Thực trạng và giải pháp phát triển cho vay đối với doạnh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Định - Pdf 35

Trang 1

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Huỳnh Ngọc
Anh Thư, các thầy cô trong Khoa Kinh tế - Tài chính – Ngân hàng, những người đã tận
tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những thầy cô giáo đã giảng dạy em trong
trong những học kì vừa qua, những kiến thức mà em đã nhận được trên giảng đường sẽ
là hành trang giúp em vững bước trong tương lai.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị đang công tác tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Định và các bạn trong nhóm thực
tập đã giúp đỡ và cho em những lời khuyên bổ ích về chuyên môn trong quá trình
nghiên cứu.
Cuối cùng, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, và đặc biệt là cha
mẹ, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ em vượt qua những khó khăn
trong cuộc sống.
Quy Nhơn, ngày 3 tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thanh Sương


Trang 2

MỤC LỤC


Trang
Lời mở đầu.....................................................................................................................
CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ tín dụng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ của NHTM.........................................................................................
1.1> Khái quát tính dụng DNVVN của NHTM.................................................................

Trang 3

2.2.1.4 Căn cứ vào phương thức cho vay.........................................................................
2.2.2 - Đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN.....................................................
2.2.3 - Quy trình nghiệp vụ tín dụng đối với DNVVN tại VietinBank Bình Định..........
2.3>. .Đánh giá chung về hoạt động cho vay đối với DNVVN tại VietinBank Bình Định...........
2.3.1 - Những thành tựu.....................................................................................................
2.3.2 - Hạn chế...................................................................................................................
2.3.3 - Nguyên nhân của những hạn chế...........................................................................
CHƯƠNG 3: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay
DNVVN tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Định..............

3.1>.Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay DNVVN........................................
3.1.1 - Xây dựng chiến lược nâng cao hiệu quả cho vay DNVVN...................................
3.1.2 - Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp, đổi mới quy trình cho vay.....................
3.1.3 - Nâng cao chất lượng thẩm định dự án và khách hàng...........................................
3.1.4 - Nâng cao hoạt động Marketing..............................................................................
3.1.5 - Cải thiện đội ngũ chất lượng cán bộ tín dụng........................................................
3.1.6 - Hiện đại hóa công nghệ của ngân hàng..................................................................
3.2> Một số kiến nghị.........................................................................................................
3.2.1 - Đối với Chính phủ, Nhà nước................................................................................
3.2.2 - Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam................................................................
3.2.3 - Đối với Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.............................................
Kết luận...........................................................................................................................

DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang


Bảng


Từ đúng nghĩa

1

CBTD

Cán bộ tín dụng

2

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

3

DN

Doanh nghiệp

4

DNVVN

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

5

GDP


Ngân hàng Nhà nước

11

P.KHDN

Phòng khách hàng doanh nghiệp

12

P.LN

Phòng quản lý nợ

13

P.QLRR

Phòng quản lý rủi ro

14

SXKD

Sản xuất kinh doanh

15

TMCP


Việt Nam đồng

21

XDCB

Xây dựng cơ bản

LỜI MỞ ĐẦU


Trang 6

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một loại hình doanh nghiệp không những
thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà còn đặc biệt
thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. Ở nước ta trước đây, việc
phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mới
kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghịêp này mới thực sự
phát triển nhanh cả về số và chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là bước đi hợp quy luật
đối với nước ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh
tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền đất nước. Các
DNVVN ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mối
quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế giải quyết việc làm - hạn chế lạm pháp.
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt
các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề.
Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất, làm tiền đề cho các khó khăn

5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ tín dụng đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ của NHTM.
Chương 2: Thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Định
Chương 3: Đánh giá chung về hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Định.


