Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở huyện củ chi thành phố hồ chí minh từ năm 2001 2010 - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Huyện Củ Chi là đòa bàn cửa ngõ ở phía tây bắc thành phố Hồ
Chí Minh, có diện tích tự nhiên 43.496,59 ha, trong đó đất nông nghiệp
chiếm 76,06% và tổng số dân là 302.662 người (năm 2005).
Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước về việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), huyện Củ Chi đã tích
cực xây dựng các công trình thủy lợi, đường giao thông, đưa điện đến tận các
xã vùng sâu, vùng xa và thực hiện nhiều chương trình phát triển văn hóa xã hội ở nông thôn, đã làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến tích
cực: giá trò tổng sản lượng nông nghiệp không ngừng gia tăng, nhiều khu
công nghiệp - cụm công nghiệp - thương mại - dich vụ và khu dân cư mới
được hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển dòch từ
các hộ thuần nông sang các hộ kiêm nghiệp.
Tuy nhiên, trong tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp và nông
thôn, huyện Củ Chi đang có những vấn đề bức thiết cần giải quyết, đó là:
o Sản xuất nông nghiệp vẫn đang ở trình độ thấp, quy mô nhỏ, công
nghệ lạc hậu, chất lượng nông sản kém khó tiêu thụ ở trong nước và khó
cạnh tranh ở nước ngoài, dẫn đến hiệu quả sản xuất kém, thu nhập thấp và
đời sống của cư dân nông thôn còn nhiều khó khăn.
o Đất canh tác ngày càng bò thoái hóa, bạc màu, tuy năng suất cây trồng
có tăng lên chút ít.
o Môi trường tự nhiên nhất là môi trường nước có nơi, có lúc bò ô nhiễm
và mức độ ô nhiễm có xu hướng gia tăng.
o Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, nhưng
lại đang đứng trước nguy cơ thiếu lực lượng lao động nông nghiệp trẻ kế
thừa.
o Một số diện tích ruộng đất bò bỏ hoang vì canh tác không hiệu quả
đang làm cho một bộ phận hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong đời sống.

 Về cấu trúc nội dung bao gồm: Lý thuyết, kinh nghiệm thế giới, hệ

thống thước đo, đánh giá thực trạng, hệ thống giải pháp.

 Các giải pháp và kiến nghò cho từng vấn đề ở chương 3 đều được đề

cập đến ở chương 1 hoặc chương 2.

 Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích đònh tính, đònh

lượng, quan sát, điều tra thực tế, phân tích thống kê, xây dựng 25 bản đồ,
sơ đồ, biểu đồ và 41 ảnh minh họa, 40 bảng số liệu.
Nhìn chung, luận án nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững nông
nghiệp và nông thôn huyện Củ Chi và đảm bảo tính khoa học trong nghiên
cứu.
1

Hội nghò lần thứ 5 BCHTW Đảng (Khóa IX), tháng 3/2002, đã khẳng đònh CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình CNH, HĐH đất nước.


3

3. ĐĨNG GĨP CỦA LUẬN ÁN
Đóng góp quan trọng nhất của luận án là hệ thống các giải pháp phát triển
nơng nghiệp bền vững. Đóng góp này có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ
quan chức năng, khơng chỉ ở huyện Củ Chi mà còn cho các huyện khác có điều
kiện tự nhiên tương tự, trong việc xây dựng quy hoạch phát triển nong nghiệp
hoặc đề ra các chiến lược, chủ trương trong phát triển kinh tế nói chung và nơng
nghiệp nói riêng. Còn là tài liêu tham khảo cho các sinh viên làm luận văn tốt

