BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ Y TẾ
ĐẶNG HOÀNG HẢI
TRẦM CẢM Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
TỶ LỆ MẮC VÀ
HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRONG ĐIỀU TRỊ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ Y TẾ
ĐẶNG HOÀNG HẢI
TRẦM CẢM Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
TỶ LỆ MẮC VÀ
HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRONG ĐIỀU TRỊ
Chuyên ngành
Mã số
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 01
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 04
1.1. Chẩn đoán rối loạn trầm cảm .......................................................... 04
1.2. Dòch tễ học của trầm cảm.................................................................. 06
1.3. Hiệu quả điều trò của thuốc chống trầm cảm .................................... 13
1.4. Kết quả điều trò tại các khoa khám ................................................... 19
1.5. Giáo dục trong điều trò trầm cảm ...................................................... 23
Chương 2: ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 30
2.1. Mục tiêu 1: Trầm cảm ở người trưởng thành, tỷ lệ mắc .................. 30
2.2. Mục tiêu 2: Hiệu quả của giáo dục trong điều trò ............................ 35
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 46
3.1. Trầm cảm ở người trưởng thành, tỷ lệ mắc ...................................... 46
3.1.1. Giới và trầm cảm ......................................................................... 46
3.1.2. Tình trạng gia đình và trầm cảm ................................................. 46
3.1.3. Tình trạng thu nhập và trầm cảm ................................................ 55
3.1.4. Nhận xét chung về trầm cảm theo giới, nhóm tuổi, ly di, góa,
không việc làm và thu nhập thấp ............................................... 59
3.2. Giáo dục trong điều trò cơn trầm cảm............................................... 61
3.2.1. Mẫu nghiên cứu ........................................................................... 61
3.2.2. Giáo dục và thuyên giảm ............................................................ 62
3.2.3. Giáo dục và tuân thủ điều trò ....................................................... 65
3.3. Giáo dục trong điều trò tiếp tục ......................................................... 69
3.3.1. Mẫu nghiên cứu ........................................................................... 69
3.3.2. Giáo dục và tái phát .................................................................... 70
3.3.3. Giáo dục và tuân thủ điều trò. ...................................................... 73
Chương 4: BÀN LUẬN .............................................................................. 76
4.1. Trầm cảm ở người trưởng thành ....................................................... 76
: Bản phân loại quốc tế về bệnh tật (International
classification of diseases)
BN
: Bệnh nhân
BVTT
: Bệnh viện tâm thần
CTC
: Chống trầm cảm
ĐTQGBPH:
: Điều tra quốc gia về bệnh phối hợp.
HC
: Hưng cảm.
STCĐTKRLTT
: Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần
(Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders)
TCYTTG
Bảng
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Bảng 3.13
Bảng 3.14
Bảng 3.15
Bảng 3.16
Bảng 3.17
Bảng 3.18
Bảng 3.19
Bảng 3.20
Bảng 3.21
Bảng 3.22
Bảng 3.23
Bảng 3.24
Trang
Giới và trầm cảm .................................................................... 46
Phân phối tỷ lệ trầm cảm theo tình trạng gia đình ................. 46
Ly dò- trầm cảm, phân tầng theo giới ..................................... 47
Bảng 3.26
Bảng 3.27
Bảng 3.28
Bảng 3.29
Bảng 3.30
Bảng 3.31
Bảng 3.32
Bảng 3.33
Bảng 3.34
Bảng 3.35
Giáo dục và tuân thủ điều trò, phân tầng theo nhóm tuổi ....... 67
Phân tích hồi quy đa biến tuân thủ điều trò theo giới,
nhóm tuổi và giáo dục........................................................... 68
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu. .............................................. 69
Giáo dục và tái phát ................................................................ 70
Giáo dục và tái phát, phân tầng theo giới ............................. 70
Giáo dục và tái phát, phân tầng theo nhóm tuổi ................... 71
Phân tích hồi quy đa biến tái phát theo giới,
nhóm tuổi và giáo dục........................................................... 72
Giáo dục và tuân thủ điều trò ................................................. 73
Giáo dục và tuân thủ điều trò, phân tầng theo giới ................ 73
Giáo dục và tuân thủ điều trò, phân tầng theo nhóm tuổi ...... 74
Phân tích hồi quy đa biến tuân thủ điều trò theo giới,
nhóm tuổi và giáo dục........................................................... 75
1
MỞ ĐẦU
Nhiều công trình nghiên cứu trong những năm 1960 cho thấy tỷ lệ TT ở
nhóm được giáo dục là 25-30%, cao hơn tỷ lệ 10-25% của nhóm chứng.