Trang 8

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHTM
1.1> Khái quát tín dụng DNVVN của NHTM
1.1.1 - Khái niệm DNVVN
Hiện nay, trên thế giới, không có khái niệm chuẩn mực về DNVVN. Chẳng hạn,
khi phân loại DNVVN thông qua quy mô lao động. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân
hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở
mỗi nước, tùy vào điều kiện và tình hình kinh tế mà họ sẽ quy định số lượng công
nhân cần có của một DNVVN. Theo Liên minh Châu Âu, DNVVN là DN có số lượng
công nhân tối đa không vượt quá 250 người. Tại Úc, con số đó không vượt quá 300
người, còn tại Mỹ là không quá 1000 người... Ở Việt Nam, theo Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, DNVVN được định nghĩa như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đâ đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí


chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ đơn giản cùa quản lý... Các tiêu
chi này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định
trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm
chứng mà ít được sử dụng để phân tích trong thực tế.

-

Nhóm tiêu chí định lượng: có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị


Trang 10

tài sản (hay vốn), doanh thu, lợi nhuận... Trong đó:
+ Số lao động: cỏ thể là lao động trung bình, lao động thường xuyên hay lao
động thực tế;
+ Tài sản (hay vốn): có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố
định, giá trị tài sản còn lại;
+ Doanh thu: cỏ thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện
nay có xu huớng sử dụng chỉ số này).
Cho đến nay tiêu chí được hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam lựa
chọn là phản loại theo quy mô về vốn đăng ký kinh doanh hoặc quy mô về số lao động
trung bình của cơ sở SXKD. Theo đó, DNVVN có thể chia thành ba loại cũng căn cứ

vào quy mô đó là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Tuy nhiên, sự phân loại DN theo
quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

-

Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số

tăng cao
Theo luật doanh nghiệp quy định, việc thành lập DNV&N yêu cầu số vốn thành
lập nhỏ, vì vậy số lượng DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Với ưu
điểm là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức kinh tế tư
nhân đứng ra thành lập doanh nghiệp của mình. Mặt khác, từ trước đó đã tồn tại không
ít các doanh nghiệp nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác xã, các
doanh nghiệp nhà nước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn pháp
định nhỏ như vậy, số lượng các DNVVN đã chiếm phần lớn về số lượng trong nền
kinh tế và có tốc độ gia tăng cao.
b) Các DNVVN có quy mô vốn nhỏ, lao động ít
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các DNVVN
trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷ đồng/doanh
nghiệp. Theo quy định của Luật doanh nghiệp, DNVVN là các doanh nghiệp có số vốn
pháp định không vượt quá 10 tỷ, và có số lao động không vượt quá 300 lao động. Với
số vốn nhỏ như vậy, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị
trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất là khó khăn trong việc cạnh
tranh với các doanh nghiệp lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường. Nhất
là khi nền kinh tế có biến động lớn, ví dụ biến động về đầu vào, DNVVN khó có khả
năng chống đỡ và dễ bị dẫn đến phá sản. Đồng thời, với số lao động ít (< 300 người),
các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh
và mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhất là với tình trạng ít lao động, doanh nghiệp vừa


Trang 12

và nhỏ sẽ khó có được các lao động với tay nghề cao. Với số lao động ít như vậy, sẽ
khó mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên. Và vì đa số
người lao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên môn
giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các doanh nghiệp lớn trên thị
trường, điều này khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong quá trình

nền kinh tế chưa thực sự phát triển.Ở doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, một thực trạng
phổ biến trong các DNVVN là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 15-20 năm
trong ngành điện tử, 20 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã
sử dụng được 20 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam
chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao
1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí
đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng
sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp (Nguồn từ Vietnamnet).
Nhiều DNVVN rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh
doanh. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ chuyên
môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là
do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp
diễn biến của thị trường.
Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm và phán
đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNVVN của Việt Nam trước áp lực cạnh
tranh quốc tế.
f) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động linh hoạt, năng động
Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những thành phần hoạt động linh
hoạt nhất. Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đều chịu tác động và phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi
đó. Với tính năng động như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đạt được hiệu quả
trong hoạt động của mình và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế. Sự đa dạng về loại
hình hoạt động, phương thức quản lý, sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp
cho họ đứng vững được trong thị trường.