4

nghiệp & phát triển nông thôn, Tài nguyên & môi trường, Xóa đói giảm
nghèo, Lao động - thương binh - xã hội… Trong khi đi thực đòa, chúng tôi
thực hiện nhiều cuộc quan sát về sinh thái nhân văn, môi trường, các điểm
và vùng quy hoạch đã và đang được triển khai, các công trình thủy lợi và
giao thông nông thôn…
5.2.3 Trao đổi với cấp lãnh đạo Huyện
Trao đổi, thảo luận, phân tích một số vấn đề về phát triển nông
nghiệp và nông thôn. Từ đó đề xuất các giải pháp mang tính khả thi.
5.2.4 Phân tích mẫu đất, mẫu nước
Phân tích một số mẫu đất, mẫu nước ở một vài nơi vào các thời điểm
khác nhau, để xác đònh tính chất của đất, mức độ ô nhiễm nguồn nước.
5.2.5 Phân tích vấn đề
Dùng phương pháp phân tích LOGFRAMES, PSR để xác đònh mục
tiêu, giải pháp bảo vệ môi trường huyện Củ Chi và TP. Hồ Chí Minh.
5.2.6 Ứng dụng viễn thám (giải đoán ảnh vệ tinh Landsat
TM) và kỹ thuật thông tin đòa lý (Gis) xây dựng bản đồ: hiện trạng sử dụng
đất nông nghiệp huyện Củ Chi năm 2004.
5.3 Xây dựng khung phân tích nội dung của luận án
Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển bền vững nông nghiệp và
nông thôn huyện Củ Chi dựa trên các cơ sở sau:
5.3.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông nghiệp
o Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên.
o Tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn.
o Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường con người ở nông thôn.
5.3.2 Mô hình lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông
nghiệp
o Mô hình hai khu vực (Lewis, Oshima).
o Mô hình các giai đoạn tăng trưởng và phát triển nông nghiệp (Todaro,

quả nghiên cứu về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn của bản thân
mình.


6

7. NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận - kiến nghò, luận án gồm 3
chương.
Chương 1.Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông
nghiệp và kinh nghiệm công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp bền vững
của một số nước và vùng lãnh thổ châu Á.
Chương 2. Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững và
phát triển nông thôn huyện Củ Chi giai đoạn 2001 - 2005.
Chương 3. Hệ thống các giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp
và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa huyện Củ Chi.


7

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP VÀ KINH NGHIỆM CÔNG
NGHIỆP HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ CHÂU Á.
1.1 MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG.
1.1.1 Sự khác nhau về đònh nghóa
Trong hai thập niên 1980, 1990, đònh nghóa về nông nghiệp bền vững
đã được hình thành rất khác nhau.
1.1.1.1 Các đònh nghóa về nông nghiệp bền vững trong


1.1.1.2 Các đònh nghóa về nông nghiệp bền vững trong
thập niên 1990.
 Nijkamp, Bergh và Soetoman (1990) cho rằng, sự bền vững được
xem như là một sự cân bằng được đảm bảo giữa phát triển kinh tế và bền
vững sinh thái.
 Pearce và Turner (1990) cho rằng, sự phát triển nông nghiệp bền
vững được đònh nghóa như là phát huy tối đa lợi ích của phát triển kinh tế
trên cơ sở ràng buộc việc duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời
gian và tuân thủ các qui luật sau:
a) Đối với những tài nguyên có thể tái sinh (rừng, đất, lao động), việc
sử dụng chúng phải đảm bảo ở mức thấp hơn khả năng tái sinh tự nhiên của
chúng;
b) Đối với tài nguyên không tái sinh (máy móc, vật tư nông nghiệp),
việc phát huy tối đa hiệu quả sử dụng chúng phụ thuộc vào khả năng thay
thế các nguồn lực này (ví dụ: sử dụng phân bón để tăng sản lượng thay thế
cho việc tăng sản lượng dựa vào tăng diện tích và tiến bộ kỹ thuật).
1.1.1.3 Các đònh nghóa về phát triển bền vững của Ngân
hàng Phát triển châu Á (ADB, 1991) và Tổ chức Lương Nông thế giới
(FAO).
o Đònh nghóa về phát triển bền vững của ADB
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 1991), trên thế
giới nói chung có rất nhiều đònh nghóa khác nhau về khái niệm phát triển
bền vững, tuy nhiên đònh nghóa sau đây tương đối được nhiều người ủng hộ
nhất:
“Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một
quá trình sản xuất và bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững cần phải đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu các thế hệ tương
lai” (Sustainable development is a new form of development which

Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống cho
những người trực tiếp làm nông nghiệp.



Duy trì và chỗ nào có thể, tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở
tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên
tái tạo được, không phá vỡ bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường.



