1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------o0o--------
TRẦN QUANG THÁI
NHẬN THỨC LUẬN
CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------o0o--------
TRẦN QUANG THÁI
NHẬN THỨC LUẬN
CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.80.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
1.1. Những điều kiện lịch sử và tiền đề hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại
và nhận thức luận của nó ....................................................................... 18
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội................................................................. 18
1.1.2. Tiền đề khoa học tự nhiên................................................................ 24
1.1.3. Tiền đề tư tưởng – lý luận................................................................ 27
1.2. Những nhà tư tưởng đặt nền móng cho nhận thức luận của chủ nghĩa
hậu hiện đại ........................................................................................... 37
1.2.1. Jean François Lyotard với thực tại luận và tri thức luận................... 37
1.2.2. Richard Rorty với nhận thức luận .................................................... 48
1.2.3. Jacques Derrida với phương pháp giải cấu trúc................................ 54
1.2.4. Michel Foucault với phương pháp phân tích diễn ngôn ................... 56
Chương 2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHẬN THỨC LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA
HẬU HIỆN ĐẠI
2.1. Quan niệm về nhận thức ........................................................................ 62
2.1.1. Sự kiến tạo xã hội ............................................................................ 63
2.1.2. Vai trò của hoàn cảnh xã hội đối với sự nhận thức........................... 72
2.1.3. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự nhận thức ...................................... 77
2.2. Quan niệm về phương pháp nghiên cứu................................................. 85
2.3. Quan niệm về tri thức ............................................................................ 94
2.3.1. Tri thức tự sự ................................................................................... 94
2.3.2. Các đại tự sự và biện chứng giữa cái phổ quát và cái đặc thù......... 101
2.4. Quan niệm về chân lý .......................................................................... 118
5
Chương 3. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NHẬN THỨC LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA
HẬU HIỆN ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG
quan được tìm thấy. Điều này cho thấy có sự quan tâm khá lớn đối với chủ nghĩa
hậu hiện đại từ nhiều góc độ.
Trong lĩnh vực triết học, chủ nghĩa hậu hiện đại ngay từ khi xuất hiện cho
đến nay, đã có sự phát triển và ảnh hưởng khá rộng tới các khoa học xã hội và
nhân văn, thực tiễn xã hội tại nhiều quốc gia trên thế giới 1, bên cạnh đó, nó còn
là chủ đề gây tranh luận sôi nổi trong triết học và khoa học phương Tây vào
những năm cuối của thế kỷ XX. Trong số các nội dung tư tưởng của chủ nghĩa
hậu hiện đại, các quan niệm nhận thức luận đóng vai trò cơ sở và chủ đạo, chúng
là cốt lõi lý luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, và cũng là chủ đề chính của đa số
bàn luận và tranh cãi giữa chủ nghĩa hậu hiện đại với các trường phái triết học và
khoa học khác. Chính vì thế, nghiên cứu nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện
đại là công việc mang tính cấp thiết để góp phần nhận diện một cách đầy đủ, sâu
1
Năm 2006, một số nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thành lập Viện phát triển hậu hiện đại ở Trung Quốc
(Institute for Postmodern Development of China) nhằm nghiên cứu vận dụng CNHHĐ vào Trung Quốc, xin tham
khảo www.postmodernchina.org. Các nghiên cứu theo hướng này cũng xuất hiện nhiều ở Nhật Bản, An Độ, Úc,
Hàn Quốc, Singapore.v.v..
7
sắc hơn về chủ nghĩa hậu hiện đại, và qua đó nắm bắt được sự ảnh hưởng của
chủ nghĩa hậu hiện đại trong triết học và khoa học phương Tây hiện nay.
Các tư tưởng nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại qua các công
trình của các triết gia hậu hiện đại được trình bày không mang tính tập trung và
chưa được luận giải, làm sáng tỏ một cách đầy đủ, bởi vì trước tiên, các triết gia
hậu hiện đại thường có khuynh hướng phi hệ thống hóa các lý thuyết của họ, và
thứ hai là họ không có ý định trình bày tư tưởng của mình trong khuôn khổ
chung của trường phái, vì trào lưu triết học hậu hiện đại không tồn tại như một
luận, là công việc mang tính cấp bách.
Nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại với sự ảnh hưởng tới cảm thức
sống, lối sống của số đông người tại các xã hội phát triển và đang phát triển, có
nhiều biểu hiện đa dạng nơi các hoạt động thực tiễn như chính trị, văn hóa, giáo
dục, nghệ thuật, giải trí, đạo đức.v.v.. Trong điều kiện nước ta ngày càng hội
nhập sâu rộng vào đời sống văn hóa, kinh tế, giáo dục, chính trị toàn cầu, nhận
thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại chắc chắn sẽ có ảnh hưởng và tác động ít
nhiều tới lối sống của giới trẻ cùng các hoạt động thực tiễn ở nước ta hiện nay và
trong tương lai. Vì thế, nghiên cứu làm sáng tỏ nhận thức luận của chủ nghĩa hậu
hiện đại là rất cần thiết trong việc nắm bắt, định hướng tư duy và dư luận xã hội.
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Nhận thức luận của chủ nghĩa
hậu hiện đại” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành lịch sử triết học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại là chủ đề có tính chuyên sâu và
phổ biến xét từ giác độ triết học và từ giác độ sự ảnh hưởng đối với khoa học và
thực tiễn. Từ phạm vi xem xét của chúng tôi cho thấy, các công trình nghiên cứu
nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại từ giác độ triết học không nhiều như
các công trình nghiên cứu nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại từ giác độ
sự ảnh hưởng của nó đối với khoa học và thực tiễn. Có thể khái quát các công
trình đã công bố thành ba chủ đề sau:
Chủ đề thứ nhất, gồm các công trình nghiên cứu tổng quan về chủ nghĩa
hậu hiện đại, trong đó có đề cập tới nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại.
9
Trong chủ đề này có các công trình đã công bố như: Triết học lục địa thế kỷ XX
(Continental Philosophy in the 20th century) của Richard Kearney, Routledge
xuất bản năm 1993; Nhập môn về chủ nghĩa hậu hiện đại (A Primer on
Postmodernism) của Stanley Grenz, Cambridge University Press xuất bản năm
chủ nghĩa hậu hiện đại phương Đông trong việc giải quyết các thách thức xã hội.
Các công trình vừa nêu tập trung làm rõ cội nguồn lịch sử hình thành chủ
nghĩa hậu hiện đại, chỉ ra những vấn đề mới phát sinh trong các lĩnh vực nghiên
cứu và hoạt động thực tiễn do sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại mang lại.
Chủ đề thứ hai, gồm các công trình nghiên cứu về các vấn đề nhận thức
luận của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong chủ đề này có các công trình đã công bố
như: Cuộc sống thí nghiệm: Sự kiến tạo xã hội của các sự kiện khoa học
(Laboratory Life: the Social Construction of Scientific Facts) của Bruno Latour
và Steve Woolgar, Princeton University Press xuất bản năm 1986; Khoa học như
tri thức xã hội: Các giá trị và tính khách quan trong điều tra khoa học (Science
as Social Knowledge: Values and Objectivity in Scientific Inquiry) của Helen
Longino, Princeton University Press xuất bản năm 1990; Sự kiến tạo hiện thực
xã hội (The Construction of Social Reality) của John Searle, The Free Press xuất
bản năm 1995.v.v..
Công trình Cuộc sống thí nghiệm: Sự kiến tạo xã hội của các sự kiện khoa
học đưa ra nhiều quan sát về phương thức thực hiện một công trình khoa học,
bao gồm sự mô tả những mối tương quan phức tạp giữa các thao tác thí nghiệm
thông thường của một nhà khoa học, với việc công bố các kết quả nghiên quả
trên báo chí, uy tín khoa học, tài chính cùng các yếu tố khác… nhằm chỉ ra cách
thức trong đó các hoạt động hàng ngày của nhà khoa học dẫn tới sự kiến tạo nên
các sự kiện khoa học, nói cách khác, đó là cách thức các sự kiện khoa học được
tạo ra trong phòng thí nghiệm như thế nào.