Trang 14

1.1.4 - Vai trò của DNVVN:
DNVVN chiếm đông đảo trong hệ thống các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật.

trong nước mà còn xuất khẩu được. DNVVN vừa trực tiếp thu mua nguyên liệu, sản
xuất, vừa liên kết với các doanh nghiệp khác, tạo nên vòng lưu thông hàng hóa khép
kín, vừa có đầu vào sản xuất, vừa có đầu ra tiêu thụ.
 Phát triển gắn bó chặt chẽ với các Doanh nghiệp có quy mô hoạt độnglớn,
tạo mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau.
Nền kinh tế của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới hiện nay, sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển dần từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về
chất lượng và công nghệ. Những loại hàng hóa có chất lượng cao, mang tính sáng tạo,
phong phú, đa dạng về kiểu dáng sẽ chiếm ưu thế trên thị trường. Trong điều kiện này,
lợi thế về qui mô giữa các doanh nghiệp sẽ bị hạn chế một cách đáng kể. Theo đó, sự
phát triển của hoạt động chuyên môn hoá và hợp tác hoá đã cho thấy việc áp dụng mô
hình sản xuất kiểu vệ tinh là phù hợp với điều kiện và khả năng phát triển của mỗi
nước. Trong nền kinh tế các DNVVN sẽ là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn để có thể
gắn bó chặt chẽ và thúc đẩy sự phát triển của từng loại hình doanh nghiệp này. Do vậy
trong một nền kinh tế hiện đại, DNVVN không những không thể hòa tan trong các tập
đoàn lớn mà khả năng phát triển, hoạt động hợp tác để mở rộng ngày càng tăng lên.
 DNVVN giúp khai thác tiềm năng phong phú về vốn trong dân cư để đầu tư
vào sản xuất kinh doanh.
Việc ngày càng xuất hiện nhiều DNVVN, với khả năng hoạt động tốt, lành mạnh
đã tạo dần nếp suy nghĩ cho người dân nên đầu tư vào sản xuất kinh doanh thay vì
trước đây tiền nhàn rỗi chỉ biết giữ, gửi tiết kiệm hoặc mua vàng cất trữ. DNVVN là
trụ cột của kinh tế địa phương, do các doanh nghiệp lớn thường đặt tại các trung tâm
kinh tế, còn DNVVN có mặt ở hầu hết các địa bàn, giúp giải quyết nhanh chóng việc
làm cho lao động địa phương, yếu tố sản xuất tại cơ sở.
Khi nền kinh tế gặp khó khăn, khủng hoảng, DNVVN có vai trò kích cầu nền kinh
tế 1 cách mạnh mẽ (vì các doanh nghiệp này thông thường ít bị ảnh hưởng mạnh khi
nền kinh tế biến động), bằng những đóng góp vào GDP, chi tiêu cho sản xuất kinh


Trang 16

không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được. Bên


Trang 17

cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do
tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản
xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh
doanh mạo hiểm.

 Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi
phí cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng
ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời doanh
nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với chiến lược phát triển, đầu
tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có
thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có
chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế.

 Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm. Số lượng lao động
trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá
mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó. Nếu
xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp.
b. Khó khăn:
- DNVVN có quy mô vốn thấp. Ngay trong tên gọi “vừa và nhỏ” cũng đã phần nào
nói lên sự khiêm tốn về quy mô vốn của loại hình DN này. Trên thực tế, các DNVVN
có số vốn thấp hơn 10 tỷ là rất nhiều, chủ yếu tập trung ở các hộ kinh doanh cá
thể. Để có thể tăng quy mô vốn phục vụ cho hoạt động SXKD, các DNVVN có thể


vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập. Phần lớn chủ sờ hữu DNVVN thường đồng

thời là

người quản lý, giám đốc, quản đốc... Hình thức quản trị điều hành còn

mang nặng tính

gia đình, tập trung vào một vài người. Hệ quả là không phát huy tính

tự chủ, sáng tạo của
chiến lược phát

nhân viên. Đại bộ phận DNVVN vẫn còn xa lạ với việc xây dựng

triển SXKD lâu dài và bền vừng với những mục tiêu, sứ mệnh được

xác định rõ ràng.

