Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030 - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết lập quy hoạch
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo định hướng phát triển du lịch vùng của
chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
2030 bao gồm thành phố Đà Nẵng và 7 tỉnh là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận với diện tích tự nhiên 44.376,9 km2,
dân số năm 2012 xấp xỉ 9.000.000 người.
Theo tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiếp
giáp vùng Bắc Trung Bộ ở phía Bắc, vùng Tây Nguyên ở phía Tây, Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào ở Tây Bắc, vùng Đông Nam Bộ ở phía Tây Nam, phía Đông là biển
Đông. Vùng bao gồm lãnh thổ 4 tỉnh và thành phố thuộc vùng Kinh tế trọng điểm
miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) ở phía Bắc và 4 tỉnh
còn lại ở cực Nam Trung Bộ là Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
Vùng có đường bờ biển từ Đà Nẵng đến Bình Thuận dài gần 1.200 km với nhiều
vũng, vịnh, đầm, ghềnh, bán đảo, bãi cát. Các đảo ven bờ gồm Cù Lao Chàm (Quảng
Nam) rộng 16,5 km2; Lý Sơn (Quảng Ngãi) rộng 10 km2, Phú Quý (Bình Thuận) rộng
16,4 km2 và nhiều đảo đá lớn nhỏ khác. Hai quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) nằm cách
bờ biển Đà Nẵng khoảng 130 hải lý (240 km) và Trường Sa (Khánh Hòa) nằm cách bờ
biển Khánh Hòa khoảng 250 hải lý (465 km). Đây là vùng có tài nguyên du lịch biển,
đảo nổi bật.
Duyên hải Nam Trung Bộ cũng là vùng có nhiều di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội,
làng nghề truyền thống nổi tiếng gắn với các nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm
Pa, văn hóa các dân tộc thiểu số Đông Trường Sơn, các cuộc chiến tranh dựng nước và
giữ nước của dân tộc…trong đó nổi bật là hệ thống di tích của nền văn hóa ChămPa.
Đây là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc trưng của Vùng.
Hệ sinh thái với các khu bảo tồn tự nhiên, vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển
gắn với biển, đảo và hệ sinh thái Đông Trường Sơn là các tài nguyên du lịch sinh thái.
Vùng cũng là nơi được thiên nhiên ưu đãi và ban tặng nhiều sản vật có giá trị
phục vụ văn hóa ẩm thực.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí thuận lợi trong mối liên kết vùng để
phát triển du lịch. Du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trên tuyến du lịch xuyên

- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013;
- Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009;
- Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 09/02/2007 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020;
- Nghị quyết số 17/2001/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam về quy hoạch sử sụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm
(2011 - 2015) cấp quốc gia;
- Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về Chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt
và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Du lịch;
- Nghị định số 98/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Di sản văn hóa;
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

2


- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập,
phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sử
dụng đất trồng lúa và các Nghị quyết của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) đối với các tỉnh thành phố


THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

3


- Quyết định 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cả nước đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
- Quyết định số 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 1874/QĐ-TTg ngày 13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm miền
Trung đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Thông tư số 01/2007/TT-BKHĐT ngày 07/02/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006
của Thủ tướng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội;
- Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT ngày 09/02/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về hướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;
- Thông tư 05/2013/TT-BKHĐT ngày 31/10/2013 của Bộ Kế hoạch Đầu tư
hướng dẫn tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và công bố quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;
- Quyết định số 2782/QĐ-BVHTTDL ngày 15/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án “ Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven
biển Việt Nam đến năm 2020”;
- Quyết định số 1593/QĐ-BVHTTDL ngày 03/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch giao nhiệm vụ lập “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch

- Phát huy lợi thế du lịch của Vùng, tạo sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn nhằm
sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch.
- Đảm bảo công khai trong quá trình lập và công bố quy hoạch.
Tăng cường tính liên kết vùng để phát huy lợi thế vùng, địa phương trong vùng,
sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, đáp ứng nhu cầu du lịch.
3.2. Mục tiêu
- Là bước cụ thể hóa chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Làm cơ sở lập các quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch các địa phương; quy
hoạch các khu, điểm du lịch quốc gia.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên,
cảnh quan môi trường, quỹ đất…đảm bảo phát triển bền vững.
3.3. Nhiệm vụ và nội dung quy hoạch
1. Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của ngành du lịch Vùng.
2. Phân tích, đánh giá các yếu tố nguồn lực và hiện trạng phát triển du lịch Vùng.
3. Xác định quan điểm, mục tiêu; dự báo chỉ tiêu và luận chứng các phương án
phát triển du lịch Vùng.
4. Tổ chức không gian, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Vùng.
5. Xác định danh mục các khu vực, các dự án đầu tư, vốn đầu tư, nguồn nhân
lực; thị trường và sản phẩm du lịch Vùng.
6. Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường.
7. Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch.
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