Trong những năm 2000, người ta tiếp tục nghiên cứu hiệu quả của giáo dục
lên tỷ lệ TG tại khoa khám, kết quả cho thấy tỷ lệ TG của nhóm được giáo
dục là 70-75%, cao hơn tỷ lệ 30-50% của nhóm chứng.
Tại Tp.HCM và một số tỉnh thành khác, nhiều cuộc điều tra thực hiện vào
những năm 1975, kết quả cho thấy khoảng 0,01-0,03% người trưởng thành
bò TC. Tại Khoa khám bệnh của Bệnh Viện Tâm Thần (BVTT) Tp.HCM,
theo báo cáo trong những năm 1990-1992, chỉ có 0,62% người khám bệnh
được chẩn đoán là TC, số liệu này không phù hợp với số liệu trên thế giới.
Cần có những nghiên cứu về tỷ lệ TC tại Tp.HCM, cũng như phân bố trầm
cảm theo tình trạng hôn nhân, việc làm, thu nhập.. Trong điều trò TC, tại
khoa khám vẫn chưa có công trình nào đánh giá về kết quả điều trò và
TTĐT; cần có những công trình đánh giá kết quả điều trò tại khoa khámø.
Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là xác đònh tỷ lệ TC? Phân bố TC ở
theo giới, nhóm tuổi, tình trạng gia đình, việc làm và thu nhập? Ở Khoa
khám bệnh BVTT Tp.HCM, xác đònh tỷ lệ TG, tái phát (TP)? Nếu ứng
dụng giáo dục trong điều trò, xác đònh tỷ lệ TG, TP, TTĐT của biện pháp
3
giáo dục? Sự khác biệt giữa tỷ lệ TG, TP và TTĐT của nhóm giáo dục và
nhóm chứng?
Nên mục tiêu nghiên cứu trong bài báo cáo này là:
1. Xác đònh tỷ lệ TC ở người dân sống tại Tp.HCM (năm 1999,2000)
và phân bố trầm cảm theo giới, nhóm tuổi, tình trạng gia đình,
việc làm, thu nhập.
2. Xác đònh tỷ lệ TG, TP, TTĐT của BN điều trò tại Khoa khám
bệnh BVTT Tp.HCM.
(BPLQTBT lần 9) [2], các rối loạn tâm thần mang mã số từ 290300, trong đó “loạn tâm thần hưng trầm cảm” được xếp vào “rối
loạn tâm thần”, mang mã số 296.
5
- Năm 1992, trong Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần 10
(BPLQTBT lần 10) [9], [21], [132], [134], [135], các bệnh tâm
thần mang mã số F và “loạn tâm thần hưng trầm cảm” được xếp
vào nhóm “rối loạn khí sắc” (mã số F.3); trong đó, “loạn tâm
thần hưng trầm cảm, thể trầm cảm” được xếp vào “TC” và có
hai loại bệnh riêng biệt: “giai đoạn trầm cảm” (mã số F.32) và
“trầm cảm tái diễn” (mã số F.33), các thể bệnh khác được xếp
vào “lưỡng cực”.
Theo bảng này, TC là một cơn rối loạn khí sắc, với các triệu
chứng như buồn, mất thích thú, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, rối
loạn ăn uống, rối loạn hành vi, ý tưởng bi quan, ý tưởng tự ti,
không tập trung tư tưởng, ý tưởng tự tư; thời gian cơn phải trên
hai tuần.
Hiện nay, với BPLQTBT lần 10, việc chẩn đoán được tiêu chuẩn
và thống nhất trên nhiều quốc gia khác nhau.
Hiệp hội Bác só Tâm thần Hoa Kỳ:
Hiệp hội Bác só Tâm thần Hoa Kỳ có biên soạn “Sổ tay chẩn đoán
và thống kê rối loạn tâm thần” (STCĐVTKRLTT)ø, cuốn sổ tay này
chỉ dùng trong chuyên khoa Tâm thần.
Năm 1987, trong cuốn STCĐVTKLTT lần IV [6], [9], [21], “loạn
tâm thần hưng trầm cảm” được xếp vào nhóm “rối loạn khí sắc”;
các tài liệu hướng dẫn điều trò.
1.2. DỊCH TỄ HỌC CỦA TC
Dòch tễ học đã được biết từ thời Hippocrate [1], sau các nghiên cứu của
J.Graunt (1662) về bệnh dòch, của Snow (1854) về trận dòch tả tại Anh;
7
trong giai đoạn này, đối tượng nghiên cứu của dòch tễ học hầu như chỉ tập
trung vào bệnh truyền nhiễm.