Giảm thiểu khả năng bò tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin
trong nhân dân.



Qua các đònh nghóa trên, cho thấy chưa có sự đồng nhất về đònh nghóa
của nông nghiệp bền vững giữa các nhà kinh tế học. Tuy nhiên, hầu hết các
nhà kinh tế học đều nhìn nhận rằng, phát triển nông nghiệp bền vững là một
mô hình phát triển mà trong đó có sự ràng buộc giữa tăng trưởng nông
nghiệp với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường con người ở
nông thôn. Do đó, để nắm được bản chất của phát triển nông nghiệp bền
vững, chúng ta cần xem xét đến mối quan hệ ràng buộc này.
1

Lê Văn Khoa (Chủ biên) – Nguyễn Đức Lương – Nguyễn Thế Truyền, 1999, Nông nghiệp và Môi
trường, NXB Giáo Dục, tr.63.



nhưng không làm suy thoái cân bằng sinh thái của môi trường tự nhiên.
-

Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đánh
giá qua các chỉ tiêu sau:
o Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của nông nghiệp ổn đònh và
tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng dân số.
o Năng suất đất và lao động theo thời gian.
o Diện tích rừng bò phá và được khôi phục.
o Độ màu mỡ của đất nông nghiệp đang sử dụng, độ nhiễm mặn của
đất.
o Tỷ lệ diện tích đất được tưới tiêu chủ động và chất lượng nguồn nước.


11

1.1.2.2 Tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông
thôn.
Rao C.H.H và Choprak (1991) đề cập đến mối quan hệ giữa tăng
trưởng nông nghiệp - suy thoái môi trường - nghèo đói ở nông thôn như sau:
-

Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức được
thực hiện là quảng canh và thâm canh. Quảng canh: tăng sản lượng chủ yếu
do mở rộng diện tích, và thâm canh: tăng năng suất trên một đơn vò diện tích
bằng cách tăng cường các yếu tố đầu vào do ngành công nghiệp cung cấp.
Đối với phương thức quảng canh, mở rộng diện tích đất sản xuất nông
nghiệp chủ yếu bởi phá rừng. Nông nghiệp sẽ tăng trưởng trong ngắn hạn,
nhưng một khi môi trường tự nhiên suy thoái, năng suất sẽ giảm, rồi thu
nhập sẽ thấp trong khi dân số tăng lên, và hệ quả là thất nghiệp và nghèo

nhu cầu tồn tại ở hiện tại là quan trọng nhất, còn đáp ứng cho nhu cầu tương
lai sẽ không thực sự có ý nghóa. Do thu nhập thấp và tỉ lệ thất nghiệp cao,
họ sẽ sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng hoá với nguyên liệu
chính từ tự nhiên (gỗ, da thú…) của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng
cách khai thác nguồn tự nhiên để kiếm thu nhập (phá rừng, săn bắn, đánh
bắt mọi loài sinh vật bất kể kích thước). Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp
tục suy thoái và lần nữa, thu nhập của họ sẽ tiếp tục giảm và rơi vào cái
vòng luẩn quẩn của nghèo đói.
Như vậy, một hệ thống nông nghiệp bền vững mà không đảm bảo
được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì
không thể nào là hệ thống nông nghiệp bền vững được. Hay nói cách khác,
mô hình nông nghiệp bền vững là mô hình sử dụng các phương thức sản xuất
tiến bộ để thực hiện tăng trưởng nông nghiệp nhưng không làm suy thoái
cân bằng tự nhiên và đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói
cho nông dân.
Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đánh
giá qua các chỉ tiêu sau:
o Tỷ lệ hộ nghèo đói.
o Tỷ lệ lao động thất nghiệp ở vùng nông thôn.
1.2.2.3 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường con người ở
nông thôn.
Theo Braun J.V (1991), quan tâm đến sự cân bằng của môi trường tự
nhiên vẫn chưa đủ, mà còn phải quan tâm đến môi trường mà trong đó người
dân nông thôn sinh sống, đó là: nước và thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ và
bệnh tật, vệ sinh, văn hoá. Nói chung là tình trạng về sức khoẻ, dinh dưỡng
và giáo dục nguồn nhân lực nông thôn.
 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường sức khoẻ dinh dưỡng.
Strauss (1986), Haddad và Bouis (1991) cho rằng, tăng trưởng nông
nghiệp và cải thiện môi trường sức khoẻ - dinh dưỡng thường có ảnh hưởng
hỗ tương. Tăng trưởng nông nghiệp tạo ra việc làm và thu nhập, do đó làm

