Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
1.
TMCP:Thương mại cổ phần
2.
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
3.
BAC A BANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á
4.
NHTM: Ngân hàng thương mại
5.
TCTD: Tổ chức tín dụng
6.
DN: Doanh nghiệp
Bảng 2.3:Kết quả tài chính của ngân hàng TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà
Thành giai đoạn 2012 - 2014
Bảng 2.4:Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng khách hàng của
ngân hàng TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà Thành giai đoạn 2012 - 2014
Nguyễn Thành Thiện
Page 2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng
2.5:Sản
phẩm
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
cá
nhân
của
BacABank,Lienviet
Post
Bank,VietinBank
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Biểu đồ 2.4:Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng khách hàng của
ngân hàng TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà Thành năm 2014
Biểu đồ 2.5:Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của ngân hàng
TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà Thành năm 2014
Biểu đồ 2.6:Tỷ trọng nguồn vốn huy động trong tổng nguồn vốn năm
2014
Biểu đồ 2.7:Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thị trường huy động của
ngân hàng TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà Thành năm 2014
Biểu đồ 2.8:Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền huy động của ngân hàng
TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà Thành năm 2014
Biểu đồ 2.9:Tỷ lệ chi trả lãi bình quân của ngân hàng TMCP Bắc Á-chi
nhánh Hà Thành năm 2014
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyễn Thành Thiện
Page 4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như nước ta
hiện nay NHTM đóng vai trò quan trọng,vừa thể hiện vai trò trung gian trong
quá trình luân chuyển vốn,vừa là nhà đầu tư,là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Bắc Á - chi nhánh Hà Thành” làm đề tài nghiên cứu chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận,chuyên đề thực tập của em được
chia làm ba chương:
Chương 1:Lý luận chung về huy động vốn và hiệu quả huy động vốn của
Ngân hàng thương mại.
Chương 2:Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Bắc
Á-chi nhánh Hà Thành.
Chương 3:Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Bắc Á-chi nhánh Hà Thành.
Nguyễn Thành Thiện
Page 6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động huy động vốn là một lĩnh
vực quan trọng,là xương sống quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền
kinh tế quốc dân và nó còn là nguồn vốn chủ yếu quyết định sự tồn tại và phát
hình,tài sản tài chính được đầu tư vào các hoạt động kinh tế - xã hội,quốc
phòng an ninh,đối ngoại hay các loại tài sản khác,trong đó chủ yếu là bỏ vào
sản xuất kinh doanh hàng hóa,dịch vụ và quan trọng nhất là với mục đích
nhằm tạo ra lợi nhuận.Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào,muốn hoạt động kinh
doanh được thì điều kiện trước nhất là phải có vốn,phải tìm kiếm hay huy
động được vốn bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng
kinh doanh.Với đặc thù là kinh doanh chủ yếu dựa trên đồng vốn vay mượn
của người khác thì nguồn vốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự
sống còn của NHTM.
Vốn chính là cơ sở cơ bản để các NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh
doanh.Ngân hàng không có vốn thì sẽ không thể thực hiện được các nghiệp
vụ kinh doanh thường nhật của mình.Vốn là điều kiện bắt buộc đối với các
NHTM để được phép hoạt động và kinh doanh trên thị trường.Ngay từ khi
bước vào hoạt động,các ngân hàng cần vốn để giải quyết những vấn đề cơ
bản như mua đất đai,xây dựng cở sở vật chất,mua sắm trang thiết bị,và
những điều kiện làm việc khác.Và với đặc trưng của hoạt động ngân hàng,thì
đối với các NHTM thì vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn
là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM.