11
Công trình Khoa học như tri thức xã hội: Các giá trị và tính khách quan
trong điều tra khoa học chỉ ra mối tương quan giữa các giá trị xã hội vốn là một
phần của điều kiện nghiên cứu khoa học với tính khách quan của tri thức khoa
học. Bản thân sự quan sát và dữ liệu do nhà khoa học thu thập không là bằng
University Press xuất bản năm 1992; Tâm lý học và chủ nghĩa hậu hiện đại
(Psychology and Postmodernism) của Steinar Kvale, Sage xuất bản năm 1992;
Từ quyền lực tới hợp tác (From Power to Partnership) của Alfonso Montuori,
Harper Collins xuất bản năm 1993; Đạo đức học hậu hiện đại (Postmodern
Ethics) của Zygmunt Bauman, Blackwell xuất bản năm 1993; Chủ nghĩa hậu
hiện đại, kinh tế học, và tri thức (Postmodernism, economics, and knowledge)
của J. Amariglio, D. Ruccio, S. Cullenberg, Rouledge xuất bản năm 2001; Về
quan điểm đạo đức học của chủ nghĩa hậu hiện đại của Nguyễn Hồng Thúy,
đăng trên Tạp chí Triết học, số tháng 7/2009; Nhận biết về chủ nghĩa hậu hiện
đại trong nghệ
thuật
của
Hồ Sỹ Vịnh,
/>
VN/vanhoa/2009/9/119418.cand; Tư duy hậu hiện đại và những cách thu nhận
kiến thức của Nguyễn Hào Hải, Báo An ninh thế giới cuối tháng, tháng
8/2009.v.v..
Công trình Thực tại không phải cái thường là: chính trị học sân khấu, tôn
giáo may sẵn, những huyền thoại toàn cầu, sự sang trọng nguyên thuỷ, và những
kỳ quan khác của thế giới hậu hiện đại chỉ ra ảnh hưởng của nhận thức luận của
chủ nghĩa hậu hiện đại đối với chính trị học qua sự mô tả những cách thức xã hội
kiến tạo nên thực tại, cách thức đa nguyên luận trở thành phong cách tư duy của
đời sống hiện nay, và cách thức những cấu trúc chính trị và văn hoá đang trở nên
lung lay trước sự gia tăng của những xung đột về niềm tin.
Công trình Giáo dục hậu hiện đại: chính trị, văn hoá và phê bình xã hội
vạch rõ ảnh hưởng của nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với giáo
mới của các chuẩn mực đạo đức.
14
Công trình Chủ nghĩa hậu hiện đại, kinh tế học, và tri thức tập trung làm
sáng tỏ sự ảnh hưởng của nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với kinh
tế học, trên cơ sở các ý tưởng nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, các tác
giả đưa ra một vài phương pháp giúp cho các nhà kinh tế học nghiên cứu những
giới hạn của kinh tế học tân cổ điển chính thống và đồng thời gợi mở những
hướng đi mới cho việc mở rộng và đào sâu những hiểu biết về kinh tế và xã hội.
Công trình Về quan điểm đạo đức học của chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ ra
rằng, với những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại, đạo đức không phải là những
quy tắc có giá trị lâu dài, mà là nguồn cảm hứng sáng tạo, đạo đức không phải là
cái được xác định trước bởi lương tâm hay bổn phận, mà là hành động cụ thể, là
phương thức hành động trong đời sống xã hội đầy ắp tri thức.
Công trình Nhận biết về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật giới
thiệu về sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong lịch sử và chỉ ra những
ảnh hưởng của nó trong sáng tác nghệ thuật, giải trí và văn hóa.
Công trình Tư duy hậu hiện đại và những cách thu nhận kiến thức giới
thiệu đôi nét về nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại và bước đầu liên hệ
với thực tiễn giáo dục thế giới và Việt Nam.