Thay vào đó, nhiều DN lại “lao theo” những cơ hội kinh doanh

ngắn hạn, nhất thời.

- Công nghệ lạc hậu, khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại còn yếu, tốc độ đổi mới
công nghệ chậm là

đặc điểm nổi bật của DNVVN Việt Nam. Từ sự hạn chế về nguồn

vốn nên các DNVVN khó có thể tiếp cận, đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao

Theo mục 1 Điều 3 quyết định 1627/QĐ- NHNN về quy chế cho vay của tổ chức
tín dụng với khách hàng :
Cho vay là sự chuyển nhượng từ người cho vay sang người đi vay một lượng tài
sản trong một thời gian nhất định và phải hoàn trả cả gốc và lãi vô điều kiện khi đến
hạn.
Trong các nghiệp vụ chính của Ngân hàng thì cho vay là nghiệp vụ mang lại nhiều
lợi nhuận, là nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng. Mặc dù vậy, khi tiến hàng cho vay,
vấn đề rủi ro, khó đòi của các khoản vay là luôn tồn tại, đòi hỏi Ngân hàng phải thực
hiện tốt quy trình cho vay, giám sát hiệu quả các khoản vay, có như vậy mới nâng cao
được hiệu quả cho vay.
1.2.2 - Các hình thức cho vay đối với DNVVN:
1.2.2.1. Căn cứ vào tính chất bảo đảm
− Cho vay không bảo đảm (cho vay tín chấp): là loại cho vay không cần tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lành của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín.


Trang 20

Đối với những khách hàng truyền thống, có khả năng tài chính lành mạnh, hoạt
động kinh doanh có hiệu quả, luôn trả nợ đúng hạn thì NH có thể cấp tín dụng
mà không đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung. Loại tín dụng này thường khó áp dụng
cho các DNVVN vì những hạn chế về sự bất cân xứng thông tin, sự yếu kém về
khả năng tài chính và công tác quản trị của các DNVVN.
− Cho vay cỏ bảo đảm: là loại cho vay được NH cung cấp với điều kiện phải có
tài sàn thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Loại hình cho vay này áp
dụng phổ biến cho các DNVVN vì họ thường không có uy tín cao đối với NH, khi
vay vốn đòi hỏi phải có sự bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để NH có
thêm một nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất còn thiếu
trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ.
1.2.2.2. Căn cứ vào đồng tiền vay vốn

khách hàng có đặc điểm luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay
từng lần. NH cho vay và khách hàng xác định và thỏa thuận một HĐTD duy trì trong
một khoản thời gian nhất định. Trong thời hạn duy trì HĐTD, khách hàng được rút vốn
phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải đảm bảo không vượt
quá HĐTD đã ký kết.
− Cho vay theo dự án đầu tư: NH cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển SXKD, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. NH cho vay
cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thỏa thuận mức vốn đầu tư duy trì cho các
thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ. NH thực hiện giải ngân theo
tiến độ thực hiện dự án.
− Cho vay hợp vốn: NH cho vay cùng với một hoặc một số TCTD hoặc chi nhánh
của TCTD khác thực hiện cho vay một hoặc một phần dự án, phương án. Trong đó,
NH cho vay có thể là tổ chức đầu mối thành viên cho vay hợp vốn.
NH cho vay thực hiện cho vay hợp vốn theo quy chế đồng tài trợ của NHNN và hướng
dẫn của Tổng giám đốc NH.
− Cho vay trả góp: Đây là khoản tài trợ cho nhu cầu mua sắm MMTB của DN có
thời hạn trên một năm. Tiền vay được thanh toán dần cho NH theo từng thời kỳ. Đến
hạn khách hàng không trả nợ đúng hạn thì NH được quyền chủ động trích khoản tiền
gửi của khách hàng để thu nợ hoặc chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn và thông
báo cho khách hàng biết.