Vốn quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng trong hoạt động tín
dụng và các hoạt động khác.Vốn của ngân hàng có tính chất quyết định đến
việc mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động tín dụng,đầu tư của ngân
hàng,khả năng thanh tóan,chi trả cũng như các họat động khác.Thông
thường,so với các ngân hàng lớn,các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và
cho vay kém đa dạng hơndo nguồn vốn không dồi dào bằng và vì thế mà
Nguyễn Thành Thiện
Page 8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhánh nói riêng cũng như toàn bộ hệ thống ngân hàng của mình nói
Nguyễn Thành Thiện
Page 9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
chung.Vậy hoạt động huy động vốn là gì?Chúng ta có thể hiểu hoạt động huy
động vốn một cách đơn giản như sau:
“Hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thương mại là hoạt động
mà trong đó các Ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể
khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó
theo đúng các quy định pháp luật”
1.1.2.Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.2.1.Huy động vốn tiền gửi
a.Tiền gửi thanh toán
Là tiền gửi của khách hàng vào ngân hàng để nhờ giữ và thanh toán
hộ.Các nhu cầu chi trả hợp pháp của khách hàng đều được ngân hàng thực
hiện và các khoản thu bằng tiền của khách hàng đều có thể nhập vào tài
khoản tiền gửi thanh toán theo yêu cầu.
Lãi suất của khoản tiền gửi này rất thấp và ngân hàng thu lợi phí từ
thanh toán hoặc phí rút tiền…Hơn nữa ngân hàng sử dụng số dư tiền gửi
thanh toán của khách hàng cho nhu cầu dự trữ của mình và sử dụng một
phần số dư tiền gửi thanhh toán để cho vay.
Để huy động được nhiều tiền gửi thanh toán thì ngân hàng phải áp dụng
nhiều biện pháp nhưng quan rọng nhất vẫn là khả năng thanh toán
nhanh,chính xác,an toàn và rẻ.Bên cạnh đó ngân hàng kết hợp tài khoản tiền
này thường không lớn.
1.1.2.2.Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá
Giống như các doanh nghiệp khác,các ngân hàng cũng vay mượn bằng
cách phát hành các giấy tờ trên thị trường vốn.Do thiếu nguồn tiền gửi trung
và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay trung và dài hạn
nên các khoản vayy trung và dài hạn thông qua giấy tờ có giá sẽ giúp bổ sung
chi các nguồn tiền gửi để đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài
hạn.Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định quy mô,mệnh
giá,lãi suất và thời gian vay mượn thích hợp.Các vấn đề chuyển nhượng,điều
chỉnh lãi suất,bảo quản hộ…cũng được các ngân hàng quan tâm trong khi
phát hành giấy nợ.
Nguyễn Thành Thiện
Page 11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Tùy quy định của mỗi quốc gia mà ngân hàng thương mại phát hành
giấy nọ phải được sự đồng ý của ngân hàng trung ương.Một số ngân hàng
thương mại có khả năng phát hành giấy nợ để vay trên thị trường vốn quốc
tế.
1.1.2.3.Tạo vốn qua các khoản đi vay
a.Vay Ngân hàng nhà nước
Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ như thiếu hụt dự trữ bắt buộc ,dự
trữ thanh toán thì ngân hàng thương mại thường vay ngân hàng nhà nước
thông qua việc vay tái chiết khấu(và tái cấp vốn).Nghiệp vụ này làm dự trữ
khoản của ngân hàng trong điều kiện hệ thống kém ổn định.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác và thông thường thì
nó chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và khoảng 70% nguồn vốn nợ.Nó là mục
tiêu tăng trưởng hằng năm của các ngân hàng ,là đối tượng phải dự trữ bắt
buộc.Ở nhiều nước ngân hàng phải mua bảo hiểm cho tiền gửi nên chi phí
tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi.Bên cạnh đó cơ cấu tiền gửi ảnh
hưởng lớn tới tính ổn định của nguồn vốn và tới cơ cấu của tài sản.Nó nhạy
cảm với các biến động về lãi suất,tỷ giá,thu nhập,chu kỳ chi tiêu và nhiều
nhân tố khác.