Điểm chung nơi các công trình vừa nêu là sự đào sâu về những tác động,
ảnh hưởng và biểu hiện của nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại trong các
ngành khoa học xã hội và nhân văn, và một số lĩnh vực thực tiễn liên quan.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung làm rõ các
vấn đề tổng quan về chủ nghĩa hậu hiện đại như một trào lưu, một khuynh hướng
triết học có ảnh hưởng trên thế giới, làm rõ tính kiến tạo xã hội của quá trình
nhận thức khoa học, chỉ ra sự ảnh hưởng của nhận thức luận của chủ nghĩa hậu
hiện đại đối với một số ngành khoa học xã hội và nhân văn và thực tiễn. Tuy
tư tưởng hậu hiện đại về nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, luận án đã
đào sâu nội hàm của chúng một cách khá đầy đủ và trọn vẹn bằng nguồn chất
liệu triết học, khoa học và thực tiễn.
16
Thứ ba, luận án đã vạch ra được một số tác động của nhận thức luận của
chủ nghĩa hậu hiện đại đối với khoa học và đời sống.
Thứ tư, luận án đánh giá nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại từ lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Nghiên cứu nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn đối với công tác lý luận và hoạt động thực tiễn ở nước ta trong bối
cảnh giao lưu, hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực như hiện
nay.
Về ý nghĩa lý luận, luận án làm sáng tỏ và hệ thống hóa nhận thức luận của
chủ nghĩa hậu hiện đại, một trong những trào lưu triết học có ảnh hưởng trên thế
giới ngày nay, qua đó góp phần bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo
điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi, nghiên cứu lý luận giữa nước ta với thế giới.
Từ việc chỉ ra những ảnh hưởng của nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại
trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới, luận án đóng góp
vào việc mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu xã hội và nhân văn ở nước
ta.
Về ý nghĩa thực tiễn, từ việc chỉ ra những ý nghĩa thực tiễn của nhận thức
luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, luận án góp phần cung cấp thông tin cho các
đánh giá về ảnh hưởng và sự thâm nhập của văn hóa nước ngoài vào Việt Nam
cũng như hoạch địch các chính sách trong lĩnh vực văn hóa. Ngoài ra, luận án
còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
chuyên đề Triết học phương Tây hiện đại, Lịch sử nhận thức luận, Phương pháp
1.1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA
HẬU HIỆN ĐẠI VÀ NHẬN THỨC LUẬN CỦA NÓ
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Bối cảnh Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thập niên 70 của
thế kỷ XX là thời kỳ hồi phục và phát triển tăng tốc của chủ nghĩa tư bản với sự
hỗ trợ mạnh mẽ của những thành tựu mới trong lĩnh vực khoa học – công nghệ,
đặc biệt là điều khiển học, công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông, sản xuất
tự động hoá, tin học hoá. Sức mạnh kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản
ngày càng trở thành nguồn lực chủ yếu đối với sự phát triển của khoa học – công
nghệ, và ngược lại, những thành tựu của khoa học – công nghệ được chủ nghĩa
tư bản áp dụng triệt để phục vụ cho mục đích kinh tế và chính trị. Khoa học –
công nghệ, dưới chủ nghĩa tư bản đã trở thành một công cụ phục vụ đắc lực cho
lòng tham lam và tham vọng cai trị của nó.
Dòng chu chuyển của tư bản ngày càng thâm nhập sâu rộng vào mọi ngõ
ngách của thế giới qua sự đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia, quá trình công
nghiệp hoá, sự bành trướng lan rộng của chủ nghĩa tư bản biến các khu vực tách
rời nhau của thế giới với đầy những khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học – công nghệ trở thành một thị trường thống nhất, trong đó chỉ còn lại những
yếu tố chủ yếu là sản xuất, tiêu dùng, hưởng thụ. Chủ nghĩa thực dân mới, phiên
bản chính trị mới của chủ nghĩa tư bản, đã gặp phải những phản kháng mạnh mẽ
từ các nước thuộc thế giới thứ ba qua các phong trào cách mạng giải phóng dân
tộc, ý đồ “khai hoá” thế giới thứ ba của các thế lực chính trị tư bản gần như phá
sản hoàn toàn.