hợp nông - lâm - nuôi trồng thuỷ sản, các kỹ thuật hoá sinh để chống sâu
dòch bệnh. Nếu kỹ thuật này có thể đảm bảo không làm suy thoái môi
trường, thì nông nghiệp sẽ bền vững. Nhưng nếu trình độ văn hoá của nông
dân thấp kém (tỉ lệ mù chữ cao) thì rất khó khăn đối với họ để hiểu về các
khái niệm bền vững, suy thoái môi trường và hiểu được các kỹ thuật có thể
làm giảm suy thoái môi trường. Và điều này sẽ là rào cản đối với áp dụng
các tiến bộ kỹ thuật mới vừa đem lại lợi ích cho họ vừa đồng thời gìn giữ
môi trường. Do đó, tăng trưởng nông nghiệp mà không gắn với cải thiện
trình độ dân trí nông thôn sẽ ảnh hưởng tới suy thoái môi trường.
Vậy thì, tăng trưởng nông nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến cải thiện
môi trường sức khỏe - dinh dưỡng ở nông thôn. Tuy nhiên, khi lựa chọn các
kỹ thuật để thực hiên tăng trưởng mà ảnh hưởng đến suy thoái môi trường,
ảnh hưởng tích cực sẽ bò giảm đi và hệ quả này sẽ trầm trọng thêm khi môi
trường giáo dục ở nông thôn không được cải thiện.
Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo được sự bền
vững trong cải thiện tình trạng sức khỏe - dinh dưỡng, trình độ văn hóa cho


14

người dân nông thôn thì không thể nào là hệ thống nông nghiệp bền vững
được.
Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đánh
giá qua các chỉ tiêu sau:
o Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở nông thôn.
o Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
o Tỷ lệ nông dân bò các bệnh chủ yếu liên quan đến môi trường (bệnh
sốt rét, đường ruột, dòch tả, ngộ độc).
o Tỷ lệ nông dân mù chữ.
Từ phân tích 3 mối quan hệ chủ yếu trên, phát triển nông nghiệp bền

Biểu đồ 1.1: Đường tổng sản phẩm nông nghiệp
o Đối với khu vực công nghiệp:
Lewis cho rằng mức tiền lương của khu vực công nghiệp cao hơn khu
vực nông nghiệp, ở mức cao hơn 30% (W1= 1,3w0) có thể thu hút lao động
dư thừa khu vực nông nghiệp. Trong hình (1.2), cho thấy:

 Khi

1

Li  L3 ,Wi  W1 . Khi Li > L3, Wi tăng.

TS Đinh Phi Hổ (Chủ biên), 2006, Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Thống kê, tr. 29-37.


16

 Khi khu vực công nghiệp thu hút L1 từ khu vực nông nghiệp,

tổng sản phẩm Y1 với K1. Vì tiền lương công nhân không đổi, tổng sản
phẩm tăng do đó lợi nhuận nhà tư bản công nghiệp tăng. Lợi nhuận (P)
được tái đầu tư mở rộng sản xuất, do đó vốn sản xuất mới sẽ là: K2= K1+P
tổng sản phẩm sẽ là TP2 (K2), Li = L2.
thừa.

 Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi thu hút hết lao động dư

Biểu đồ 1.2: Quá trình dòch chuyển lao động

 Nếu khu vực công nghiệp tiếp tục thu hút lao động từ khu vực


 Giai đoạn 2: Đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng các

ngành nông nghiệp, công nghiệp và dòch vụ. Tiếp tục đa dạng hóa sản
xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất theo quy mô lớn
(trang trại) nhằm mở rộng quy mô sản lượng. Phát triển công nghiệp chế
biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công
nghiệp thâm dụng lao động.
Như vậy, phát triển nông nghiệp tạo điều kiện mở rộng thò trường
công nghiệp, tăng quy mô sản xuất công nghiệp và nhu cầu về các hoạt
động dòch vụ.
Kết thúc giai đoạn 2: thể hiện tốc độ tăng trưởng việc làm lớn hơn tốc
độ tăng trưởng lao động.

