Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn sản xuất của hộ nông dân xã an phụ, huyện kinh môn, tỉnh hải dương - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong

phát triển kinh tế tuy nhiên đời sống của người dân vẫn chưa thực sự được cải
thiện, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn. Hầu hết các hộ gia đình ở khu
vực nông thôn có nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, một bộ phận nhỏ có
nguồn thu nhập từ buôn bán, làm thuê, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Một đặc
trưng của sản xuất nông nghiệp là chỉ mang tính thời vụ dẫn tới nguồn thu nhập
của các hộ nông dân thường không ổn định. Chi tiêu của hộ có mối quan hệ
cùng chiều với thu nhập, khi thu nhập thay đổi thì chi tiêu cũng thay đổi qua đó
dẫn đến sự thay đổi trong các khoản tiết kiệm của hộ. Tiết kiệm đóng vai trò
quan trọng trong việc tái đầu tư nhưng do sản xuất nông nghiệp còn manh mún,
các hộ vẫn còn nghèo về vật chất- kỹ thuật, yếu kém về trình độ,…nên hầu hết
thu nhập của hộ chưa tương xứng với sức bỏ ra. Thực tế này dẫn tới tình trạng
phần lớn hộ nông dân có khoản tiết kiệm không đủ bù đắp thêm cho các chi phí
sản xuất phát sinh làm cho nhiều hộ nông dân rơi vào tình trạng thiếu vốn. Mặt
khác, nông nghiệp, nông thôn là khu vực sinh lời thấp, chi phí cao, nhiều rủi ro
khách quan (thiên tai, dịch bệnh, khả năng trả nợ của khách hàng thấp…) nên
luồng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn thương mại đổ vào khu vực này rất hạn chế.
Nguồn cung vốn từ các tổ chức tín dụng không đủ đáp ứng nhu cầu vốn của hộ,
dẫn tới thực trạng các hộ nông dân phải đi vay từ các nguồn tín dụng phi chính
thức với lãi suất rất cao. Thực tế này đang diễn ra ở rất nhiều vùng nông thôn
Việt Nam nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng. Nhận thấy những vấn đề đó
nên việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao khả năng huy
động vốn sản xuất của hộ nông dân xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải
Dương” là cấp thiết và có ý nghĩa thực tế.
2.


Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ: Phỏng vấn sâu với 2 hộ nông dân được chọn thuận

tiện việc phỏng vấn, ý kiến của các nông dân đưa ra được ghi lại để làm cơ sở
cho việc thiết kế bảng câu hỏi. Phỏng vấn trực tiếp 3 hộ nông dân dựa trên bảng
câu hỏi đã được thiết kế sẵn, mục đích của việc phỏng vấn này là phát hiện ra
những sai sót.
Nghiên cứu chính thức: Dựa trên bảng câu hỏi chính thức tiến hành thu
thập dữ liệu sơ cấp thông qua quá trình phỏng vấn trực tiếp đến từng nhà 50 hộ
tại khu vực xã An Phụ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

2


• Sử dụng phương pháp chọn mẫu: chọn hộ điều tra được thực hiện ngẫu

nhiên với 20 mẫu ở chợ Huề Trì, 30 mẫu khác được chọn thuận tiện ở
những nông hộ thuộc xã.
• Sử dụng phương pháp hồi qui để xem xét mối quan hệ giữa tổng lợi nhuận
và vốn đầu tư cho từng loại hình sản xuất:
Y= A+a1X1+ a2X2+ a3X3+ a4X4+ a5X5+ a6X6+ a7X7+ a8X8
Trong đó:
Y: Tổng lợi nhuận.
X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8: vốn đầu tư cho lúa, rau màu, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản, buôn bán, nghề phụ, làm thuê, hoạt động khác.
A: hằng số
a1, a2, a3, a4, a5, a6, a7, a8: hệ số sinh lời tổng thu nhập trên vốn đầu tư.
• Số liệu thứ cấp: Thu thập thông tin từ phòng tín dụng xã An Phụ, huyện

Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, sách, internet, những kiến thức đã học ở

I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỘ NÔNG DÂN VÀ KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
1.1.

Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Nước ta là một nước nông nghiệp lâu đời với hơn 70% dân số là nông

dân, với trình độ sản xuất lạc hậu, manh mún. Tuy nhiên, quy mô kinh tế hộ vẫn
chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Nói đến sự
tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng hộ sản
xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xuất nông
nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang
tiếp tục phát triển. Mỗi phương thức sản xuất có những quy luật phát triển riêng
của nó và trong mỗi chế độ nó tìm cách thích ứng với nền kinh tế hiện hành. Vì
vậy có nhiều quan niệm khác nhau về hộ sản xuất. Theo phụ lục của ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam ban hành kèm theo quyết định
499A TDNH 02/09/1993 thì khái niệm hộ sản xuất được nêu như sau: “Hộ sản
xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ

4


thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình”.
Bên cạnh đó, ta cũng cần làm rõ khái niệm hộ nông dân. Hộ nông dân là
một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu
dùng. Sản xuất của hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình độ
canh tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp. Tuy nhiên, trong thời kỳ nền
kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới, hộ
nông dân, với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ, đã từng bước thích ứng với
cơ chế thị trường, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, thực

đình. Khi sản xuất không đủ tiêu dùng, họ thường điều chỉnh nhu cầu, khi sản
xuất dư thừa họ có thể đem sản phẩm dư thừa để trao đổi trên thị trường, nhưng
đó không phải là mục đích sản xuất của họ. Vì vậy, hộ vừa là một đơn vị sản
xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng.
1.2.2. Sản xuất của hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình độ
canh tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở nông thôn. Vì hộ sản xuất kinh
doanh nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún nên công cụ sản xuất cũng ở mức
độ thô sơ, thủ công. Nước ta đi lên từ sau chiến tranh, đời sống người dân còn
khổ cực, trình độ năng lực còn rất hạn chế. Trước đây, vì trình độ canh tác còn
lạc hậu, các hộ chủ yếu sản xuất nhỏ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng gia đình, ít
mở rộng sản xuất, hầu như không áp dụng khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, nông
nghiệp là ngành mang tính thời vụ cao, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự
nhiên, trong khi đó, khả năng khai thác tự nhiên của hộ rất thấp, chủ yếu phụ
thuộc hoàn toàn vào nó, dẫn đến tình trạng có năm được mùa, có năm lại mất
trắng, cuộc sống không ổn định.
Hiện nay, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam mở cửa
hội nhập với khu vực và thế giới. Hộ nông dân, với tư cách là những đơn vị kinh
tế tự chủ, hộ đã từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, áp dụng các tiến bộ
khoa học và công nghệ vào sản xuất, thực hiện liên doanh, liên kết, khai thác
hiệu quả các nguồn lực để sản xuất nông sản đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.2.3. Các hộ nông dân, ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các
hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
Đối tượng sản xuất của hộ nông dân chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp,
hộ sản xuất kinh doanh trồng trọt các loại cây ăn quả, cây trồng lâu năm…; hộ
sản xuất kinh doanh chăn nuôi; hay là hộ sản xuất kết hợp trồng trọt và chăn
6


nuôi các loại cây trồng, vật nuôi khác nhau có tính hỗ trợ cho nhau. Thực tế hiện


