MỤC LỤC
DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM THUYẾT TRÌNH
Họ và tên
Nguyễn Thị Thu
Nguyễn Thị Thu
Nguyễn Thị Quỳnh Mai
Đặng Trần Khánh
Nguyễn Tá Tiến
MSV
CQ533723
CQ533722
CQ532431
CQ531951
CQ533918
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ FED VÀ NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM
1.1.
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG HOA KỲ (FED)
1.1.1.
Lịch sử hình thành và phát triển
1791-1811: Ngân hàng thứ nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - The First Bank
of the United States được thành lập và đi vào hoạt động sau khi tổng thống
điểm này, không ai hi vọng Fed có thể sử dụng quyền kiểm soát với nguồn cung tín
dụng để định hình nền kinh tế.
Tuy nhiên, mọi thứ sớm thay đổi hoàn toàn. Trong những năm 1920, Fed bắt
đầu mua và bán trái phiếu trên thị trường mở để điều chỉnh nguồn cung tín dụng
vốn luôn biến động.
Trong suốt thời kỳ Đại khủng hoảng, Fed lại trở về thế bị động, hạn chế hoạt
động trên thị trường mở và cho phép hàng ngàn ngân hàng sụp đổ. Nguyên nhân
của hiện tượng này vẫn là điều gây nhiều tranh cãi, tuy nhiên có một điều chắc
chắn: các ngân hàng không yêu cầu tín dụng và do đó Fed không làm điều đó,
khiến thị trường tiền tệ bị thắt chặt bất chấp giá cả và sản lượng đều sụt giảm.
Năm 1932, cựu Tổng thống Franklin Roosevelt đắc cử và thực hiện đại tu toàn
bộ hệ thống tài chính. Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư hoàn toàn tách
biệt, cơ chế bảo hiểm tiền gửi ra đời và Fed có nhiều quyền lực hơn đối với nền
kinh tế. Fed có thể cho nhiều định chế tài chính vay tiền và nhận nhiều loại tài sản
đảm bảo hơn. Ủy ban thị trường mở ra đời, có ảnh hưởng lớn đến “điều kiện tín
dụng của nước Hoa Kỳ”.
Fed giúp nền kinh tế Hoa Kỳ thịnh vượng trong những năm 1950 và 1960. Tuy
nhiên, quá chú trọng vào thị trường việc làm khiến Fed quên mất lạm phát. Tỷ lệ
lạm phát tăng vọt lên mức hai con số trong những năm 1970. Tình trạng này buộc
Quốc hội phải quy định lại hai nhiệm vụ của Fed vào năm 1977: ổn định giá cả và
tạo việc làm.
Năm 1979, Volcker trở thành Chủ tịch Fed và đã thành công khi chiến đấu với
lạm phát. Người kế nhiệm ông là Alan Greenspan đã duy trì tình trạng lạm phát ở
mức thấp và thỉnh thoảng có những đợt suy thoái. Trong bối cảnh khủng hoảng
ngân hàng lu mờ, “cửa sổ chiết khấu” của Fed không còn được sử dụng.
Tháng 01 năm 1987, khi chỉ số lạm phát hàng tiêu dùng chỉ là 1%, Fed tuyên
bố không còn sử dụng tổng cung tiền tệ M2 làm định hướng kiểm soát lạm
phát nữa mặc dù phương pháp này đã rất thành công từ 1979. Trước 1980, lãi
có một đại diện của Ngân hàng FED tại Quận 2, thành phố New York (hiện tại là
Timonthy Geithner) là thành viên trong ủy ban này. Thành viên từ các Ngân hàng
khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3 năm. FOMC thường xuyên tiến hành
việc chỉ đạo các nghiệp vụ thị trường tự do. Vì các nghiệp vụ thị trường tự do là
một công cụ quan trọng của FED để kiểm soát cung ứng tiền tệ nên FOMC là tiêu
điểm cho việc hoạch định chính sách của cả Hệ thống dự trữ Liên bang.
Thứ ba, các ngân hàng dự trữ. FED gồm 12 ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp
nước Hoa Kỳ nên nó là một hệ thống ngân hàng trung ương tư nhân. Mỗi ngân
hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố
mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond,
Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco.
Trong đó ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các
ngân hàng còn lại.
