NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BA ĐÌNH - Pdf 34

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Khoa Ngân hàng Thương Mại


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BA ĐÌNH

GVHD :
Sinh viên:
Lớp:

Thạc sỹ Nguyễn Tường Vân
Phạm Duy Khánh
NHTM.E - K11

HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI


BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Diễn giải


Ngân hàng nhà nước

TMCP

Thương mại cổ phần

NHCT

Ngân hàng Công Thương

TCTC

Tổ chức tài chính

TCTD

Tổ chức tín dụng

TCKT

Tổ chức kinh tế

TCXH

Tổ chức xã hội

KH

Kế hoạch


nghiệp trong hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Đối với một
nước đang phát triển như nước ta, DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện
mọi nguồn lực kinh tế, đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở mỗi người,
mỗi miền của đất nước. Loại hình doanh nghiệp này phát triển chắc chắn sẽ có tác
dụng to lớn trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan
tâm chú ý đến: Tăng trưởng kinh tế - Giải quyết việc làm - Kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên, sự phát triển của các DNVVN đồng thời cũng làm bộc lộ nhiều hạn
chế cố hữu như: thiết bị kỹ thuật lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, chí phí sản xuất cao…mà
một trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên những hạn chế đó đồng thời cũng
là khó khăn mà các DNVVN đang gặp phải đó là khó tiếp cận được nguồn vốn ngân
hàng.
Cho vay các DNVVN là một định hướng lớn của Ngân hàng TMCP cổ phần
Công thương Việt Nam (NHCT). Là một trong những chi nhánh lớn của NHCT, Chi
nhánh Ba Đình thực hiện đầy đủ chức năng của một Ngân hàng thương mại theo các
chính sách đầu tư phát triển của NHCT, kinh doanh tiền tệ gắn với định hướng phát
triển kinh tế đất nước từng thời kỳ. Chi nhánh Ba Đình nằm trên địa bàn quận Ba
Đình - Trung tâm Thủ đô Hà Nội và cũng là nơi tập trung một lượng lớn các
DNVVN, hứa hẹn là một khu vực khách hàng đầy tiềm năng. Do vậy, Chi nhánh Ba
Đình đã định hướng phát triển cho vay đối với các DNVVN. Tuy nhiên, việc nâng
cao chất lượng cho vay đối với loại khách hàng này chưa thực sự đạt hiệu quả .
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại, em đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp
nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam – chi nhánh Ba Đình”


Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
bảng, sơ đồ, mục lục, Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về chất lượng cho vay đối với DNVVN của Ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với các DNVVN tại Ngân

(NHTM) sang người sử dụng (KH), sau một thời gian nhất định lại quay về với
lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song lại mang rủi ro cao nhất của
NHTM. Để NH tồn tại và phát triển vững chắc, hoạt động cho vay phải an toàn
và hiệu quả. Muốn vậy, nó phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất
định. Thứ nhất, KH vay vốn phải bảo đảm sử dụng vốn vay đúng mục đích đã
thỏa thuận. Điều này giúp hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thứ hai, KH
phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong
hợp đồng. thứ ba, NH cho vay đối với những dự án khả thi, có hiệu quả và có
khả năng hoàn trả nợ. Nhờ đó, NH mới có được lợi nhuận từ việc cho vay.
1.1.1.2

Đặc điểm của Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay của ngân hàng có các đặc điểm sau:
-

Hoạt động cho vay và thu nợ được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền tệ,
nguồn vốn tín dụng mà các ngân hàng sử dụng cho vay hình thành từ những

-

khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội mà ngân hàng huy động được;
Trong quan hệ cho vay, người đi vay là các nhà doanh nghiệp, các cá nhân,
người cho vay là các ngân hàng;