Trang 22

Cho vay trả góp rủi ro cao do DN thường thế chấp bằng tài sản mua trả góp. Khả
năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu thu nhập của người
vay giảm sút thì khả năng thu nợ của NH cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên
lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của NH.
− Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: NH sẽ cam kết đảm bảo cho khách
hàng vay vốn trong phạm vi HĐTD nhất định để đầu tư cho dự án.




hàng và thực tế phát sinh, NH cho vay sẽ xem xét cho vay theo các
phương thức khác phù hợp với đặc điểm hoạt động trong từng thời kỳ
và không trái với quy định của pháp luật.
Chi nhánh báo cáo cho Tổng giám đốc xem xét, chấp thuận bằng văn bản mới được
phép thực hiện.

1.2.3 - Quy trình nghiệp vụ cho vay đối với DNVVN
Một quy trình tín dụng cơ bản đối với DNVVN (trích từ cẩm nang tín dụng của
VietinBank) gồm các bước sau:
B1. Tiếp xúc khách hàng, hướng dẫn cho khách hàng về các điều kiện tín dụng và
cách lập hồ sơ vay vốn.
− CBTD cần nắm bắt, sàn lọc một số thông tin cơ bản khi tiếp xúc ban đầu với
khách hàng. Đánh giá thông tin cơ bản của khách hàng, đồng thời đối chiếu với những
quy định tín dụng của NH cho vay.
− CBTD tiếp nhận nhu cầu vay vốn và hướng dẫn khách hàng cung cấp, thiết lập
các hồ sơ vay vốn (gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế và hồ sơ bảo đảm khoản vay).
B2. Tiếp nhận hồ sơ vay vốn, kiểm tra hồ sơ và mục đích vay vốn.
− Trường hợp hồ sơ chưa đủ, chưa rõ, chưa đúng yêu cầu của NH cho vay thì yêu
cầu khách hàng bổ sung, hoàn thiện hoặc lập thông báo từ chối cho vay trình người có
thẩm quyền ký.
− Trường hợp hồ sơ xin vay đã đáp ứng đúng yêu cầu của NH cho vay thì CBTD
trình bộ hồ sơ cho Trường phòng phê duyệt.
B3. Thẩm định tín dụng, gồm các quy trình cụ thể sau:
Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án SXKD/dự án
đầu tư.
Kiểm tra, xác minh thông tin.
Phân tích ngành.

đó trình Trưởng phòng xem xét và trình Giám đốc phê duyệt.
Sau khi Giám đốc ký duyệt khoản vay, CBTD sẽ tiến hành thủ tục giải ngân cho
khách hàng. Tiến trình giải ngân được thực hiện theo thỏa thuận của hai bên.
Các loại giấy tờ khác ngoài hồ sơ vay vốn để giải ngân thực hiện theo quy định
của NH cho vay.
B7. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay.


Trang 25

Việc kiểm tra sau khi cho vay phải được diễn ra thường xuyên (định kì hoặc đột
xuất) và phải lập biên bản báo cáo kết quả kiểm tra.
Nếu trong quá trình kiểm tra phát hiện thấy có những rủi ro thì CBTD phải tiên
hành xác định nguyên nhân, đánh giá khả năng tổn thất đối với Chi nhánh, báo cáo
người có thẩm quyền nắm rõ tình hình và đề xuất biện pháp xử lý cần thiết.
B8. Thu nợ và xử lý những phát sinh (nếu có).
Thu nợ:
Trước khi đến hạn trả nợ, CBTD sẽ thông báo nợ đến khách hàng. Nếu khách hàng
không có khả năng trả nợ đúng hạn, CBTD đề xuất biện pháp thích hợp để cấp thẩm
quyền quyết định.
Khách hàng có thể trả nợ bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt.
Xử lý nợ quá nạn:
+ Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng chưa trả được nợ theo cam kết thì lập tức NH
cho
vay sẽ cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ) hoặc tiến
hành chuyển toàn bộ số dư nợ đó sang nợ quá hạn theo quy định phân loại nợ của NH
cho vay.
+ Trường hợp khách hàng vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng hoặc
sử dụng vốn sai mục đích thì sẽ bị chấm dứt cho vay. Khi đó, CBTD phải thu hồi nợ
trước hạn đã cam kêt hoặc đề nghị Giám đốc phê duyệt chuyển sang nhóm nợ quá hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status