Bản đồ các khu vực quản lý của các ngân hàng Fed khu vực
STT
Tên ngân hàng
1
Boston
2
New York
3
11
Dallas
12
San Francisco
Thứ tư, các ngân hàng thành viên. Tất cả các ngân hàng đều là thành viên của
FED, phải tuân thủ mức dự trữ bắt buộc, được vay tiền từ FED, được thanh toán bù
trừ tại FED, chịu sự giám sát về các hoạt động bởi FED.
1.2.
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.2.1.
Lịch sử hình thành và phát triển
Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ khi Ngân hàng
Quốc gia Việt nam ra đời đến nay có thể chia thành 4 thời kỳ như sau:
Thời kỳ 1951-1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt
động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên:
Phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính; Thực hiện quản lý Kho
bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân
sách; Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng
cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch.
Thời kỳ 1955-1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Hoa Kỳ, miền
Bắc vừa xây dựng, chiến đấu, vừa chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam.
hai cấp. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng
trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật.
- Tháng 10/1993, quan hệ hợp tác giữa Việt nam và cộng đồng tài chính quốc tế
(Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á) được tái
lập và khơi thông.
- Ngày 02/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức
tín dụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/10/1998.
- Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín
dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2011. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ
của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ,
hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về
phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho
Chính phủ. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền;
bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo
đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chính phủ đã
ban hành Nghị định quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị
định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ.
1.2.2.
- Vụ Pháp chế: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước bằng
pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong ngành ngân hàng.
- Vụ Tài chính - Kế toán: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện công tác tài
chính, kế toán, đầu tư xây dựng cơ bản của NHNN và quản lý Nhà nước về kế
toán, đầu tư xây dựng cơ bản của ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Vụ Tổ chức cán bộ: Tham mưu, giúp Thống đốc, ban cán sự Đảng NHNN
thực hiện công tác tổ chức, biên chế, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên
chức; chế độ tiền lương và các chế độ khác thuộc phạm vi quản lý của NHNN theo
quy định của pháp luật.
- Vụ Thi đua khen thưởng: Tham mưu, giúp Thống đốc quản lý Nhà nước về
công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Văn phòng: Tham mưu, giúp Thống đốc chỉ đạo và điều hành hoạt động ngân
hàng; thực hiện công tác cải cách hành chính của NHNN; quản lý hoạt động thông
tin, tuyên truyền, báo chí, văn thư, lưu trữ của ngành Ngân hàng theo quy định của
pháp luật; thực hiện công tác hành chính, lễ tân, văn thư, lưu trữ tại trụ sở chính
NHNN.
- Cục Công nghệ tin học: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện nhiệm vụ quản
lý Nhà nước chuyên ngành về lĩnh vực công nghệ tin học trong phạm vi toàn
ngành Ngân hàng.
- Cục Phát hành và kho quỹ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương về lĩnh vực phát hành và
kho quỹ theo quy định của pháp luật.
- Cục Quản trị: Giúp Thống đốc quản lý tài sản, tài chính, cơ sở vật chất kỹ
thuật, hậu cần, bảo vệ, an ninh trật tự, an toàn cơ quan, chăm lo đời sống, sức khỏe
cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc trụ sở chính NHNN.
- Sở Giao dịch: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng
Trung ương.
- Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng: Cơ quan trực thuộc NHNN thực hiện
pháp luật của Nhà nước, hoạt động ngân hàng và những thành tựu về khoa học,
công nghệ của ngành Ngân hàng và lĩnh vực liên quan theo quy định của NHNN
và của pháp luật.
- Trường bồi dưỡng cán bộ ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp có thu thuộc cơ cấu tổ
chức của NHNN, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng
quản lý Nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực ngân hàng phục vụ yêu
cầu phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của
NHNN và của ngành ngân hàng theo quy hoạch, kế hoạch đã được Thống đốc phê
duyệt.
- Trường Đại học ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh: Đào tạo học sinh, sinh
viên, học viên nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành ngân
hàng, bảo hiểm, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội khác ở trong nước và
trên thế giới.
- Học viện Ngân hàng: Đào tạo cán bộ ở bậc giáo dục chuyên nghiệp, bậc đại
học và trên đại học về lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng và một số ngành,
chuyên ngành khác theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tổ chức các khoá
bồi dưỡng nghiệp vụ và công nghệ ngân hàng; tổ chức NCKH và công nghệ về
ngân hàng; thực hiện hợp tác về đào tạo và NCKH ngân hàng với các tổ chức trong
và ngoài nước theo quy định chung của Nhà nước.