SV: Phạm Duy Khánh

7


vụ trả nợ. Các NHTM cũng có thể đưa ra các điều kiện vay vốn khác để áp
dụng cho từng sản phẩm cho vay khác nhau cũng như những nhóm khách hàng
có tính chất khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chiến lược của mình. Ví dụ điều
kiện về bảo đảm tiền vay thì ngân hàng có thể áp dụng điều kiện cho vay có bảo
đảm bằng tài sản là cầm cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh của bên thứ ba, nhưng
ngân hàng cũng có thể cho vay không có bảo đảm đối với những khách hàng tốt
trong từng trường hợp cụ thể.
Việc xác định thời hạn cho vay khác nhau thường phụ thuộc vào các yếu tố
như nguồn trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay của ngân hàng. Thời hạn

SV: Phạm Duy Khánh

8

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

cho vay khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau, thời hạn vay vốn càng dài thì
rủi ro càng lớn, để bù đắp rủi ro thời hạn, các NHTM thường xác định lãi suất
cho vay cao hơn đối với các khoản vay có thời hạn dài hơn và ngược lại.
Để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, các NHTM đưa ra nhiều sản
phẩm vay vốn khác nhau nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng và đem lại
hiệu quả cho ngân hàng. Các NHTM đưa ra các sản phẩm cho vay đa dạng giúp
cho khách hàng có cơ hội lựa chọn tốt nhất, khuyến khích được nhu cầu vay
vốn của khách hàng như cho vay trả góp, cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô,
cho vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh,

SV: Phạm Duy Khánh

9

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

-

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản cầm cố, thế
chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách

-

hàng vay vốn để quyết định cho vay
Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho khoản

vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
 Theo phương thức cho vay:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay
vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng áp dụng phương thức
cho vay từng lần khi khách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường
xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy
-

định.

-

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo

-

nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Cho vay hợp vốn: Ngân hàng cùng một hoặc một số tổ chức tín dụng khác
thực hiện cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của
khách hàng; trong đó, ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác làm đầu mối
dàn xếp. Cho vay hợp vốn được thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của Ngân

-

hàng Nhà nước và hướng dẫn của từng ngân hàng
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ

thanh toán.
 Ngoài ra còn có thể xem xét nghiệp vụ tín dụng theo ngành kinh tế công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; theo mức độ rủi ro cao hay thấp; theo mục
đích sử dụng tài trợ là sản xuất, tiêu dùng hay thương mại... Quan hệ tín dụng
được thiết lập giữa hai bên là Ngân hàng và khách hàng, khách hàng là đối tác
hết sức quan trọng trọng hoạt động tín dụng với Ngân hàng. Vì vậy, người ta
cũng phân chia khách hàng thành khách hàng Doanh nghiệp lớn, Doanh

doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước (như
Mỹ), chỉ những DNVVN độc lập thì mới là DNVVN, nhưng cũng có nước tính
cả DNVVN là thành viên của các công ty lớn cũng là DNVVN.
Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để phân loại
doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn. Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá
nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn. Theo Liên
minh Châu Âu, DNVVN là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt
quá 250. Tại Úc, DNVVN là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không
vượt quá 300, còn tại Mỹ là không quá 1000. Trong cùng một khu vực, khái
niệm DNVVN cũng có sự khác nhau. Tại Nam Phi, DNVVN là doanh nghiệp
có từ 1đến 500 công nhân. Tại Chilê và Colombia con số này là 11 đến 200.
Trong khi đó tại Mexico thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi
là DNVVN.
Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước
cùng với yêu cầu bức thiết trong vấn đề hỗ trợ phát triển đối với các DNVVN,
ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/ NĐ-CP (thay
thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001) về “Trợ giúp phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh
doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp:

SV: Phạm Duy Khánh

12

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

sản

< 10
người

< 20 tỷ

10 - 200
người

Công nghiệp và
xây dựng


-

lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chưa qua đào tạo.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao. DNVVN chỉ
cần đầu tư nhỏ về tài sản cố định, có thể sử dụng máy móc thiết bị trong nước,
dễ dàng thay đổi công nghệ đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không tốn kém