Mọi thành viên trong hộ gia đình đều liên đới trách nhiệm trong quan hệ
giao dịch tín dụng. Về mặt thủ tục pháp lý trong giao dịch với ngân hàng, chỉ
cần người đại diện hộ đứng tên giao dịch với ngân hàng trên cơ sở ủy quyền của
các thành viên trong hộ.
Tài sản của hộ bao gồm cả tài sản chung của các thành viên trong hộ và cả
tài sản riêng của các thành viên góp vào sử dụng chung. Xét từ góc độ này thì
năng lực tài chính của hộ bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của các thành
viên. Vốn tự có của hộ chủ yếu là khả năng lao động của hộ, tức là kinh nghiệm
cùng khả năng tổ chức và trực tiếp tham gia lao động của các thành viên trong
hộ.
1.3. Các điều kiện phát triển kinh tế hộ nông dân
1.3.1. Điều kiện chủ quan
Là những điều kiện mà cơ sở sản xuất kinh doanh và chủ cơ sở sản xuất
kinh doanh có thể tạo ra được. Điều kiện chính và cơ bản nhất là trình độ, năng
lực và hiểu biết chuyên môn của chủ hộ nông dân. Chủ sản xuất kinh doanh phải
là người có trình độ chuyên môn phù hợp, nhạy bén với thị trường, quyết đoán
và linh hoạt trong xử lý các tình huống. Người chủ sản xuất kinh doanh cần phải
có những tri thức cần thiết phục vụ cho kinh doanh và phát triển kinh tế hộ, đó là
những kiến thức chung về kinh tế và quản lý kinh tế, những kiến thức về nghiệp
vụ, thu thập thông tin và xử lý thông tin một cách nhanh, nhạy và chính xác.
Bên cạnh trình độ, năng lực và hiểu biết chuyên môn của chủ hộ thì vốn,
các yếu tố vật chất đầu vào, liên kết sản xuất kinh doanh cũng là những điều
kiện chủ quan đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
- Vốn: vốn đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu để thực hiện quá
trình kinh doanh của hộ trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông
thôn. Một hộ nông dân muốn sản xuất kinh doanh cái gì điều đầu tiên phải cần
có vốn, lượng vốn nhiều hay ít quyết định quy mô sản xuất của hộ, quyết định
qúa trình sản xuất kinh doanh đấy có được diễn ra liên tục, không bị bỏ dỡ giữa
chừng vì thiếu vốn. Vốn cũng quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ.

tổn thất ngày càng lớn và khó lường trước được.

9


- Cơ chế chính sách của Nhà nước: Hệ thống pháp luật, các chính sách
quản lý kinh tế ổn định, an ninh đảm bảo, chính sách cho vay thực thi tạo điều
kiện để hộ yên tâm sản xuất kinh doanh và kinh doanh có hiệu quả. Ngược lại,
nó sẽ là nhân tố cản trở hộ tiếp cận với nguồn vốn vay, với thị trường, từ đó làm
giảm hiệu quả kinh doanh của hộ.
II/ CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN SẢN XUẤT CỦA HỘ NÔNG DÂN
2.1. Khái niệm vốn sản xuất
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông
nghiệp nói riêng. Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang
phạm vi lưu thông
và trở về sản xuất. Hình thức của vốn sản xuất cũng thay đổi từ hình thức tiền tệ
sang hình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho nhân công đến sản phẩm hàng
hóa và trở lại hình thức tiền tệ…Như vậy, vốn sản xuất trong nông nghiệp là
biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào
sản xuất nông nghiệp.
2.2. Vai trò và đặc điểm của vốn sản xuất với kinh tế hộ nông dân
Vốn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ. Vốn là yếu tố cơ bản
trong quá trình phát triển và lưu thông hàng hóa và là điều kiện để cho hộ nông
dân thực hiện tốt các khâu sản xuất, chế biến, marketing.
Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, vốn sản xuất nông nghiệp có
những đặc điểm sau:
- Trong sự cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn
gốc kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học, như cây
lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản. Trên cơ sở tính quy luật sinh học,
các tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với tư liệu lao