Tiền gửi thanh toán có lãi suất rất thấp hoặc bằng không và được coi là
một nguồn rẻ đối với ngân hàng.Tuy nhiên nguồn này kém ổn định,áp lực cầu
thanh khoản cao,biểu hiện vòng quay của tiền gửi thanh toán rất cao.Nguồn
này chủ yếu để đảm bảo dự trữ và cho vay ngắn hạn trên thị trường liên
ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm là nguồn tiền gửi có tỷ trọng thường là lớn nhất và có
tính ổn định cao tại các ngân hàng.Trong điều kiện ổn định vĩ mô,thu nhập
của người dân cao,ngân hàng có thể huy động tiết kiệm tới 5-10 năm và tiết
kiệm trở thành nguồn tài trợ cho các dự án dài hơn.
1.1.3.2.Đặc điểm của huy động vốn thông qua tiền vay
Tỷ trọng của nguồn này thường thấp hơn nguồn tiền gửi và các khoản đi
vay thường là có thời hạn và có quy mô xác định trước nên tạo thành nguồn
ổn định cho ngân hàng.
Nguyễn Thành Thiện
Page 13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Ví dụ như: Ngân hàng có vốn lớn khi có sự biến động của thị trường
tiền tệ họ vẫn có khả năng phản ứng nhanh chóng để khắc phục tình
thế,ngược lại các Ngân hàng ít vốn thường bị động trong trường hợp thị
trường bị biến động,sự nhạy bén thích nghi là chậm hơn hoặc không có khả
năng khắc phục tình hình dẫn tới hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng,thậm
chí đi đến phá sản.
1.1.4.2.Hoạt động huy động vốn sẽ quyết định quy mô tín dụng và các hoạt
động khác của ngân hàng
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh
của NHTM.Nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào,chi phí thấp thì
có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao.Ngược
lại,với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn
trong hoạt động tín dụng của mình.Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên
quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại
và lãi suất các công cụ nợ do chính ngân hàng phát hành.
1.1.4.3.Hoạt động huy động vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo
uy tín của ngân hàng trên thị trường
Nguồn vốn huy động giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu hụt trong
thanh toán,tăng nguồn vốn trong kinh doanh và thông qua huy động
vốn,ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ
tín dụng với ngân hàng.Qua đó,ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu
tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ
tham ô,trốn thuế,lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng.Từ
đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM,vốn
thống nói chung phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:
Đầu tiên nguồn vốn huy động phải xuất phát từ nhu cầu kinh doanh
của ngân hàng để đảm bảo có khả năng đáp ứng cho hoạt động sử dụng
vốn của ngân hàng.Tức là vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về
số lượng,có thể thoả mãn các nhu cầu tín dụng,thanh toán cũng như các
hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Tiếp đến nguồn vốn huy động phải đảm bảo cơ cấu hợp lý,đó chính là
tính cân đối theo nhu cầu giữa vốn ngắn hạn và vốn trung dài hạn giữa
huy động ở dân cư,huy động ở tổ chức…Một cơ cấu vốn hợp lý phải là một
Nguyễn Thành Thiện
Page 16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
cơ cấu vốn đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng và không có tình trạng bất hơp
lý,dư thừa hay thiếu vốn.
Sau đó thì nguồn vốn huy động phải đảm bảo tối thiểu hoá chi
phí.Đây là yếu tố quan trọng nhất,có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
của ngân hàng.Chi phí này chính là số tiền mà ngân hàng phải trả cho các
lượng vốn huy động được,chi phí hoạt động cao hay thấp phụ thuộc vào
mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra,tất nhiên là lãi suất huy động càng cao
thì càng hấp dẫn khách hàng.Nhưng cả lãi suất huy động và lãi suất cho
vay đều là công cụ cạnh tranh của ngân hàng và hai loại này lại có quan hệ
phụ thuộc chặt chẽ với nhau và có khi đối ngược nhau, nếu ngân hàng
nâng lãi suât huy động để tăng cường huy động vốn thì cũng buộc phải
một yếu tố quan trọng giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh.Ngân
hàng nào có thì trường vốn vững mạnh đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng thì sẽ có khả năng mở rộng quy mô hoạt động cũng như tăng trưởng và
củng cố vị thế của mình trên thị trường.Chính vì lẽ đó các ngân hàng thương
mại luôn cố gắng phát triển nguồn vốn của mình cũng như nâng cao hiệu quả
của công tác huy động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn luôn gắn liền với các hoạt động của ngân hàng
thương mại và hiệu quả của việc huy động vốn được các ngân hàng hết sức
quan tâm vì nó không những là một hoạt động chủ yếu của ngân hàng mà
còn mang lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại.Do đó trong mọi
giai đoạn thì việc nâng cao hiệu quả huy động vốn luôn được các ngân hàng
thương mại hết sức quan tâm chú trọng.