Sau các công trình nghiên cứu của Doll, Hill về mối liên quan giữa hút
thuốc lá và ung thư phổi, đối tượng của dòch tễ học được mở rộng ra các
bệnh mạn tính, trong đó có các bệnh tâm thần [11], [77], [98].
1.2.1. Dòch tễ học của trầm cảm:
Theo tác giả Dohrenwend [98], dòch tễ học trong tâm thần (bao gồm cả
TC) phát triển qua ba giai đoạn:
-
Trước những năm 1950, các số liệu dòch tễ thường dựa trên số
BN điều trò nội trú, nên số liệu này không thể hiện được tình trạng
tâm thần trong cộng đồng.
-
Đến những năm 1950, mặc dầu các số liệu dòch tễ dựa vào kết
quả điều tra trong cộng đồng, phản ảnh được tình trạng tâm thần
trong cộng đồng. Tuy nhiên, vì phương pháp phỏng vấn, chẩn đoán
và điều tra chưa được thống nhất nên số liệu dòch tễ lại thay đổi
theo từng quốc gia.
khám tình trạng tâm thần”.
Năm 1981, VQGSKTT biên soạn “bảng phỏng vấn chẩn
đoán
theo
mục
lục”
theo
tiêu
chuẩn
chẩn
đoán
STCĐVTKLTT lần III, có tham khảo thêm thang “thăm
khám tình trạng tâm thần”, và bản này được dùng trong cuộc
“điều tra dòch tễ vùng” [72].
1.2.2. Tần suất của TC:
Tại Mỹ, những năm 1980, VQGSKTT tiến hành “điều tra dòch
tễ vùng” [34], [97], [98] trên dân số 18.572, dùng “bảng phỏng vấn
9
Tại Việt Nam:
Sau giải phóng, trường Đại Học Y Dược Tp.HCM, Sở Y tế
Tp.HCM và BVTT Biên Hòa đã tiến hành nhiều cuộc điều tra ở
Tp.HCM, Tiền Giang và thành phố Biên Hòa:
- Trường Đại Học Y Dược Tp.HCM điều tra tại xã Phước Vónh
An, huyện Củ Chi, Tp.HCM (1978) trên 1.972 người, theo tiêu
chuẩn chẩn đoán của BPLQTBT lần 9, tỷ lệ TC là 0,01%.
- Sở Y tế Tp.HCM điều tra tại phường 1, quận Phú Nhuận
(1978) trên dân số 10.775, tỷ lệ TC là 0,02%.
- BVTT Biên Hòa điều tra trên 6.610 người tại thành phố Biên
Hòa (1977), cũng theo tiêu chuẩn chẩn đoán của BPLQTBT lần
9, tỷ lệ TC là 0,03%.
Các kết quả trên cho thấy tỷ lệ TC tại một số tỉnh phía nam khá
thấp vào khoảng 0,01-0,03% so với tỷ lệ 7,6% của TCYTTG. Sự
khác biệt này có thể do tiêu chuẩn chẩn đoán: các điều tra do
TCYTTG dựa trên BPLQTBT lần 10; còn tại Việt Nam, vào những
năm 1975-1978, tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào BPLQTBT lần 9.
Nhận xét chung về tỷ lệ TC:
- TC là một rối loạn phổ biến trên nhiều quốc gia. Theo ước
tính của TCYTTG, mỗi năm trên thế giới có khoảng 7,6% dân
số bò TC.
11
- Hiện nay, tỷ lệ TC có chiều hướng gia tăng. Nếu trong “điều
tra dòch tễ vùng” tiến hành những năm 1980, tỷ lệ TC trong 1
năm là 2,7%; thì đến những năm 1990, trong “điều tra quốc gia
các bệnh phối hợp làm lại”, tỷ lệ này là 6,5%. Mặc dù còn
nhiều tranh luận về các số liệu này, nhưng theo nhiều tác giả, tỷ
thân-ly dò là 16,4% và ở người góa là 7,9%.
TC và việc làm:
Trên lâm sàng, những người thất nghiệp thường bò TC [20], [22].
Theo kết quả của “điều tra dòch tễ vùng” [33], tỷ lệ TC ở người
không có việc làm cao hơn tỷ lệ ở người có việc làm; theo số liệu
ĐTQGCBPH [86], tỷ lệ TC ở người không việc làm là 15,2%, cao
hơn tỷ lệ 4,1% ở người có việc làm.
TC và thu nhập:
Trên lâm sàng, những người có khó khăn về tài chính thường bò TC.
Theo kết quả nghiên cứu của ĐTQGCBPH [86], tỷ lệ TC ở người có
thu nhập khá là 3,8%, ở người có thu nhập trung bình là 5,5% và ở
người có thu nhập thấp là 12,1%.