động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển.
2.3.2. Vốn lưu động
Vốn lưu động là vốn bằng tiền ứng trước để dự trữ cho sản xuất, để mua
sắm vật rẻ tiền mau hỏng và hình thành vốn lưu thông nhằm đảm bảo cho quá
trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa diễn ra một cách bình thường. Theo tính chất
tham gia của các yếu tố vào quá trình sản xuất, vốn lưu động được chia thành 3
11


bộ phận, gồm: vốn lưu động dự trữ cho quá trình sản xuất, vốn lưu động dùng
trong quá trình sản xuất và vốn lưu động trong quá trình lưu thông.
- Vốn lưu động dự trữ trong quá trình sản xuất: là biểu hiện bằng tiền toàn
bộ nguyên nhiên vật liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, vật tư cho sản xuất phụ, phụ
tùng dự trữ,.. chuẩn bị cho vụ sản xuất sau và những vật tư bảo hiểm nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất có thể tiến hành một cách liên tục.
- Vốn lưu động trong quá trình sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của những
sản phẩm sản xuất dở dang, bán thành phẩm và những chi phí chờ phân bổ của
ngành trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề.
- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông gồm những khoản nông sản
hàng hóa, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán.
2.4. Hình thức huy động vốn sản xuất của hộ nông dân- cung vốn sản xuất
của hộ
2.4.1. Vốn của hộ nông dân
Vốn dành cho sản xuất ở hộ nông dân được hình thành từ hai nguồn cơ
bản:
- Một phần từ thu nhập thuần của hộ: thu nhập của hộ nông dân được hiểu
là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao
động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có. Thu nhập của hộ
phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà họ thực hiện.
Thường thu nhập của hộ nông dân có thể phân thành 2 loại:

- Nguồn chính thức: là hệ thống tín dụng thường thấy giữa các cá nhân và
các tổ chức tín dụng được pháp luật thừa nhận và hoạt động dưới sự quản lý của
pháp luật.
- Nguồn phi chính thức: thường là các quan hệ tín dụng giữa các cá nhân
và không được qui định trong luật pháp. Những hình thức tín dụng trong hệ
thống phi chính thức không chịu sự quản lý của nhà nước, hoạt động trên cơ sở
tin tưởng lẫn nhau.
Đặc điểm của 2 nguồn tín dụng:
Nguồn chính thức:
- Có nguồn vốn lớn.

Nguồn phi chính thức:
- Lượng vốn vay nhỏ, thời gian cho
13


vay ngắn.
- Lãi suất thường được quy định bởi - Lãi suất cao hay thấp tùy thuộc sự
nhà nước.
thỏa thuận giữa các bên.
- Hoạt động trong phạm vi rộng với - Thủ tục đơn giản, tiện lợi, lúc nào
thời gian dài.
cũng có sẵn.
- Hình thức thường thấy như tín dụng - Một số hình thức như vay lẫn nhau,
ngân hàng, tín dụng nhà nước,…
mua bán chịu,..
• Các định chế tài chính tham gia cung cấp tín dụng phục vụ nông nghiệp,

nông thôn tập trung chủ yếu vào các định chế sau:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT): được

hơn về cơ chế tín dụng đối với hộ nông dân.
2.5. Cơ chế tín dụng:
- Lãi suất: là giá cả của khoản cho vay, được biểu hiện bằng tỷ lệ % giữa
giá trị lãi của khoản vay và khoản vay trong một thời gian nhất định.
- Thủ tục cho vay: là một tập hợp các bước, các công việc cần thiết nhất
định phải tiến hành giữa người đi vay và người cho vay.
- Thời hạn cho vay: là 1 khoảng thời gian được tính từ khi người đi vay
bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã được
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa người đi vay và người cho vay. Thời
hạn cho vay thường gồm:
+ Cho vay ngắn hạn: đối với người đi vay vay vốn ngắn hạn nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống được xác định phù
hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của người đi vay tối đa
đến 12 tháng.
+ Cho vay trung, dài hạn: đối với người đi vay vay vốn trung, dài hạn
nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời
sống. Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự
án đầu tư, khả năng trả nợ của người đi vay và tính chất nguồn vốn cho vay của
người cho vay (>12 tháng)
- Mức cho vay:
+ Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xác
định trên cơ sở giá trị tài sản thế chấp.

15


+ Đối với hình thức cho vay theo tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa
mà các tổ chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay.
- Thời gian thu hồi vốn vay: là thời gian bắt đầu từ khi người vay nhận
được khoản vay đến khi thực hiện trả lần đầu tiên về lãi hoặc nợ gốc.