 Giai đoạn 3: Phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm

giảm nhu cầu lao động.

Sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dòch vụ của giai
đoạn 2 làm cho hiện tượng thiếu lao động ngày càng phổ biến. Do đó:

 Trong nông nghiệp đẩy nhanh cơ giới hóa và ứng dụng công
nghệ sinh học để tăng nhanh năng suất lao động. Nông nghiệp có thể
giảm số lao động chuyển sang khu vực công nghiệp mà không ảnh hưởng
đến tổng sản phẩm nông nghiệp.

 Công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm
nhập khẩu và chuyển dòch hướng về xuất khẩu. Ngành công nghiệp thâm
dụng lao động thu hẹp và ngành công nghiệp thâm dụng vốn sẽ mở rộng
để nâng sức cạnh tranh và giảm nhu cầu lao động.

 Sản lượng nông nghiệp vẫn gia tăng nhưng chủ yếu là do mở

rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.

Giai đoạn 2: Chuyển dòch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng
hóa.
Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp là bước trung gian từ sản
xuất tự cung tự cấp sang chuyên môn hóa.
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau:

 Cơ cấu cây trồng con vật nuôi trên từng đơn vò diện tích đất nông

nghiệp, trên từng hộ, được phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng,
để thay thế cho chế độ canh tác độc canh trong sản xuất trước kia.
Nhờ vậy, tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp được hạn chế đáng
kể.

 Sử dụng giống mới kết hợp với phân bón hóa học và nước tưới

tiêu chủ động, làm tăng năng suất trong nông nghiệp. Sản lượng
lương thực tăng, nhưng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản
xuất, phát triển nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác.

 Sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng

trên một đơn vò diện tích đất nông nghiệp và sản xuất hướng tới thò
trường, thoát khỏi tự cung tự cấp.
Giai đoạn 3: Nông nghiệp hiện đại - Đây là giai đoạn phát triển cao
nhất của nông nghiệp.
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này thể hiện ở các mặt sau:


(1)

Y: Sản lượng nông nghiệp, N: Yếu tố tự nhiên, L: Lao động
Trong giai đoạn sơ khai, quy luật năng suất biên giảm dần thể hiện
trong sản xuất.
Đường biểu diễn F1 cho biết mối quan hệ giữa số lao động nông
nghiệp (L) và sản lượng tính trên 1 ha đất nông nghiệp (Y/S).
Lúc đầu, khi tăng thêm 1 đơn vò lao động, sản lượng trên 1 ha sẽ tăng
hơn 1 đơn vò. Sau đó, phần gia tăng của sản lượng trên 1 ha sẽ giảm dần khi
số lao động sẽ tiếp tục tăng lên. Nguyên nhân của năng suất biên giảm dần
chủ yếu là do không chuyển được số lao động dư thừa trong khu vực nông
nghiệp sang khu vực công nghiệp và dòch vụ.
Y/S
F1

O
L


20

Biểu đồ 1.3: Năng suất biên của lao động nông nghiệp.
Giai đoạn đang phát triển:
Trong giai đoạn kế tiếp này, sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc
vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón,
thuốc hóa học).
Mối quan hệ này được khái quát bởi hàm sản xuất sau:
Y = F (N, L) + F (R)


y

y

Biểu đồ 1.5: Năng suất lao động và thu nhập của một lao động nông nghiệp
Mối quan hệ này được khái quát bởi hàm sản xuất sau:
Y = F (N, L) + F (R) + F (K)

(3)