5


4. Phương pháp lập quy hoạch
4.1. Phương pháp thu thập tài liệu: Được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số

I. ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI
NAM TRUNG BỘ
1. Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ
1.1. Đặc điểm tự nhiên của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có tọa độ địa lý trên
đất liền từ 11033’18” đến 16012’58” vĩ độ Bắc; từ 107012’40”đến 109023’24” kinh độ
Đông. Nếu tính cả quần đảo Trường Sa thì điểm cực Đông của Vùng (hiện đang kiểm
soát) nằm tại đá Tiên Nữ thuộc quần đảo này có tọa độ 8051’18” vĩ độ Bắc,
114039’18” kinh độ Đông. Phía Bắc Vùng giáp Thừa Thiên - Huế (vùng Bắc Trung
Bộ); phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và
các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng (vùng Tây Nguyên); phía Nam giáp
các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (vùng Đông Nam Bộ). Tổng diện tích tự nhiên
toàn vùng xấp xỉ 44.376,9 km2 chiếm 13,4% diện tích cả nước (nguồn: Niên giám
Thống kê 2012).
Có thể nhận thấy, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là dải đất hẹp ngang (trung
bình 40 km đến 50 km) kéo dài khoảng 800 km từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, nằm kẹp
giữa một bên là Tây Nguyên rộng lớn một bên là biển Đông với nhiều đảo, quần đảo,
trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nổi tiếng. Địa hình bao gồm đồng
bằng ven biển và núi thấp. Núi, gò đồi ở phía Tây, dải đồng bằng hẹp phía Đông bị
chia cắt bởi nhiều dãy núi đâm ngang sát biển tạo thành các đồng bằng nhỏ hẹp liền kề
nhau. Đồng bằng chủ yếu do sông và biển bồi đắp, khi hình thành nên thường bám sát
theo các chân núi. Bờ biển sâu, khúc khuỷu có nhiều vũng, vịnh; đầm, bán đảo, ghềnh
đá hẹp, bãi và cồn cát...Do đó vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là một khu vực chứa
đựng nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú (đặc biệt là cảnh quan và bãi tắm
ven biển) là yếu tố thuận lợi phát triển du lịch và được mệnh danh là "thiên đường du
lịch biển, đảo của Việt Nam".
Cùng với phần đất liền, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có thềm lục địa và vùng
lãnh hải rộng lớn, với rất nhiều đảo, quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa (thuộc
thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa). Quần đảo Hoàng

phía Nam của Vùng.
Ngoài ra, đây cũng là một trong những vùng có tài nguyên gió nổi trội so với cả
nước. Cường độ gió lớn ở các dải ven biển của Vùng, đặc biệt là tại Ninh Thuận, Bình
Thuận là nguồn năng lượng để phát triển phong điện.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa khô kéo dài tháng
1 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Ngoài ra thời kỳ tháng 5, tháng 6
thường xảy ra thời kỳ mưa lũ tiểu mãn của khu vực. Thời kỳ mùa mưa trùng vào thời
kỳ hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa Đông Bắc nên lượng mưa tập trung
chủ yếu vào mùa mưa, chiếm từ 65% đến 80% tổng lượng mưa năm. Tổng lượng mưa
năm trung bình trong toàn khu vực phổ biến từ 1.150 mm đến 1.950 mm; riêng tỉnh
Ninh Thuận lượng mưa năm đạt từ 700 mm đến 800 mm, không bằng một nửa lượng
mưa trung bình của cả nước (1.900 mm/năm) và gây nên hiện tượng sa mạc hoá. Ninh
Thuận, Bình Thuận là hai tỉnh khô hạn nhất của cả nước. Có thể thấy vùng Duyên hải
Nam Trung Bộ có mùa khô kéo dài và một đặc điểm quan trọng là mùa mưa và mùa
khô của Vùng không cùng lúc với mùa mưa và khô của các vùng khác, mùa mưa
thường đến muộn hơn và ngắn. Mùa hè, trong khi cả nước có lượng mưa lớn nhất, thì
Vùng khí hậu này lại đang ở thời kỳ khô nhất. Với đặc điểm nhiều nắng, ít mưa bên
cạnh đặc điểm địa hình là vùng biển sâu nên nước biển của Vùng luôn trong vắt, xanh
biếc càng tạo nên sự hấp dẫn khách du lịch.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng là một trong những khu vực chịu ảnh
hưởng nặng nề của bão và áp thấp nhiệt đới. Bão hoạt động mạnh nhất vào tháng 10,
tần suất 1,0 đến 1,3 cơn bão/tháng, chỉ sau vùng Bắc Trung Bộ (với tần suất 1,3 đến
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