19
Việc đẩy mạnh sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra sự phong phú, đa dạng về
toàn bộ điều kiện căn bản của nó, so với thế giới mà Bismarck đã sống và
chết,…, điều mà chúng ta xem quan trọng là, những khác biệt hơn là tương đồng,
nhiều yếu tố gián đoạn hơn là liên tục. Một cách ngắn gọn, lịch sử đương đại cần
được xem như một thời kỳ khác biệt” [40, tr.9 – 12]. Từ một góc độ khác, nhà xã
hội học Daniel Bell (1919 -
) cho rằng: “Chúng ta đang tiến đến một khúc
quanh của xã hội phương Tây: chúng ta đang chứng kiến sự kết thúc của ý niệm
tư sản – quan niệm xem hành động con người và các quan hệ xã hội, đặc biệt là
trao đổi kinh tế - đã tạo nên kỷ nguyên hiện đại trong suốt 200 năm qua” [44,
tr.7].
Thời kỳ hiện đại khởi đi từ phong trào Khai sáng (thế kỷ XVIII) cho đến
những năm 60 của thế kỷ XX, đặt nền móng trên lý tính, chủ thể tính và sự hợp
lý hoá. Sự xuất hiện của thời kỳ hiện đại là một bước ngoặt lịch sử nối tiếp thời
kỳ trung cổ, là một sự đoạn tuyệt với xã hội phong kiến cùng những khuôn mẫu
văn hoá của nó. Đó là lòng sùng kính đối với quá khứ và truyền thống với những
biểu tượng và chuẩn mực được thần thánh hoá bởi huyền thoại và tôn giáo. Trái
lại, ở thời kỳ hiện đại, tinh thần phê phán trở thành một nền tảng chủ yếu, mọi
hình thức của đời sống xã hội đều được xem xét dưới ánh sáng của lý trí. Theo J.
Habermas (1929 - ), sự chiến thắng của lý tính và cách tiếp cận khoa học đối
với thế giới đã xoá đi hình ảnh mang tính huyền thoại và tôn giáo về thế giới
theo nhãn quan thời trung cổ, thủ tiêu chủ nghĩa biểu tượng ngây thơ [Xem: 79,
tr.27]. Sự liên kết giữa khoa học với công nghệ đã trở thành công cụ đắc lực
trong việc tìm hiểu và chinh phục thế giới. Đối lập với thời trung cổ, thời kỳ hiện
đại đã chia cắt hoàn toàn các lĩnh vực Chân, Thiện, Mỹ. Các triết gia của thời kỳ
hiện đại đã đưa ra nhiều lý giải khác nhau về tương quan giữa chúng trong bối
cảnh hình ảnh khoa học về thế giới được chấp nhận phổ quát và bắt đầu thể hiện
chức năng quyền lực đằng sau.
một trật tự xã hội hợp lý. Xã hội được xây dựng trên sự tự chủ cá nhân và các
quy tắc hợp lý trong từng bộ phận của nó, được dẫn dắt bởi tinh thần đổi mới
22
thường xuyên. Những thành tựu của lý trí là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của
nhân loại.
Trong suốt chiều dài lịch sử của nó, thời kỳ hiện đại đã gặt hái được nhiều
thành tựu to lớn trong hành trình tiến bộ của nền văn minh nhân loại, góp phần
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần
ngày càng cao của xã hội, khẳng định sức mạnh của lý trí con người trước tự
nhiên và xã hội. Nhờ vào khoa học, thời kỳ hiện đại đã tạo ra một thế giới mới
mang tính công nghiệp và thực dân, thúc đẩy quá trình chuyển biến xã hội theo
xu hướng công nghiệp hoá, chuyên môn hoá, vật chất hoá, cá nhân hoá và đặc
biệt là hợp lý hoá. Nó đặt niềm tin vào sự tiến bộ xã hội trong đó mọi người đều
được tự do, bình đẳng, bác ái, tin vào khả năng lý trí của con người và các giải
pháp phát triển xã hội của chủ nghĩa tư bản. Song, theo các nhà hậu hiện đại, bên
cạnh những thành tựu lớn lao ấy, thời kỳ hiện đại cũng chứa đựng nhiều mặt trái.