SV: Phạm Duy Khánh

13

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

nhiều chi phí, có thể kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện
đại, sản xuất chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi.
DNVVN có lợi thế hơn doanh nghiệp lớn khi mà việc thay đổi theo kịp công
nghệ mới sẽ đồng nghĩa với việc thay đổi đồng loạt hoặc toàn bộ một số lượng
lớn các trang thiết bị máy móc với số vốn đầu tư không nhỏ. Ngoài ra với số
vốn đầu tư ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn của loại hình doanh nghiệp này
thương khá nhanh, góp phần gia tăng khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi
-

thành phần kinh tế.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu
quả. DNVVN có quy mô vừa và nhỏ, với số lượng vốn, lao động không nhiều,

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

Môi trường kinh doanh không thuận lợi, thị trường tiêu thụ sản phẩm nhỏ và
bấp bênh. Do có những hạn chế về vốn nên khả năng quảng bá và tiếp cận thị
trường trong nước cũng như nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn. Vốn ít, công
nghệ kém cũng đồng nghĩa với việc chất lượng về sản phẩm, dịch vụ không
đảm bảo và khó cạnh tranh với những sản phẩm của các doanh nghiệp lớn

-

cùng ngành.
Thiếu thông tin. Cập nhật thông tin, phân tích và đánh giá thị trường là một
trong những yếu tố rất quan trọng trong quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, hầu
hết các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không quan tâm đến vấn đề này. Do
không nắm bắt kịp thời tình hình về thị trường đầu vào, đầu ra cũng như các
quy định pháp luật liên quan nên các doanh nghiệp này thường dễ mất tính

-

chủ động.
Trình độ quản lý và đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế. Do phần lớn các
DNVVN có không gian hoạt động tương đối nhỏ và kĩ năng sản xuất chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình vì vậy trình độ quản lý và khả
năng lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức và triển khai sản xuất kinh doanh còn
mang tính tự phát.
Qua những đặc điểm của DNVVN, có thể thấy được vì sao hầu hết các nước đều

có những chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển DNVVN. Một trong những chính sách
hỗ trợ của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng đối với các doanh nghiệp
này là chính sách trợ giúp tài chính thông qua việc cấp tín dụng ngân hàng.

chuyển từ cạnh tranh bằng giá cả sang cạnh tranh bằng chất lượng và công nghệ.
Trong điều kiện đó thì lợi thế của các doanh nghiệp lớn sẽ bị giảm sút. Như vậy,
một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biến trong các tập
đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng tăng.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, tiến tới một nền kinh tế thị trường thì DNVVN càng có vai trò
quan trọng. Thể hiện cụ thể qua các mặt sau:
a) Góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm cho người lao động

Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì DNVVN có vị trí đặc biệt quan trọng.
Lịch sử phát triển kinh tế của các nước công nghiệp phát triển hay của các nước
đang phát triển và cụ thể là thời kỳ đầu đổi mới của Việt Nam đã cho thấy, khi nền
kinh tế suy thoái - sau khủng hoảng hoặc chiến tranh, các doanh nghiệp lớn thường
phải giảm lao động để giảm chi phí. Trong khi đó, nhờ đặc tính linh hoạt, uyển
chuyển, dễ thích ứng với những thay đổi của thị trường nên các DNVVN vẫn duy
trì được hoạt động và phát triển thêm lên. Vì vậy, các DNVVN không những không
giảm bớt số lao động hiện có mà còn có khả năng hấp thụ thêm số lao động dôi dư

SV: Phạm Duy Khánh

16

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

trong xã hội.