(4)
Đi vay vốn

(5)
Cho vay vốn

(1a), (1b), (1c): 1 phần thu nhập thuần được dùng để chi tiêu hàng ngày, 1
phần thu nhập thuần để đầu tư sản xuất, phần thu nhập dư ra để tiết kiệm.
16


(2a), (2b): trong quá trình chi tiêu hoặc đầu tư, nếu thiếu tiền hộ nông dân
có thể lấy tiền tiết kiệm để tài trợ.
(3a), (3b): trong quá trình đầu tư sản xuất, nếu thừa tiền, một phần hộ
nông dân có thể bổ sung thêm nguồn tiết kiệm hoặc bổ sung thêm cho chi tiêu.
(4): trong quá trình đầu tư sản xuất, nếu thiếu tiền mà hộ nông dân không
còn tiền tiết kiệm để tài trợ, hộ sẽ dùng nguồn đi vay để tài trợ.
(5): trong quá trình đầu tư sản xuất, chi tiêu hàng ngày, nếu hộ dư thừa
tiền tiết kiệm, để kiếm thêm thu nhập, hộ có thể đi vay.
Như vậy, quá trình tạo ra thu nhập thuần và phân bổ thu nhập thuần cho
mục đích chi tiêu hàng ngày, đầu tư sản xuất và tiết kiệm của hộ nông dân sẽ
phát sinh nhu cầu cần vay vốn khi hộ bị thiếu vốn và hiện tượng dư thừa vốn khi
hộ còn dư nguồn tiết kiệm mà không phải phân bổ cho đầu tư hoặc chi tiêu. Khi
dư thừa vốn, hộ có thể gửi tiết kiệm ngân hàng, cho người thân vay (tạo thành
nguồn tín dụng phi chính thức) hoặc đầu tư vào các kênh khác. Khi thiếu vốn,
hộ có thể vay các tổ chức tín dụng (nguồn tín dụng chính thức) hoặc vay người
thân. Tuy nhiên, khi vay các tổ chức tín dụng, người nông dân bị gặp nhiều khó
khăn như ràng buộc về tài sản đảm bảo, thủ tục vay rườm rà, số vốn vay bị hạn
chế, .... nên tình trạng các hộ nông dân tìm đến nguồn tín dụng phi chính thức và
phải chịu lãi suất cao đang là vấn đề nhức nhối ở nhiều địa phương nước ta.

Cơ cấu kinh tế của 50 hộ điều tra :

18


Qua điều tra: số hộ nông dân sống bằng nghề trồng lúa chiếm đến 80%,
trồng rau màu 16 %, chăn nuôi 20%, nuôi trồng thủy sản 10%, buôn bán 22%,
nghề phụ 6%, làm thuê 34%, hoạt động tạo thu nhập khác 16% trên tổng số 50
hộ điều tra.
Ta thấy sự phân công lao động xã An Phụ vẫn nặng về nông nghiệp và cụ
thể là trồng lúa. Riêng trong lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong thời
gian qua đã phát triển đáng kể nhờ chuyển đổi những diện tích trồng lúa năng
suất thấp và tận dụng những phế phẩm từ trồng trọt và đời sống hàng ngày.
Bên cạnh đó hệ thống thủy điện, giao thông được phủ khắp xã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc đi lại cũng như phát triển kinh tế nông thôn được dễ
dàng. Đặc biệt là người dân có điều kiện tiếp thu tiến bộ khoa học –kỹ thuật,
những mô hình chăn nuôi, trồng trọt đạt hiệu quả từ những hộ nông dân khác
thông qua chương trình làm bạn với nhà nông nhờ vậy mà sản xuất ngày càng
đạt hiệu quả hơn góp phần gia tăng thu nhập cho kinh tế hộ.
Chăn nuôi chủ yếu tập trung vào các loại gia súc và gia cầm phổ biến như:
gà, vịt, heo,…nhưng thời gian qua do dịch cúm gia cầm, những nhóm hộ nông
dân có thu nhập chủ yếu từ chăn nuôi bị ảnh hưởng đáng kể, làm cho thu nhập
không những đã thấp mà còn phải lâm vào cảnh nợ nần.
Buôn bán, nghề phụ (dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp..) tập trung ở những
khu vực đông dân cư, khu vực chợ phát triển mạnh vì đây là ngành mang lợi
nhuận cao, do vậy số lượng hộ nông dân tham gia không ngừng tăng lên.
Bên cạnh hộ có nguồn thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán… thì
làm thuê tập trung ở số hộ không có đất canh tác hoặc diện tích đất canh tác thấp
(thu nhập thấp thường tập trung vào nhóm hộ này), những hộ có máy móc phục
vụ sản xuất nông nghiệp: máy cày, máy tuốt lúa, máy bơm nước…. Ngoài ra