8


1,7 cơn bão/tháng). Đây là một yếu tố bất lợi của Vùng đối với hoạt động du lịch trong
mùa mưa bão. Ngoài ra Vùng cũng là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng sâu

lớn. Điều này cho thấy phải có chiến lược khai thác và quản lý hợp lý tài nguyên nước
ngầm, tránh tình trạng hạn hán nặng như năm 2005 tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận. Trong tài nguyên nước ngầm, các mỏ nước khoáng, nước nóng có tác dụng
sinh lý tốt đối với cơ thể con người do có chứa những thành phần đặc biệt có hàm
lượng cao và nhiệt độ thích hợp là tài nguyên du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ,
sắc đẹp. Vùng có số lượng các mỏ nước khoáng, nước nóng khá nhiều (chỉ đứng sau
vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ) là nguồn tài nguyên du lịch tắm khoáng nóng,
chăm sóc sức khỏe có giá trị.
1.1.4. Sinh vật: Hệ sinh thái với những loài động thực vật đa dạng cũng tạo nên
sức hút du lịch cho Vùng. Trước tiên phải kể đến là nguồn hải sản phong phú. Vùng
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
9
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030


Duyên hải Nam Trung Bộ chiếm gần 20% sản lượng đánh bắt thủy sản của cả nước
với các ngư trường lớn Ninh Thuận, Bình Thuận, có những loài hải sản như tôm, tôm
hùm, cá mú, ngọc trai…Bên cạnh đó, còn có nhiều loài động vật với chủng loại đa
dạng, thú với nhiều loài như: hổ, báo, gấu, bò rừng, sơn dương, sóc chân vàng, voọc
ngũ sắc, khỉ đuôi dài, trăn gấm…;chim có các loài đại diện như: công, đại bàng đất, gà
lôi, bìm bịp, đặc biệt chim yến cho sản phẩm có giá trị cao, nổi tiếng trong nước và
quốc tế. Đặc biệt, tại đây còn có nhiều loài đặc hữu quý hiếm được đưa vào Sách đỏ
Việt Nam như chà vá chân đen, gà tiền mặt đỏ, ếch cây Trung Bộ (Vườn quốc gia Núi
Chúa), bò tót, ba ba gai (Vườn quốc gia Phước Bình). Đồng thời, rạn san hô tại khu
bảo tồn biển Hòn Mun có tầm quan trọng mang tính quốc tế và đa dạng sinh học thuộc
loại cao nhất ở Việt Nam.
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
1.2.1.Các đặc điểm dân cư, dân tộc: Dân số Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2012
khoảng 9 triệu người, chiếm 10% dân số cả nước.
Mật độ dân cư trung bình cả Vùng là 202 người/km2, tương đương với vùng Bắc