17

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

Về tiền vốn: Đối với các nước phát triển vấn đề vốn có thể không khó khăn lắm,
nhưng đối với các nước đang phát triển và kém phát triển thì việc tận dụng mọi
nguồn vốn trong xã hội là rất cần thiết. Chính các DNVVN đã cho phép làm được
điều này, vì loại hình DNVVN mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có
vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực
hoạt động nào với quy mô tuỳ ý.
Về lao động: Đối với các doanh nghiệp lớn thường có nhu cầu về lao động với
những trình độ nhất định, giới hạn trong những lĩnh vực sản xuất nhất định. Trong
khi đó, các DNVVN do nhu cầu đa dạng nên có thể sử dụng lao động ở đủ mọi lứa
tuổi, mọi trình độ, từ lao động có trình độ cao đến lao động có trình độ thấp hay cả
những lao động chưa hề qua đào tạo, và thuộc mọi lĩnh vực, ở khắp các địa
phương. Vì vậy, có thể nói chính các DNVVN cũng là một nơi đào tạo người lao
động ít tốn kém chi phí nhất.
Về mặt kỹ thuật: DNVVN lựa chọn kỹ thuật phù hợp với khả năng về vốn và
trình độ lao động. Những kỹ thuật được ứng dụng trong các DNVVN rất đa dạng,
phong phú: từ thủ công đến cơ khí hóa, tự động hóa; từ truyền thống đến tiên tiến,
hiện đại. Mỗi trình độ kỹ thuật có những ưu và nhược điểm riêng, và không phải cứ
tự động hóa hay hiện đại hóa là tối ưu mà ngược lại. Việc tận dụng mọi kỹ thuật
hiện có là cần thiết, nhất là trong điều kiện nền kinh tế của các nước đang phát
triển.
Về nguyên vật liệu: Các DNVVN có thể vươn tới được những vùng nguyên liệu

các doanh nghiệp lớn.
f)

Góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ kinh tế và là cơ sở để

phát triển thành doanh nghiệp lớn
Do lợi nhuận của vốn đầu tư tại các DNVVN thường là số dương nên các
DNVVN có xu hướng giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản xuất. Chính vì
vậy, quá trình phát triển DNVVN cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm mở rộng
thị trường, hoặc sự liên kết, hợp tác kinh doanh…
Ngoài ra, do chi phí đầu tư thấp, việc khởi sự bằng mô hình DNVVN tạo khả
năng thử nghiệm các sản phẩm mới và tạo tiền đề phát triển trở thành doanh nghiệp
lớn.
g) Góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng tỷ lệ nội địa hóa của

sản phẩm
Với đặc tính năng động và nhạy bén, cho phép các DNVVN tham gia sản xuất
các sản phẩm xuất khẩu hoặc những sản phẩm có khả năng thay thế hàng nhập
khẩu. Chất lượng sản phẩm có thể không cao, nhưng chắc chắc là giá sẽ rẻ hơn

SV: Phạm Duy Khánh

19

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân


SV: Phạm Duy Khánh

20

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

khâu lưu thông trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc sinh lời. Khi thành lập cũng như
trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu vốn, cần
xem xét có thể tạo vốn từ những nguồn nào, dưới hình thức nào với chi phí vốn
thấp nhất, qua đó có thể đảm bảo đầy đủ vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh
vòng quay vốn. Đây là vấn đề hết sức quan trọng và khó khăn, đặc biệt đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Căn cứ vào phạm vi huy động vốn mà một doanh nghiệp có khả năng huy động
thì có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.
Có rất nhiều kênh để huy động vốn. Tuy nhiên mỗi kênh huy động lại có những
hạn chế nhất định.
-

Huy động từ mối quan hệ bạn bè, người thân: Kênh huy động này thường
không có tính ổn định, số lượng vốn huy động được nhỏ, không đáp ứng đủ
nhu cầu cần thiết của phương án, thời gian vay vốn phụ thuộc vào người cho

-


GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

-

Được cung cấp lượng vốn vừa đủ đáp ứng nhu cầu cần thiết đối với mỗi

-

phương án kinh doanh cụ thể;
Thời gian vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

-

nên đảm bảo tính chủ động trong việc lập kế hoạch tài chính, kế hoạch trả nợ;
Chi phí sử dụng vốn rẻ, từ đó đảm bảo cho phương án được tối đa hoá lợi