Nhận xét:
Tỷ lệ TC ở những người sống độc thân, ly thân-ly dò, góa, thất
nghiệp và thu nhập thấp thường cao hơn tỷ lệ TC trong dân số chung,
Tuy nhiên, các điều tra thường là điều tra cắt ngang, nên không
đánh giá được mối liên hệ nhân quả giữa trầm cảm và các yếu tố kể
trên, thí dụ: sau khi bò thất nghiệp [66], người bệnh bò trầm cảm hoặc
người này bò trầm cảm [67], [68], không làm việc được, nên bò cho
nghỉ, các điều tra cắt ngang không thể giải thích mối liên hệ nhân
quả giữa các yếu tố kể trên và trầm cảm; phần khác giữa các yếu tố
14
- Trong điều trò duy trì, mục đích cũng là phòng ngừa tái phát,
thường chỉ dùng cho các trường hợp có nguy cơ tái phát cao.
Hiệu quả điều trò của các thuốc hướng thần được đánh giá nhờ vào các
công trình thử thuốc [15], [16], [31], [36]. [43], [49], [54], [55], [58], [59],
[87], [88], [89], [90], [91], [106], [112], [119], [122], [124], [125], Có nhiều
hình thức của công trình thử thuốc:
- So sánh hiệu quả của thuốc với giả dược [23], [24], [27], [30], [39],
[51], [55], [56], [121], [124], [125], [139], [56], [81], [83] : trong
nghiên cứu này, có hai nhóm, nhóm được điều trò với thuốc hướng
thần, nhóm được điều trò với giả dược.
- So sánh hiệu quả của thuốc được nghiên cứu với một loại thuốc
chuẩn [28], [32], [42], [44], [50], [52], [53], [73], [84], [114], [127] ,
[100], [117], trong nghiên cứu này cũng có hai nhóm.
- So sánh hiệu quả của đa trò liệu và đơn trò liệu [94], [105], [107],
[111].
Trong các công trình thử thuốc, các tác giả thường đề cập đến hình thức
thử thuốc “so sánh hiệu quả của thuốc với giả dược”; trong nghiên cứu
này, kết quả của nhóm giả dược phản ánh được phần nào tiến triễn của
bệnh khảo sát, kết quả của nhóm dùng thuốc giúp đánh giá hiệu quả của
thuốc.
Các công trình thử thuốc trên có thể tiến hành trong tất cả các giai đoạn
như điều trò cơn trầm cảm, điều trò tiếp tục và điều trò duy trì.
Trong giai đoạn điều trò cơn trầm cảm, hiệu quả điều trò được tính bằng tỷ
lệ thuyên giảm trong nhóm điều trò bằng thuốc.
15
TG, số BN này được coi là TC kháng thuốc.
1.3.2. Điều trò tiếp tục.
- Sau đây là một số nghiên cứu hiệu quả phòng ngừa của thuốc:
a)
Công trình của Seager (1962) [92]: điều trò phòng ngừa
với Imipramine, có 17% BN bò TP, thấp hơn tỷ lệ 69% của
nhóm giả dược.
b)
Công trình của Mindham (1972) [92]: tỷ lệ TP của nhóm
điều trò bằng Amitriptiline, Imipramine là 22%, thấp hơn tỷ lệ
50% của nhóm giả dược.
Dựa trên các công trình trên, Hartmann [92] nhận xét: khi điều
trò bằng thuốc CTC ba vòng, có 22% BN bò TP, thấp hơn tỷ lệ
50% của nhóm điều trò bằng giả dược.
c)
Công trình của Entuash (1996) [15], [24], [28], [30], [32],
[43], [88], [105], [114], [125]: điều trò với Venlafaxine, sau 6
tháng theo dõi, có 11% BN bò TP, thấp hơn tỷ lệ 23% của
nhóm giả dược.
d)
Công trình của Mendels.J (1999) [44], [78], [83], [105]:
sau 6 tháng theo dõi, điều trò với Citalopram, tỷ lệ TP là
tiến của trầm cảm.
1)
Thuyên giảm: trong nhóm điều trò bằng giả dược, tỷ lệ TG
là 25-33%, kết quả này cho thấy, có một số bệnh nhân trầm
cảm không cần thiết phải được điều trò bằng thuốc chống trầm
cảm.
2)
Tái phát: tỷ lệ TP trong nhóm giả dược là 20-25%, kết
quả này cho thấy, khi không được điều trò, vẫn chỉ có một số
rất ít bệnh nhân bò tái phát, số liệu này cũng phù hợp với số
liệu của TCYTTG, khoảng 20-25% bệnh nhân trầm cảm bò tái
phát trong năm đầu, đến năm thứ hai, tỷ lệ này là 35%.