Để đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trên thị
trường thì ngân hàng phải có một nguồn vốn dồi dào để phục vụ cho sự phát
triển chung của nền kinh tế trong khi nguồn vốn tự có của ngân hàng là quá
nhỏ bé cho nên các ngân hàng thương mại phải tìm cách tăng trưởng nguồn
vốn hiện có của mình và sẽ đặt ra nhu cầu cấp thiết cho vấn đề nâng cao hiệu
quả huy động vốn.
Các ngân hàng thương mại hoạt động trên thị trường với vai trò là các
trung gian tài chính để phân phối lại lượng tiền tệ trên thì trường cũng như
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.Hoạt động huy động vốn sẽ thu hút các
nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường và được ngân hàng phân phối đến những
Nguyễn Thành Thiện
Page 18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
đó huy động vốn là một trong những công cụ để kìm chế lạm phát.Khi nền
kinh tế trong giai đoạn phát triển thì huy động vốn giúp cho nó phát triển
nhịp nhàng và hiệu quả hơn.Vì thế đẩy mạnh công tác huy động vốn ở mỗi
Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh
tế.
Tóm lại thông qua cơ sở lý luận chung về công tác huy động vốn ở các
Ngân hàng Thương mại được trình bày ở trên đã giúp cho chúng ta hiểu rõ
hơn về tầm quan trọng,vị trí và sự cần thiết phải nâng cao hơn nữa hiệu quả
công tác huy động vốn không chỉ với bản thân ngân hàng mà còn với các tổ
chức kinh tế,dân cư và toàn xã hội.Những hiểu biết này là cơ sở để chúng ta
hiểu sâu sắc hơn khi nghiên cứu tình hình huy động vốn của riêng ngân hàng
thương mại cổ phần Bắc Á-chi nhánh Hà Thành.
1.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
thương mại
1.2.3.1.Chỉ tiêu định tính
a.Mức thuận lợi và lợi ích của khách hàng gửi tiền
Đây là nhân tố quan trọng trong mối quan hệ giữa ngân hàng và
khách hàng,mặc dù các ngân hàng ngày nay cạnh tranh với nhau chủ yếu
ở chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhưng giá cả mỗi ngân hàng vốn là một
nhân tố hấp dẫn khách hàng.Nghĩa là ngân hàng phải trả cho khách hàng
thoả đáng nếu không muốn nói là tốt hơn các ngân hàng khác.Một khách
hàng không muốn mang vốn nhàn rỗi của mình đầu tư váo sản xuất kinh
doanh,họ có thể mang đến ngân hàng để gửi tiền để thu lãi tiền gửi.Nếu
ngân hàng nào đem lại cho khách hàng mức lợi nhuận tối đa và lợi ích tốt
nhất thì ngân hàng đó sẽ huy động được vốn nhàn rỗi từ khách hàng.Vậy
hàng có số tiền gửi lớn và thường xuyên.
Thông thường tại các ngân hàng hiện nay,mỗi khi ngân hàng có nhu
cầu gửi thêm tiền mặt hoặc rút ra thì họ phải trực tiếp mang sổ tiết kiệm
tới tổ chức tín dụng nơi họ gửi vào.Khi có sự thoả thuận giữa các ngân
hàng với nhau thì khách hàng có thể gửi tiền vào và rút tiền ra tại nơi
thuận tiện nhất đối với họ.Điều này cần có sự tăng cường quan hệ chặt chẽ
giữa các ngân hàng.Mỗi ngân hàng không thể tự khép kín hoạt động của
mình mà cần có sự liên kết với nhau có như vậy khả năng cung cấp cho
khách hàng của mình mới phát triển và hiệu quả.