Trải qua 63 năm xây dựng và trưởng thành, hệ thống Ngân hàng đã góp phần
xứng đáng vào những thành tựu của cách mạng Việt Nam, góp phần củng cố nền
độc lập, tự chủ, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Ghi nhận những đóng góp to lớn của ngành Ngân hàng
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng và
ban thưởng nhiều danh hiệu cao quý cho các tập thể và cá nhân của ngành. Năm
1996, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, ngành Ngân hàng vinh dự được đón
nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ngày 6/5/2006, tại Lễ kỷ niệm 55 năm
ngày thành lập, ngành Ngân hàng đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng phần
USD ( theo BCTC tháng
tương đương 476,2 triệu USD)
9/2014)
Địa
vị Là Ngân hàng trung ương độc Là NHTW trực thuộc Chính phủ
pháp lý
lập với Chính phủ
Chính phủ không có quyền can Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối
thiệp
vào
hoạt
động
của với NHTW thông qua việc bổ nhiệm
NHTW, đặc biệt trong việc thực các thành viên, can thiệp trực tiếp
thi và xây dựng chính sách tiền vào việc xây dựng và thực thi chính
tệ
sách tiền tệ
Là NH của các NH và là NH Là cơ quan ngang bộ của Chính phủ,
của Chính phủ Liên bang
trình Quốc hội Việt Nam chấp thuận
việc
Các ngân hàng dự trữ
bổ nhiệm. Thống đốc NHNN là thủ
Các ngân hàng thành viên
trưởng cơ quan Ngang Bộ (tức Bộ
trưởng) trong Chính phủ. Giúp việc
cho thống đốc ngân hàng là các phó
thống đốc phụ trách từng lĩnh vực cụ
thể.
Ngân hàng nhà nước có 24 đơn vị
trực thuốc, trong đó 19 đơn vị giúp
thống đốc NHNN thực hiện chức
năng quản lý nhà nước và chức năng
NHTW, 5 đơn vị là tổ chức sự
Cách
nghiệp
Hội đồng tư vấn liên bang do 12 NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố
thức điều đại diện của các Ngân hàng địa trực thuộc TW: là các đơn vị phụ
hành,
phương thuộc cục dự trữ liên thuộc của NHNN, chịu sự điều hành
Chính phủ như: phát hành tiền tệ,
•
Giám sát và quản lý các chính sách tỷ giá, chính sách về lãi
thể chế Ngân hàng để đảm bảo suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn
đó là những nơi an toàn để gửi thảo các dự thảo luật về kinh doanh
tiền và để bảo vệ quyền lợi tín ngân hàng và các tổ chức tín dụng,
dụng của người dân
xem xét việc thành lập các ngân hàng
•
Cung cấp các dịch vụ tài
và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân
chính cho các tổ chức tín dụng,
hàng thương mại nhà nước…
Chính phủ Hoa Kỳ và NHTW
các quốc gia khác như thanh
toán bù trừ, thanh toán điện tử,
phát hành tiền…
•
Ngoài ra FED còn tiến
hành nghiên cứu các vấn đề
kinh tế Hoa Kỳ cũng như kinh
tế các bang, cung cấp thông tin
về nền kinh tế thông qua các ấn
phẩm, hội thảo giáo dục và qua
website
Công cụ Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc
thi hành Lãi suất
động in tiền của FED được đảm bảo bằng các giấy tờ ghi nợ, trái phiếu…
Kiểm soát cung ứng tiền tệ: FED kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng
các hoạt động thị trường mà qua đó FED mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu,
giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia mua bán với FED gọi là giao dịch ưu tiên.
Tất cả hoạt động thị trường của FED đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của
Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi
suất trái phiếu liên bang gần với tỷ lệ mục tiêu bằng việc sử dụng thỏa thuận mua
•
lại hoặc bán đứt:
Thỏa thuận mua lại: thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế
chấp. Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời,
bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang New York tham gia các
thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiên. Các mua bán chủ yếu là các
khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của FED. Trong ngày giao dịch, FED sẽ đặt
tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp. Khi hết hạn giao dịch,
quá trình diễn ra ngược lại, FED hoàn lại chứng khoán và nhận tiền lãi. Thời gian
giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay qua đếm) tới 65 ngày, phần lớn là giao
•
dịch cho vay qua đêm và 14 ngày
Giao dịch mua đứt: Trong giao dịch này, FED mua lại trái phiếu Chính phủ và
cung cấp giấy bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại FED. Vì hoạt động
này là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn khoản lãi
với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ
này do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác
động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn
chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường. Cục dự trữ liên
bang còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải trả
khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt
cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của
Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai rộng
rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin
cậy của ngân hàng đang đi vay. Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ
thường cao hơn 3% so với “lãi suất quỹ vốn tại Fed”. Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà
các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của những khách hàng tin cậy nhất. Ở
mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do đó
mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất
cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn.
3.1.2. Thực trạng hoạt động của FED từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
2007 đến nay
Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, Fed bắt đầu can thiệp
bằng cách hạ lãi suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành khủng
hoảng tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tiếp
tục tiến hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài
chính. Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25%
qua 6 đợt xuống còn 2% chi trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008).
Lãi suất này sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày lố/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức
lãi suất gần 0 hiếm thấy.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu kéo dài từ năm 2008
đến nay, đã đẩy nền kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng trì trệ kéo dài, khiến Cục Dự trữ
Liên bang Mỹ (FED) phải liên tiếp hạ lãi suất xuống mức thấp kỷ lục 0 - 0,25% và
chi tiêu để qua đó kích thích nền kinh tế
Kỳ vọng tác động đến nền Tạo ra và duy trì sự ổn định của các thị trường tài
kinh tế
chính
Giảm thiểu phát sinh chi phí bảo hiểm rủi ro khi các
tổ chức tài chính gây quỹ tại thị trường tài chính
Tăng lượng cung tiền góp phần giảm bớt lo ngại về
rủi ro tín dụng
Cải thiện tình trạng suy thoái sâu hơn của nền kinh
tế.
Nguồn: Tạp chí tài chính ( />
Dưới tác động của QE1, nền kinh tế Mỹ đã phục hồi trong một giai đoạn
ngắn nhưng sau đó lại có dấu hiệu suy giảm. Do đó, từ ngày 3/11/2010 đến hết
tháng 6/2011, FED quyết định bơm thêm 600 tỷ USD cho chương trình QE2 để
mua trái phiếu chính phủ kỳ hạn từ 2 - 10 năm.
Để "giải cứu" và tiếp tục kích thích nền kinh tế Mỹ, FED đã triển khai chương
trình "Operation Twist" hay còn gọi là QE 2.5, bao gồm hai gói có trị giá 400 tỷ
USD và 267 tỷ USD. Nội dung chính của chương trình này là hoán đổi trái phiếu
mà cụ thể là bán trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn ngắn (đáo hạn dưới 3 năm) và
mua lại trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn dài (đáo hạn từ 6-30 năm)
Vậy tại sao không phải là QE3 mà là QE 2.5?
Nếu nhìn lại QE1vốn có ý nghĩa là nới lỏng có định lượng đến QE2 với mức
độ “bơm” tiền ngày càng giảm thì rõ ràng việc FED đưa thêm QE3 là không khả
thi khi hai gói cứu trợ trước mang lại hiệu quả thấp, vì nền kinh tế vẫn tăng trưởng
chậm chạp mà lạm phát bắt đầu tăng nhanh. QE1 và QE2 khi đó chỉ giúp mỗi vàng
là gia tăng ấn tượng, trái với mong muốn của FED. Bởi thế, FED đã không thực
Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu và các giấy tờ có giá
Lãi suất: Thông thường, lãi suất là tỷ lệ % trên khoản tiền người vay phải trả
cho người cho vay trên tiền vốn, trong những khoảng thời gian nhất định.