thuộc nhóm xếp hạng khá. Qua đó cho thấy cơ hội thuận lợi cho môi trường kinh
doanh nói chung và ngành du lịch nói riêng tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
Cũng giống như sự phân bố dân cư, các hoạt động kinh tế cũng có sự khác biệt
giữa vùng đồi núi phía Tây và vùng đồng bằng ven biển phía Đông. Các hoạt động
kinh tế chủ yếu ở vùng đồng bằng ven biển bao gồm: công nghiệp, thương mại, du
lịch, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản; vùng đồi núi phía Tây - chăn nuôi gia súc lớn
(bò đàn, cừu), nghề rừng, trồng cây công nghiệp.
* Nông nghiệp: Khó khăn của vùng là quỹ đất nông nghiệp rất hạn chế. Sản
lượng lương thực bình quân năm là 393,2 kg/ người, thấp hơn mức trung bình cả nước
(546 kg/người, năm 2012). Ngoài sản xuất lương thực vùng còn trồng các loại cây
công nghiệp và cây thực phẩm khác phục vụ đời sống và có ý nghĩa đối với hoạt động
du lịch như: thanh long, nho,...là những đặc sản góp phân tạo nên thương hiệu du lịch,
quế - không những là nguyên liệu cho thực phẩm, dược liệu mà còn là nguyên liệu cho
những sản phẩm mỹ nghệ.
* Ngư nghiệp: Là thế mạnh của vùng, bao gồm nuôi trồng, đánh bắt thủy sản.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản khoảng 60.000 ha, có thể nuôi trồng các loại đặc sản
(tôm, tôm hùm, cá mú, ngọc trai...) trên các loại thuỷ vực: mặc, ngọt, lợ. Các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu là mực, tôm, cá đông lạnh. Nghề muối, chế biến thủy sản khá phát
triển, nổi tiếng là muối Cà Ná, Sa Huỳnh, nước mắm Nha Trang, Phan Thiết…
* Dịch vụ: Nhờ điều kiện địa lý thuận lợi nên các hoạt động vận tải trung chuyển
trên tuyến Bắc - Nam diễn ra sôi động. Vận tải biển trong nước và quốc tế có nhiều
thuận lợi. Các thành phố cảng biển vừa là đầu mối giao thông thủy bộ vừa là cơ sở
xuất, nhập khẩu quan trọng của các tỉnh trong vùng và Tây Nguyên. Duyên hải Nam
Trung Bộ đang trở thành điểm đến của khách quốc tế bằng đường biển.
Du lịch là thế mạnh kinh tế của vùng. Đây là một trong 3 vùng phát triển mạnh
về du lịch. Một số địa phương như Bình Thuận, Khánh Hòa, Quảng Nam, Đà Nẵng đã
dần khẳng định được thương hiệu về du lịch của mình.
* Công nghiệp: Công nghiệp lọc hóa dầu, cơ khí, chế biến nông sản, thủy sản,
điện năng, thực phẩm khá phát triển. Phần lớn giá trị công nghiệp tập trung ở các

Hoàng Hậu; Phú Yên có bãi biển Long Thủy; Ninh Thuận có bãi biển Cà Ná, Ninh
Chữ;… từ lâu đã được du khách trong và ngoài nước biết đến. Khánh Hòa nổi tiếng tới
tầm quốc tế với thành phố biển Nha Trang, bãi biển quanh năm tràn ngập nắng vàng,
sắc trời xanh không kém Địa Trung Hải. Thêm vào đó, vịnh Nha Trang, còn được xếp
hạng trong Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới. Bên cạnh vịnh Nha Trang, còn
phải kể đến các vịnh tuyệt đẹp như Vân Phong, Cam Ranh của Khánh Hòa, Vĩnh Hy
của Ninh Thuận. “Thủ đô” resort là danh hiệu dành cho khu du lịch biển Mũi Né của
Bình Thuận từ nhiều năm nay.
Bên cạnh các vịnh nổi tiếng, nhiều đầm mang vẻ đẹp hoang sơ, là tài nguyên du
lịch hấp dẫn như đầm Thị Nại, vịnh Quy Nhơn (Bình Định), đầm Cù Mông, đầm Ô
Loan, vịnh Xuân Đài, Vũng Rô (Phú Yên), đầm Nha Phu (Khánh Hòa)...
Hệ thống đảo ven bờ cũng là những tài nguyên du lịch giá trị. Các đảo Cù Lao
Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi), hệ thống các đảo tại Khánh Hòa, đảo Phú
Quý (Bình Thuận)... có những bãi tắm đẹp, cảnh quan độc đáo, môi trường trong lành
là tài nguyên du lịch tắm biển, thể thao biển và khám phá.
Đặc biệt, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có hai quần đảo xa bờ (hai huyện đảo)
là Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng), Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa) với nhiều tiềm năng
phát triển du lịch biển, đảo, thể thao, khám phá.
Các đặc sản từ biển gồm những loại thực phẩm cao cấp như bào ngư, tôm hùm,
cua huỳnh đế, mực…ở khu vực này ngon nổi tiếng và rẻ. Bên cạnh đó, các sản phẩm
hàng hóa khác sản xuất từ biển như hàng mỹ nghệ, đồ lưu niệm cũng rất có giá trị đối
với du lịch.
Có thể nhận thấy, tài nguyên du lịch biển, đảo là thế mạnh nổi bật của Vùng,
khẳng định thương hiệu du lịch Vùng so với cả nước.

THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

12


cùng độc đáo của Việt Nam, nơi có thể bắt gặp trong một không gian không quá lớn cả
biển, cả sa mạc và những cánh rừng thẳm, được biết đến với cái tên rất phổ thông
“Rừng khô Phan Rang” có giá trị du lịch cao.
Các khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị kết hợp du lịch phải kể đến: bán đảo Sơn
Trà, Bà Nà - Núi Chúa. Đồng thời, các khu bảo vệ cảnh quan như Quy Hòa - Ghềnh
Ráng, Đèo Cả - Hòn Nưa... đều nằm trong các khu vực được quy hoạch để phục vụ
mục đích du lịch.
2.1.5. Một số cảnh quan du lịch đặc biệt: Thiên nhiên trên địa bàn vùng Duyên
hải Nam Trung Bộ đã tạo nên một số cảnh quan đặc biệt có giá trị du lịch cao, tiêu biểu là:
- Gành Đá Đĩa (Phú Yên): Đây là thắng cảnh thiên tạo hiếm thấy về địa chất mà
trên toàn thế giới chỉ xuất hiện ở Ireland, Hàn Quốc và Việt Nam. Đá ở đây được dựng
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
13
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030


đứng theo từng cột, liền khít với nhau, có tiết diện hình lục giác hoặc hình tròn, giống
như những cái đĩa xếp chồng lên nhau nên mới có tên gọi là gành (ghềnh) Đá Đĩa. Tài
nguyên du lich độc đáo này để lại ấn tượng khó quên cho du khách khi đến tham quan.
- Cồn cát Ninh Thuận, Bình Thuận: Vùng đất đầy cát và gió Duyên hải Nam
Trung Bộ có một dạng tài nguyên du lịch đặc trưng là các cồn cát. Ở Ninh Thuận phải
kể đến cồn cát trắng Tuấn Tú, cồn cát đỏ Nam Dương, cồn cát di động Phước Dinh nổi
tiếng. Bình Thuận lại có những cồn cát đẹp đến mê hồn như đồi Hồng và Bàu Trắng.
Tài nguyên du lịch này rất hấp dẫn cho những du khách khám phá vùng đồi cát, đặc
biệt vào lúc bình minh và hoàng hôn.
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo
thể hiện qua các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ; các lễ hội văn
hóa dân gian; ca múa nhạc; ẩm thực; làng nghề thủ công truyền thống; các bảo tàng và
cơ sở văn hóa nghệ thuật; yếu tố con người và bản sắc văn hóa dân tộc. Trong các nền



Hai di sản văn hóa thế giới Khu đền tháp Mỹ Sơn và Đô thị cổ Hội An cũng
được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt về kiến trúc nghệ thuật, luôn thu hút rất
đông khách du lịch.
Trên địa bàn Vùng cũng đã phát hiện được nhiều di chỉ khảo cổ có giá trị nghiên
cứu gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi).
Hệ thống di tích gắn với các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
cũng là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng đối với phát triển du lịch của Vùng. Nổi
bật trong hệ thống tài nguyên du lịch trên là các di tích gắn với khởi nghĩa Tây Sơn
(Bình Định), di tích thuộc hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc.
Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa các tộc thiểu số Đông Trường Sơn phân bố ở miền
Tây của Vùng cũng đang trở thành những tài nguyên du lịch nhân văn giá trị.
Danh mục hệ thống di tích cấp quốc gia của các địa phương trên địa bàn Vùng có
giá trị du lịch được thể hiện ở phụ lục 1.
2.2.2. Lễ hội văn hóa dân gian: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ sở hữu những
nét văn hóa biển đa dạng, phong phú, thể hiện qua đời sống tâm linh của nhân dân.
Thực tế cho thấy, văn hóa biển ở miền Trung, đặc biệt là vùng duyên hải Nam Trung
Bộ đậm đặc hơn so với hai đầu đất nước.
Các làng chài đều có Lăng Ông Nam Hải, nơi cải táng hài cốt của cá voi mà ngư
dân gọi là “Ông”. Hàng năm, các làng chài tổ chức Lễ hội cầu ngư (còn gọi là Lễ tế
Ông Nam Hải) trong 3 đến 5 ngày, vào khoảng từ tháng Giêng đến tháng Năm âm
lịch, để cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, một mùa đánh bắt
thắng lợi, đời sống ngư dân no ấm. Ngoài lễ hội cầu ngư được xem là lễ hội lớn nhất
trong năm, các làng chài Duyên hải Nam Trung Bộ còn duy trì những lễ thức cúng
thuyền rất đặc trưng vào nhiều dịp khác nhau.
Đà Nẵng, đô thị phát triển bậc nhất miền Trung vẫn bảo tồn nhiều lễ hội cộng
đồng của cư dân các ngành nghề, trong đó nổi bật lễ Cầu ngư ở Sơn Trà, Thanh Khê…
Các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian, các trò chơi sôi động, hấp dẫn, như hát
bội, bài chòi, hát hò khoan đối đáp, đua ghe, đấu vật, đua thuyền, thi nấu cơm, làm