Nguyễn Thành Thiện
Page 21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
b.Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn
Với phương châm “đi vay để cho vay” ngân hàng muốn hoạt động kinh
doanh có hiệu quả thì ngân hàng phải tạo được uy tín đối với khách
hàng.Uy tín của ngân hàng có sự tác động tới công tác huy động vốn và sử
dụng vốn của ngân hàng.Khi ngân hàng có uy tín,khách hàng sẽ tìm đến
với ngân hàng đó để giao dịch ngân hàng thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi
từ khách hàng.Ngược lại,khi ngân hàng mất uy tín khách hàng sẽ không
đến với ngân hàng bởi vì họ sợ gặp rủi ro.Khi đó,những khách hàng đã gửi
tiền tại ngân hàng sẽ tìm cách rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng mặc dù số
tiền gửi đó chưa đến hạn và khách hàng phải chịu thiệt vì số tiền lãi mà họ
được hưởng được tính theo lãi suất thấp hơn hoặc lãi suất bằng
không.Nếu số lượng vốn bị rút trước hạn quá lớn,ngân hàng đó sẽ rơi vào
sau cao hơn năm trước cả về số lượng và chất lượng.Thông thường tỷ lệ
tăng nguồn vốn huy động của các NHTM ở Việt Nam khoảng 5- 9%.
Cơ cấu nguồn vốn huy động chuyển biến theo chiều hướng tích cực
là:Tăng cường nguốn vốn huy động dài hạn bởi hiện nay nguồn vốn huy
động của các ngân hàng thì có đến 80% là ngắn hạn (dưới 12 tháng) làm
cho khả năng cung ứng vốn vay trung - dài hạn bị hạn chế,đồng thời là
nhân tố tiềm ẩn đe doạ sự ổn định và an toàn của hoạt động ngân
hàng.Tăng cường nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ,cố gắng giảm vốn huy
động có lãi suất cao,tăng huy động vốn có lãi suất thấp,đảm bảo vốn cho
hoạt động kinh doanh.Thực hiện tốt việc lập và điều chỉnh kế hoạch về
nguồn vốn tạo điều kiện tăng doanh thu và tăng lợi nhuận.
Tuy nhiên công tác huy động vốn phải tuân thủ các chỉ tiêu mang tính
bắt buộc sau:Số lượng vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có
của bản thân ngân hàng.Đồng thời tỷ lệ (VTC/VHĐ)*100% luôn phải lớn
hơn hoặc bằng 5%.
Việc tuân thủ các chỉ tiêu trên sẽ giúp cho ngân hàng tránh được các
rủi ro và đảm bảo tăng trưởng nhanh,ổn định và vững chắc.
1.2.3.2. Chỉ tiêu định lượng
a. Các chỉ tiêu định lượng về mặt số lượng
Thứ nhất, Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động:
NVHĐ kỳ này
Nguyễn Thành Thiện
Page 23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Phương pháp 2: Phương pháp tập trung nguồn vốn
Tỷ lệ chi phí vốn bình quân gia
quyền=
Phương pháp 3: Phương pháp xác định chi phí cận biên
Nguyễn Thành Thiện
Page 24
x
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tỷ lệ chi phí cận biên =
GVHD: Ths.Đỗ Thị Thu Thủy
Chi phí huy động tăng thêm
Số vốn huy động tăng thêm
Thứ ba, hiệu quả sử dụng của nguồn vốn huy động:
Hệ số biến động của NVHĐ so với tín dụng và đầu tư
=
Mức tăng trưởng của NVHĐ trong kỳ
Mức tăng trưởng tín dụng và đầu tư trong
kỳ
Ngoài ra ta có thể kể đến một vài chỉ tiêu khác như: