâm, bảo vệ người lao động (qua
chế độ bảo hiểm,trợ cấp, lương hưu..)
Chính sách dạy nghề và các chính sách thúc đẩy tạo việc làm khác
Nhà nước đã xây dựng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ việc làm:
• Cung cấp tín dụng cho người lao động để họ tự đầu tư sản xuất, giải quyết
việc làm.
• Giúp đỡ về thông tin công nghệ để kịp thời đáp ứng yêu cầu của nền kinh
tế thị trường.
• Liên kết giữa các địa phương, vùng kinh tế trọng điểm với các tỉnh có
nguồn lao động.
• Phát triển các hình thức giao dịch, thông tin thị trường, tổ chức hội chợ
việc làm..
Về nỗ lực trong chính sách dạy nghề:
• Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phê duyệt Đề án thí điểm dạy nghề
nội trú cho thanh niên dân tộc qua quyết định số 1093/QĐ-LĐTBXH ngày
08/09/2003.
• Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/04/2005
quy định về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn...
với 88,8% trong đó khu vực năng động nhất là hàng triệu doanh nghiệp,hộ gia
đình và hàng ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ; tiếp theo là khu vực Nhà nước với
9,6%, đứng cuối là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với 1,6%.
Lao động trong khu vực quốc doanh
Các vấn đề lao động, việc làm trong khu vực doanh nghiệp nhà nước đang
được giải quyết, một mặt cơ cấu lại lao động dôi dư trong khu vực doanh nghiệp
nhà nước, mặt khác chú trọng hơn đến phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
đổi mới của doanh nghiệp nhà nước.
Khu vực quốc doanh hàng năm hầu như không thu hút thêm lao động, không
tạo ra việc làm mới. Do một số nguyên nhân:
• Quá trình cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp đã đưa khoảng 400000 lao
động dư thừa ra ngoài doanh nghiệp Nhà nước.
• Đầu tư của Nhà nước vào công nghiệp quốc doanh đều là công trình lớn,
công nghệ hiện đại sử dụng ít lao động.
Lao động trong khu vực tư nhân, cá thể
-Thời gian qua, khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh đã tạo công ăn việc làm
cho hàng vạn người.
Đồng thời một số lớn người lao động đã tự giải quyết
việc làm trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về vốn và điều kiện khác.
→ Tuy tỉ trọng đóng góp GDP chưa đến 50% nhưng sử dụng tới gần 89% lao
động
cả
nước.
-Vốn đầu tư trên mỗi lao động của khu vực tư nhân thấp hơn khu vực công
nghiệp quốc doanh từ 5-10 lần, tuy nhiên vốn đầu tư của khu vực tư nhân cá thể
trưởng trong khi số người đế n tuổi lao động hàng năm khoảng 1 triệu người, nên
vấn đề lao động và việc làm vẫn còn là một trong những vấn đề trọng tâm.
Thứ nhất, tình trạng thiếu việc việc làm và dư thừa lao động đang ngày càng
trở nên bức xúc, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Do tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế chậm nên sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp
và dịch vụ còn rất chậm.
Thứ hai, chính sách việc làm cần phổ biến thông tin đến cả hai phía, người sử
dụng lao động và người lao động. Trong khi, việc thu thập thông tin việc làm và
đào tạo lại chưa có sự phối hợp giữa các bộ ngành, và thông tin đôi khi không
đồng nhất.
Thứ ba, giữa chính sách kinh tế và chính sách giải quyết việc làm còn có sự bất
cập: khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò chủ yếu trong tạo việc làm
nhưng chưa được quan tâm đúng mức.
Thứ tư, hiện nay ở Việt Nam, thị trường lao động cấp 1 quá nhỏ bé so với thị
trường lao động cấp 2. Vấn đề khó khăn là đảm bảo cho thị trường cấp 2 cung cấp
đủ điều kiện lao động , tiền công, việc làm ổn định.
Thứ năm, hệ thống hướng nghiệp và môi giới việc làm chưa phát triển và khả
năng đóng góp rất hạn chế.
Thứ sáu, nguồn vốn của quỹ quốc gia giải quyết việc làm có hạn, lại cho vay
dàn trải, thời hạn cho vay ngắn đã hạn chế tính hiệu quả của chương trình. Nhìn
chung, cho vay theo chương trình quốc gia giải quyết việc làm còn mang tính
ngắn hạn, giải quyết tình thế là chính, chưa đảm bảo sự bền vững của việc làm.
Thứ bảy, số vụ đình công tăng do chủ sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao
động. Một bộ phận lao động làm việc ở nước ngoài vi phạm hợp đồng, ảnh hưởng
đến uy tín lao động Việt Nam, gây khó khăn cho việc duy trì và mở thị trường.
Cuối cùng, dạy nghề là vấn đề quan trọng, nhưng phần lớn các quy định về dạy
nghề được thể hiện trong những văn bản dưới luật nên hiệu lực thấp,không đồng
bộ.