Chẳng hạn, sự chà đạp lên nền độc lập của các quốc gia qua sự xuất hiện của chủ
nghĩa đế quốc thực dân, sự tàn sát lẫn nhau vì lợi ích kinh tế và chính trị qua hai
cuộc thế chiến, sự xúc phạm nhân quyền nghiêm trọng qua nạn diệt chủng người
Do Thái (Holocaust), sự bóc lột kinh tế gây ra sự nghèo đói và bệnh tật ở thế giới
thứ ba, lòng tham lam vô độ trong việc khai thác tự nhiên gây nên tình trạng ô
nhiễm môi trường, tham vọng đàn áp được che đậy nơi các thiết chế chính trị xã hội, sự phân biệt giới tính và chủng tộc đã đẩy những niềm tin và lý tưởng cao
đẹp của thời kỳ hiện đại đến chỗ tự mâu thuẫn và khủng hoảng, mở đường cho
giai đoạn nối tiếp – thời kỳ hậu hiện đại.
Theo một số học giả, thời kỳ hậu hiện đại là khoảng thời gian nối tiếp thời
kỳ hiện đại với những đặc trưng về xã hội, triết học, khoa học, văn hoá, nghệ
thuật tương phản gần như hoàn toàn với thời kỳ hiện đại. Anthony Giddens cho
vẫn còn đó câu hỏi về những giá trị phổ quát cho những nền văn hoá khác nhau.
Theo Daniel Bell, thời kỳ hậu hiện đại là sản phẩm của việc áp dụng
những cuộc phản kháng lại thời kỳ hiện đại vào cuộc sống đời thường, là sự mở
24
rộng của lối sống phản loạn, siêu cá nhân và hưởng thụ. Sự nở rộ của văn hoá
hậu hiện đại là cuộc tấn công toàn diện vào truyền thống với những mâu thuẫn
sâu sắc giữa chứng tự si mê hung hăng với các mệnh lệnh quan liêu, kỹ trị của
cấu trúc kinh tế tư bản và chính thể dân chủ.
Những điều kiện kinh tế - xã hội của thời kỳ này là mảnh đất màu mỡ cho
sự bùng phát, nở rộ của tâm thức hay tinh thần hậu hiện đại, tinh thần này biểu
hiện trên nhiều phương diện của đời sống xã hội như lối sống, văn hóa, chính trị,
thẩm mỹ, giáo dục, trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật như thi ca, tiểu thuyết,
hội họa, kiến trúc, điêu khắc, điện ảnh, giải trí, trên các khoa học xã hội và nhân
văn, và trên lĩnh vực triết học với chủ nghĩa hậu hiện đại, trong đó cốt lõi là nhận
thức luận.
Tiếp theo dưới đây, chúng tôi xin đi vào làm rõ điều kiện khoa học và tiền
đề tư tưởng – lý luận của sự hình thành nhận thức luận của chủ nghĩa hậu hiện
đại.
1.1.2. Tiền đề khoa học tự nhiên
Lịch sử khoa học ở thế kỷ XX là giai đoạn với nhiều đột phá, phát minh
trên nhiều lĩnh vực, làm thay đổi cơ bản nhận thức về giới tự nhiên, xã hội và tư
duy, mở ra những chân trời mới lạ cho những nỗ lực khám phá ngày càng gia
tăng.
Đầu tiên là sự ra đời của thuyết tương đối và cơ học lượng tử vao thập
niên 20, nó làm đảo lộn nhận thức về thực tại khách quan vốn đang chịu ảnh
hưởng của các lý thuyết cổ điển. Từ các phát minh này, một số nhà triết học và
khoa học phương Tây cho rằng, thực tại khách quan không còn được xem là
tham số đặc thù của một hệ động học trong từng tình huống cụ thể chứ không thể
có một mô hình bao quát cho mọi tình huống. Lý thuyết tai biến dẫn tới một hệ
quả là, khoa học nên đi tìm những quy luật bộ phận trong từng tình huống hơn là
đi tìm những quy luật bao quát cho mọi tình huống.