3.711
Trồng rau màu 10
Chăn nuôi
263
Nuôi trồng
800
thủy sản
Buôn bán
237
Nghề phụ
0
Làm thuê
52
Khác
88
Tổng
5.162

71,9
0,2
5,1
15,5

Nhóm hộ
thu nhập
khá
Nghìn %
đồng
1.128 59,1
22

53
11
0
0

4,6
0
1
1,7
100

165
23
24
48
1.911

63,9
89,9
64,9
16,4
1.083

44
0
134
33
482

%

đồng/người/tháng (chiếm 59,1%), chăn nuôi 450 ngàn đồng/người/tháng (chiếm
23,5%), buôn bán 165 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 8,6%).
- Nhóm hộ thu nhập trung bình có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 711,5
ngàn đồng/người/tháng (chiếm 65,7%) chăn nuôi 90,9 ngàn đồng/người/tháng
(chiếm 8,4%), nghề phụ (thủ công nghiệp, dịch vụ,..) 89,9 ngàn
đồng/người/tháng (chiếm 8,3%).
- Nhóm hộ thu nhập thấp nhất thì nguồn thu chủ yếu từ trồng lúa 211ngàn
đồng/người/tháng (chiếm 43,8%), làm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng (chiếm
27,8%), chăn nuôi 53 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 11%).
Hầu hết các nhóm hộ có mức thu nhập chênh lệch khác nhau khá xa, thu
nhập nhóm hộ cao nhất đạt 5,162 triệu đồng/người/tháng cao gấp 2,7 lần so với
nhóm hộ khá là 1,911 triệu đồng/người/tháng, gấp 4,8 lần so với nhóm hộ trung
bình là 1,083 triệu đồng/người/tháng và gấp 10,7 lần so với nhóm hộ thu nhập
thấp là 482 ngàn đồng/người/tháng.
Trong thời gian qua nhờ việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản
xuất nên năng suất lúa không ngừng tăng lên cùng với việc đa canh, đa dạng hóa
hoạt động sản xuất trong nông nghiệp được phát triển rộng khắp trong vài năm
gần đây. Vì vậy thu nhập hộ nông dân ngày càng tăng.
Trong lĩnh vực trồng lúa có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm quan sát
trong đó:

21


- Thu nhập nhóm hộ cao nhất từ trồng lúa đạt 3,711 triệu
đồng/người/tháng
- Thu nhập nhóm hộ khá đạt 1,128 triệu đồng/người/tháng.
- Thu nhập nhóm hộ trung bình từ trồng lúa đạt 711,5 ngàn
đồng/người/tháng.
- Thu nhập nhóm hộ thấp nhất từ trồng lúa đạt 211 ngàn