-

nhuận;
Được sử dụng nhiều sản phẩm, tiện ích khác của Ngân hàng như: bảo lãnh,

-

mở L/C, quản lý tiền mặt, chuyển tiền…;
Do khả năng quản lý có giới hạn của các chủ DNVVN nên trong quá trình
cung ứng tín dụng, ngân hàng còn có thể tư vấn cho các DNVVN về những
vấn đề có liên quan đến tình hình tài chính cũng như cung cấp thêm cho
doanh nghiệp những thông tin quan trọng về thị trường,… Những tư vấn của
ngân hàng giúp doanh nghiệp hoàn thiện các phương án, dự án kinh doanh có
hiệu quả hay ngăn chặn việc đầu tư vào những phương án, dự án kém hiệu


này thường rất hạn chế. Báo cáo tài chính của các DNVVN thường không thể
hiện đầy đủ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không lập được
bảng lưu chuyển tiền tệ, hoặc các báo cáo tài chính thường không trung thực
và không được kiểm toán. Đặc biệt, tại hầu hết các doanh nghiệp nhỏ việc
hạch toán kế toán không theo chuẩn mực chung, mà chỉ mở sổ theo dõi sơ sài
-

kiểu “ sổ chợ” và ít khi lập báo cáo tài chính.
Rủi ro trong cho vay đối với DNVVN được đánh giá là cao hơn so với cho
vay các doanh nghiệp lớn vì: (i) Các DNVVN dễ khởi sự và (vì vậy) cũng dễ
kết thúc; (ii) Trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp
thường không cao nên dễ bị thua lỗ hơn; (iii) Thông tin về các DNVVN trên
thị trường rất hạn chế, không phổ biến và cập nhật thường xuyên như thông
tin về các doanh nghiệp lớn.

1.2.3 Quan niệm về chất lượng cho vay của NHTM
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng kinh
doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch
vụ khác. Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động cho vay là hoạt động
quan trọng nhất. Hoạt động cho vay chiếm tỉ trọng từ 85-95% doanh thu, mang
lại nhiều lợi nhuận nhất song cũng đồng nghĩa chứa đựng mức độ rủi ro cao
nhất. Trên thế giới cũng như tại nước ta hiện nay, Ngân hàng ngày càng đa dạng
hóa khách hàng, đa dạng hóa các hình thức cho vay, mở rộng thị trường hoạt
động... một mặt để phân tán rủi ro song mặt khác lại làm cho ngân hàng chịu ảnh
hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoại hơn. NHTM là doanh nghiệp đặc biệt, cũng
hạch toán kinh doanh độc lập và mục tiêu của các NHTM cũng là lợi nhuận.
Chính vì vậy, chất lượng cho vay có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của
NHTM. Để có thể đánh giá và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay,


 Các chỉ tiêu định tính: Chất lượng cho vay đối với DNVVN thể hiện ở khả

năng tằng cường mở rộng cho vay đáp ứng được nhu cầu của các DN đồng
thời đảm bảo sự phát triển của Ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển
chung của đất nước. Nghĩa là chất lượng cho vay cần được xem xét gắn liền
-

với 3 chủ thể là NHTM, các DNVVN và nền kinh tế xã hội.
Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là biểu hiện của chất lượng cho
vay. Chất lượng cho vay được đánh giá là tốt khi các DN quan hệ cho vay với

SV: Phạm Duy Khánh

24

Lớp: NHTME-K11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Nguyễn Tường Vân

Ngân hàng được đáp ứng tốt nhu cầu của họ. Khách hàng nói chung và
DNVVN nói riêng luôn mong muốn một quy trình thủ tục tín dụng đơn giản,
gọn nhẹ, khoa học, thuận tiện và thật sự khách quan trong thái độ làm việc của
ngân hàng. Tất nhiên dù gọn nhẹ đến mấy vẫn phải tuân theo những nguyên
tắc quy trình cho vay, các nguyên tắc đảm bảo an toàn khác. Doanh nghiệp
được cung cấp vốn nhanh chóng , kịp thời sẽ giúp quá trình sản xuất kinh
doanh diễn ra ổn định, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh và giảm được một
phần kinh phí vốn vay. Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status