K: Vốn sản xuất
Trong giai đoạn phát triển, sản lượng trên 1 lao động (năng suất lao
động, Y) tăng lên tương ứng với lượng vốn sản xuất (K) sử dụng tăng thêm
và thu nhập của 1 lao động (I) cũng tăng lên tương ứng.
Trong biểu đồ trên, lúc đầu ở mức vốn K1, năng xuất lao động (Y1) và
thu nhập là I1 (tương ứng số lao động là L1). Khi vốn tăng lên K2, năng xuất
lao động (Y2) và thu nhập là I2 (tương ứng số lao động là L2). Như vậy, do
thay đổi vốn làm cho năng suất lao động tăng, nâng cao thu nhập và tiết
kiệm được lao động (L2 – L2).
Thu nhập bình quân của người lao động nông nghiệp trong các nước
đang phát triển và phát triển có sự chênh lệch rất lớn vì khác nhau năng suất
lao động. Để thu hẹp khoảng cách này, theo Park không còn có con đường
nào khác ngoài việc chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực
công nghiệp.
Hàm sản xuất của giai đoạn phát triển cho thấy để tăng năng suất đất
cần tăng đầu tư cho khu vực công nghiệp để tăng khả năng cung cấp các yếu
tố đầu vào cho nông nghiệp. Vậy muốn tăng thu nhập cho lao động nông
nghiệp cần tăng đầu tư vốn cho nông nghiệp dưới dạng máy móc, trang thiết
bò hiện đại.
1.2.3 Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông

nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông
thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng sản xuất
phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn” 1
1.2.3.3 Mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn,
bền vững, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, đạt năng suất, chất
lượng, hiệu quả và giá trò cao trên 1 ha, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất
1

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghò lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb
Chính trò quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.93-94.


23

trong nước, có khả năng cạnh tranh trên thò trường; nông thôn có cơ cấu kinh
tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng phát triển và từng bước
được hiện đại, xây dựng con người mới, nông thôn mới, giàu mạnh, công
bằng, dân chủ, văn minh.
1.2.3.4 Hệ thống tiêu chí về CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn
Tiêu chí xác lập một nền nông nghiệp đã đạt tới trình độ CNH,
HĐH có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau: 1
âp5Tiêu chí
ât5chính sách

Tiêu chí xã
hội

trong khi công nghiệp là 15%. Tại mức GNP/người = 600USD, tỷ trọng GDP
nông nghiệp = tỷ trọng GDP công nghiệp. Ở mức GNP/người = 1000USD, tỷ
trọng nông nghiệp là 20%, trong khi công nghiệp là 28%.
Những quốc gia có GNP/người < 600USD được Chenery xếp vào giai
đoạn trước của quá trình phát triển (kém phát triển), còn những quốc gia có
thu nhập từ 600- 3.000USD được xếp vào giai đoạn giữa (chuyển tiếp phát
1

PGS.TS Vũ Năng Dũng, Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội -2004, tr.218.


24

triển) và thu nhập trên 3.000USD được xếp vào giai đoạn sau (phát triển).
Đặc trưng của từng giai đoạn phát triển chính là cơ cấu GDP và sự thay đổi
giai đoạn từ thấp lên cao khi sự chuyển dòch cơ cấu GDP theo hướng tỷ trọng
GDP nông nghiệp giảm dần.
Lý thuyết của Chenery cho thấy rõ trước điểm giữa, GDP phụ thuộc
chủ yếu vào nông nghiệp, nhưng qua điểm giữa GDP phụ thuộc vào khu
vực công nghiệp (điểm giữa có thể nhận được nơi mà tỷ trọng GDP nông
nghiệp bằng với GDP công nghiệp). Điều này có ý nghóa quan trọng đối với
các nước đang phát triển nhận diện được thời điểm nào, khu vực nào của
nền kinh tế cần được sự quan tâm về phân bổ đầu tư, có hệ thống chính sách
kích thích ưu đãi thích hợp.


24

1.3 KINH NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ PHÁT TRIỂN

cách ruộng đất, hình thành kinh tế trang trại, xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp kiểu mới.



Thập niên 1960: Năm 1961, Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp Nhật Bản
đã ban hành Luật Nông nghiệp cơ bản (Agriculture Basic Law), nêu rõ mục
đích của các chính sách nông nghiệp là tăng năng suất lao động và nâng cao
thu nhập của người nông dân để ngang bằng với thu nhập của những người
làm việc trong các lónh vực khác. Để đạt được mục tiêu trên, Chính phủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status