Tuy nhiên, khi lãi suất được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng như
công cụ để tác động lên lượng tiền tệ trong lưu thông, đó không phải là lãi
suất kinh doanh. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể ấn định mức lãi suất
trần, lãi suất sàn hoặc lãi suất cơ bản tương ứng với từng loại hình tổ chức tín
dụng, từng loại tiền gửi. Căn cứ vào quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam về lãi suất, các tổ chức tín dụng sẽ hoạch định lãi suất kinh doanh. Hiện
nay ở Việt Nam, một số hình thức lãi suất được NHNN sử dụng làm công cụ
thực thi chính sách tiền tệ quốc gia như: lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất chiết khấu.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến mức cung ứng tiền
vào lưu thông, đến cán cân thanh toán ngoại thương, chính sách xuất nhập
khẩu, chính sách đầu tư trong đó có đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Công cụ dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là số tiền được tính bởi tỷ lệ phần
trăm trên vốn huy động của các tổ chức tín dụng huy động được dưới hình
thức nhận tiền gửi và phát hành các loại giấy tờ có giá, gửi vào tài khoản mở
tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia. Tùy theo từng giai đoạn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam muốn tăng hay
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nhà nước
CHXHCNVN, bao gồm tiền giấy, tiền kim loại.
Thứ tư, hoạt động tín dụng
Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước, song còn là một ngân
hàng trung ương, vì vậy Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện các hoạt động
ngân hàng. Với tính chất là một ngân hàng trung ương, ngân hàng của các ngân
hàng, Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện hoạt động cấp tín dụng dưới các
hình thức: cho vay, bảo lãnh, tạm ứng
Thứ năm, hoạt động mở tài khoản, hoạt động ngoại hối
Thứ sáu, quản lý ngoại hối và vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và
hoạt động ngân hàng
Thứ bảy, thanh tra kiểm soát, xử lý vi phạm quản lý tài khoản, cung ứng
các dịch vụ thanh toán
3.2.2. Thực tiễn vai trò của NHNN trong thời gian vừa qua
Cuối năm 2006, tốc độ tăng trưởng GDP củaViệt Nam đạt đến 8,23%, lạm
phát chỉ còn 6,57%. Điều này được giải thích một phần do có sự sụt giảm của tăng
trưởng tín dụng (mức tăng chỉ còn khoảng 21,4% so với trên 30% của giải đoạn
2001 - 2005) và quan trọng hơn là do các ngân hàng thương mại đã chú trọng
nhiều hơn đến chất lượng tín dụng khi siết chặt hơn quy trình cấp tín dụng. Trước
diễn biến của tình hình, vào năm 2007, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới lỏng
chính sách tiền tệ, sử dụng thường xuyên hơn công cụ nghiệp vụ thị trường mở với
các thay đổi trong công cụ này như cố định phiên mua, thay đổi phương thức đấu
thầu để có thể giám sát sự biến động của thị trường tiền tệ một cách tốt nhất thông
qua các tổ chức tín dụng. Điều này đem đến những tác dụng tức thì, thể hiện thông
qua việc tăng trưởng tín dụng tăng lên đến 53,89% (một phần rất lớn lượng tín
dụng gia tăng này xuất phát từ các ngân hàng thương mại cổ phần, khi cá biệt có
ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng lên đến 100%). Mặt khác, đầu năm 2007,
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO),
từ Việt Nam và làm cho giá cả trong nước bắt đầu sụt giảm từ quý IV/2008, đồng
thời với sự sụt giảm của giá cả thế giới. Các nhà điều hành của các quốc gia trên
thế giới ngay lập tức đưa ra những giải pháp để đối phó với cuộc khủng hoảng và
Việt Nam không phải ngoại lệ. Chính phủ Việt Nam phản ứng với cú sốc kinh tế
này bằng cách chuyển hướng nền kinh tế từ bình ổn sang hỗ trợ hoạt động kinh tế
vào tháng 11/2008 và kéo theo đó là hàng loạt các giải pháp kích cầu.
Mặc dù đã có nhiều biện pháp hỗ trợ kinh tế song tăng trưởng GDP của quý
I/2009 vẫn chỉ tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 200S. Dấu hiệu hồi phục đến sau đó,
khi GDP gia tăng 4,5% trong quý II và 5,8% trong quý III, giúp tốc độ tăng trưởng
kinh tế trong chín tháng đầu năm tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2008. Để kích
thích tăng trưởng kinh tế, Chính phủ đã ban hành những chính sách hỗ trợ cho vay
bằng VND và điều chỉnh trần lãi suất huy động xuống 8%/năm, làm giảm khoảng
chênh lệch lãi suất giữa USD và VND. Điều này lại làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ
của các doanh nghiệp và dân chúng, người tachuyển sangvay VND và dùng
VNDđể mua ngoại tệ. Tình hình tương đối bất ổn khiến Ngân hàng Nhà nước phải