Buôn bán ở nhóm hộ thu nhập cao nhất và khá chủ yếu bán vật tư nông
nghiệp, tạp hóa, thuốc tây…còn nhóm hộ thu nhập trung bình và nhóm thấp nhất
chủ yếu là buôn bán nhỏ: bán bún, rau cải, bán cá… Chăn nuôi chủ yếu tập
trung ở nhóm hộ khá chiếm 23,5%, nhóm hộ trung bình chiếm 8,4% và nhóm hộ
thấp nhất là 11%. Bên cạnh các nhóm hộ có thu nhập chính từ trồng lúa, nuôi
trồng thủy sản, buôn bán… thì ở nhóm hộ thấp nhất có nguồn thu nhập chính
khác cũng rất quan trọng đó là làm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng. Đây là
nhóm thường tập trung những hộ không có đất canh tác hoặc có diện tích đất
canh tác thấp, vì vậy làm thuê được coi như là hoạt động chính nhằm mang lại
nguồn thu nhập cho gia đình, tuy nhiên thu nhập của nhóm hộ này thường không
ổn định, bấp bênh vì chỉ mang tính thời vụ. Ngoài ra, các nhóm hộ còn có nguồn
thu khác từ hoa màu, nghề phụ, dịch vụ, phụ cấp… mặc dù đây là một khoản thu
không lớn chỉ tập trung ở một số hộ nhưng nó cũng rất quan trọng đối với việc
đầu tư nông nghiệp của hộ nông dân đặc biệt là nhóm hộ có thu nhập thấp,
thường thì nhóm hộ này chỉ cần 100 – 500 ngàn đồng là có thể đầu tư cho chăn
nuôi, trồng trọt góp phần gia tăng thu nhập. Nhìn chung, nguồn thu nhập chính
của hộ nông dân xã An Phụ chủ yếu từ các nguồn trồng lúa, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản, buôn bán, làm thuê. Ngoài ra một số hộ còn có nguồn thu từ
trồng hoa màu, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, phụ cấp….Việc chênh lệch về diện
tích đất canh tác, nuôi trồng càng tạo khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm hộ
ngày càng rõ rệt ảnh hưởng chung đến sự phát triển kinh tế - xã hội của xã và
việc giảm sự cách biệt về giàu nghèo ở nông thôn ngày càng khó khăn.
Bảng : Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất của 50 hộ nông dân điều
tra năm 2011
Đơn vị : nghìn đồng
23


Hoạt động
sản xuất

xuất góp phần gia tăng thu nhập giúp kinh tế hộ phát triển.
Giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn: Đây là một yếu tố có ảnh hưởng lớn
đến quá trình sản xuất và cũng như thu nhập của các nhóm hộ:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 96%.
- Nhóm thu nhập khá 64%.
- Nhóm thu nhập trung bình 84%.
- Nhóm thu nhập thấp 64%.

24


Biến động tăng giá sẽ làm tăng chi phí sản xuất, tạo ra sức ép về vốn đối
với các hộ nông dân. Hệ quả là năng suất lao động nông nghiệp có thể giảm
xuống và thu nhập của người nông dân cũng bị ảnh hưởng theo. Sản lượng cung
cấp ra thị trường vì thế cũng hạn chế. Từ đó có thể dẫn đến việc nông dân hạn
chế đầu tư thâm canh hoặc sẽ chuyển đổi hệ thống sản xuất, lựa chọn những cây
trồng, vật nuôi ít chịu tác động của giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn đồng thời
áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật để tăng năng suất lao động, giảm
thiểu chi phí sản xuất.
Vốn: Đây là yếu tố có tác động lớn nhất trong quá trình sản xuất, đặc biệt
ở nhóm các hộ nông dân có thu nhập thấp và trung bình thường gặp nhiều khó
khăn trong việc đầu tư vốn sản xuất cụ thể:
- Nhóm hộ có thu nhập cao chiếm 56%
- Nhóm thu nhập khá 60%
- Nhóm thu nhập trung bình 96%.
- Nhóm thu nhập thấp 100%.
Rõ ràng các nhóm hộ thu nhập cao, thu nhập khá cũng chịu tác động lớn
từ nguồn vốn để mở rộng sản xuất. Đối với nhóm thu nhập trung bình và thấp thì
bên cạnh việc thiếu vốn trong quá trình sản xuất còn thiếu tiền trong chi tiêu
hằng ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status