riêng có có lẽ là lễ hội Yến Sào (nơi diễn ra lễ hội là miếu thờ Bà Chúa đảo Yến, Hòn
Nội). Đặc biệt Festival biển Nha Trang được tổ chức hai năm một lần là một sản phẩm
văn hóa du lịch khá thành công.
Ninh Thuận nổi bật với những lễ hội của người Chăm (lễ hội Katê, Ranuwan...)
mà ở đó người ta có thể nhận thấy dấu vết trầm tích văn hóa biển truyền thống. Đây là
một trong những lễ hội văn hóa truyền thống đặc trưng của Vùng.
Bình Thuận, tỉnh cực Nam của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nổi tiếng với lễ
hội Nghinh Ông (thần cá voi). Nghinh Ông - Quan Thánh Đế Quân ở Bình Thuận
được xem là lễ hội nghinh Ông lớn nhất Việt Nam.
2.2.3. Ca múa nhạc: Đối với phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ,
ca múa nhạc dân tộc cũng là một loại tài nguyên du lịch giá trị.
Hát Bả trạo, loại hình văn hóa dân gian có nguồn gốc từ "văn hóa biển" nhằm để
phục vụ đời sống tinh thần cho nhân dân; Hát bội (tuồng) là di sản văn hóa của Bình
Định; Đặc biệt, tục chơi Bài chòi mùa xuân của người Việt (Nghệ thuật Bài chòi của
người Việt) được tổ chức thành một lễ hội ở làng quê vào dịp tết Nguyên đán của đồng
bào Nam Trung Bộ đang được trình UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể
đại diện của nhân loại; Điệu múa Katê của dân tộc dân tộc Chăm…là những loại hình
nghệ thuật dân gian đã thể hiện một cách sinh động sự sáng tạo, tâm hồn, tình cảm của
mỗi người dân trong cộng đồng và luôn hấp dẫn khách du lịch tham quan nghiên cứu.
Ngoài ra, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ còn nổi tiếng với các lò võ cổ truyền
Bình Định. Hiện tại, tỉnh Bình Định có 96 võ đường, câu lạc bộ võ thuật. Tỉnh Bình
Định đã 4 lần tổ chức Liên hoan quốc tế võ cổ truyền nhằm hướng tới mục đích chấn
hưng võ cổ truyền Bình Định, đưa tinh hoa văn hóa Việt ra khắp năm châu. Đây cũng
là sản phẩm du lịch độc đáo, tạo dấu ấn riêng cho du lịch Bình Định.

THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

16


nước mắm Nam Ô (Đà Nẵng); gốm Thanh Hà, đồng Phước Kiều, lụa Mã Châu, đèn
lồng Hội An, mộc Kim Bồng, rau Trà Quế (Quảng Nam); đường phổi, kẹo gương Tư
Nghĩa (Quảng Ngãi); rượu Bàu Đá, nón Phú Gia (Bình Định); bánh tráng Hòa Đa,
nước mắm gành Đỏ (Phú Yên); nem chua Ninh Hòa, nai khô Diên Khánh, yến sào hòn
Nội, nước mắm Cửa Bé (Khánh Hòa); gốm Bàu Trúc, dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp - Chung
Mỹ (Ninh Thuận), bánh tráng Phú Long, dệt thổ cẩm La Dạ, nước mắm Phan Thiết
(Bình Thuận)...
Có thể nhận thấy các làng nghề thủ công truyền thống ở vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ là một trong những nguồn tài nguyên du lịch độc đáo, phổ biến khắp các
tỉnh trong Vùng đã và đang thu hút khách du lịch.

THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

17


2.2.6. Các bảo tàng và cơ sở văn hóa nghệ thuật:
a) Bảo tàng: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là nơi có những bảo tàng độc đáo,
mang đặc trưng vùng miền và lưu trữ những cổ vật là tinh hoa văn hóa nghệ thuật, lịch
sử của khu vực có giá trị tham quan, nghiên cứu, tìm hiểu.
Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm nằm ở trung tâm thành phố Đà Nẵng, được
xây dựng trong 21 năm, từ năm 1915 đến năm 1936 bên bờ sông Hàn, theo mô típ tháp
Chăm gồm nhà giữa và hai dãy nhà bên. Bảo tàng lưu giữ rất nhiều tượng thần và
tượng vũ nữ. Tất cả cho thấy sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật điêu khắc Chăm ở thế
kỷ VII và thế kỷ VIII.
Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An là nơi cung cấp những thông tin phong
phú về cư dân cổ thuộc hệ văn hoá Sa Huỳnh. Tại đây trưng bày 216 hiện vật văn hoá
Sa Huỳnh có niên đại trên dưới 2000 năm được phát hiện qua các đợt khảo sát, khai
quật khảo cổ học tại các địa điểm như Hậu Xá, Thanh Chiêm, An Bàng, Xuân Lâm…



giá trị như hầm đèo Hải Vân, cầu Rồng, cầu quay (Đà Nẵng), khu kinh tế Dung Quất
(Quảng Ngãi), cầu Thị Nại và khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Đình). Trong tương lai trên
địa bàn Vùng sẽ còn có thêm nhiều công trình mới có giá trị phục vụ du lịch như hầm
đường bộ đèo Cả (Phú Yên), các nhà máy điện hạt nhân (Ninh Thuận)...Bên cạnh hệ
thống tài nguyên nhân văn vốn có, những tài nguyên du lịch này góp phần đa dạng hóa
sản phẩm du lịch và thu hút khách tham quan.
Đánh giá chung về tài nguyên du lịch:
Qua đánh giá hệ thống tài nguyên du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có thể
rút ra những nhận xét sau:
1) Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có thế mạnh nổi bật về tài nguyên du lịch
biển, đảo với sự đa dạng của các hệ sinh thái đặc trưng:
- Hệ sinh thái bãi biển, cơ sở hình thành các bãi tắm, các khu vực cảnh quan;
- Hệ sinh thái đảo với các đảo lớn, nhỏ, gần bờ và xa bờ;
- Hệ sinh thái trong lòng biển (các rạn san hô, sinh vật biển…);
- Hệ sinh thái đầm phá, vũng, vịnh, bán đảo, ghềnh đá, động thực vật rừng ven
biển…
Hệ thống tài nguyên biển, đảo là tiền đề phát triển dòng sản phẩm chính, đặc
trưng, có sức hấp dẫn cao, tạo thương hiệu du lịch Vùng.
2) Tài nguyên du lịch nhân văn với nét độc đáo, giàu bản sắc của văn hóa
ChămPa. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ vốn là vùng đất của người Chăm và Vương
quốc ChămPa cổ (hay Chiêm Thành) là sự giao lưu giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa
Đông Sơn. Di sản của văn hóa Chăm hầu như chỉ còn hiện hữu ở dải ven biển này với
kinh đô Trà Kiệu, đảo Chàm, cảng Chàm, hệ thống đền tháp, lễ hội và bảo tàng văn
hóa Chăm... Trong đó nổi bật là các Di sản văn hóa Khu đền tháp Mỹ Sơn và Đô thị cổ
Hội An được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa của nhân loại. Các di sản văn hóa
thế giới cũng là cơ sở phát triển dòng sản phẩm chính cho Vùng.
3) Bên cạnh hệ thống tài nguyên nổi bật trên, về tự nhiên vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ còn có hệ sinh thái núi ở phía Tây (hệ sinh thái Đông Trường Sơn), các mỏ

Đông - Tây nối với các trung tâm hành chính của các tỉnh trong vùng. Ngoài ra, hệ
thống đường tỉnh, đường huyện đi hầu hết các điểm dân cư trên địa bàn tạo nên mật độ
giao thông dày đặc.
Các tuyến quốc lộ theo hướng Bắc - Nam bao gồm:
- Quốc lộ 1A (AH 1): Là tuyến đường huyết mạch chạy dọc theo địa bàn các tỉnh
trong vùng và nối với các vùng Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Mặt đường rộng 10
m đến 12 m, thảm bê tông nhựa, chất lượng khá tốt, hiện đang được mở rộng, phát
triển thành đường cao tốc Bắc - Nam. Đến năm 2020, đường sẽ hình thành 4 làn xe cơ
giới, thuận lợi cho việc vận chuyển hành khách du lịch theo hưởng Bắc - Nam.
- Quốc lộ 14 (đoạn trùng với đường Hồ Chí Minh): Đường chạy phía Tây tỉnh
Quảng Nam, qua vùng Tây Nguyên. Mặt đường rộng 10 m đến 12 m, thảm bê tông
nhựa, chất lượng khá tốt, hiện đang được mở rộng, nâng cấp. Đường 14 mặc dù chạy
qua địa phận vùng không nhiều nhưng có vai trò quan trọng trong liên kết phát triển du
lịch Vùng với Tây Nguyên.
- Tuyến đường ven biển: Là tuyến giao thông đường bộ đang được hình thành
trên cơ sở làm mới hoặc nâng cấp mở rộng một số đoạn đường ven biển sẵn có (gồm
cả quốc lộ, tỉnh lộ, đê biển...). Đường đạt tiêu chuẩn cấp III và IV đồng bằng. Đến năm
2020, tuyến ven biển sẽ cơ bản hoàn thành. Đây là một trong những tuyến giao thông
đường bộ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch biển, đảo của Vùng.
Các tuyến quốc lộ theo hướng Đông - Tây bao gồm:
- Quốc lộ 14B từ Tiên Sa (Đà Nẵng) đến Thạch Mỹ (Quảng Nam), dài 74 km.
- Quốc lộ 14D từ Giằng đến cửa khẩu Tà Óc (Quảng Nam), dài 75 km ( hợp nhất
hai tuyến quốc lộ 14B và quốc lộ 14D thành một tuyến 14B.)
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
20
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030


- Quốc lộ 14C từ Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Buprăng (Đắk Nông), dài 387 km.
- Quốc lộ 14E từ Hà Lam đến Khâm Đức nối đường ven biển (Quảng Nam), dài

+ Mở rộng, nâng cấp tuyến đường quốc lộ huyết mạch nối các trung tâm đô thị
lớn trong và ngoài vùng để tạo ra hành lang liên kết kinh tế và du lịch.
+ Hoàn chỉnh tuyến ven biển để thuận tiện phát triển các khu du lịch quan trọng
của vùng.
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
21
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030


+ Cải tạo hệ thống giao thông nội đô, các tuyến vành đai của các thành phố lớn
để tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dòng khách du lịch từ các sân bay, bến cảng…
3.1.2. Đường sắt: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có tuyến đường sắt Bắc - Nam
chạy qua địa bàn tất cả các tỉnh với chiều dài toàn tuyến từ ga Đà Nẵng đến ga Bình
Thuận (Mương Mán) khoảng 760 km. Các ga quan trọng trên tuyến có Đà Nẵng
(thành phố Đà Nẵng), Diêu Trì (tỉnh Bình Định), Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa).
Giao thông đường sắt là phương tiện vận chuyển quan trọng, một trong những
điều kiện để liên kết vùng và liên kết quốc tế phát triển du lịch. Đặc biệt là tuyến
đường sắt xuyên Á, với định hướng phát triển mới hình thành tuyến đường sắt cao tốc
Bắc - Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi để kết nối du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
với các trung tâm du lịch lớn của các nước trong khu vực.
Các tuyến đường sắt thành phố Hồ Chí Minh - Phan Thiết, thành phố Hồ Chí
Minh - Nha Trang thuộc hệ thống đường sắt kể trên đã được đầu tư nâng cấp để phục
vụ chuyên ngành du lịch.
Ngoài ra, trên địa bàn vùng có tuyến đường sắt răng cưa Phan Rang - Tháp Chàm
đi Đà Lạt, dài 84 km, đang được sửa chữa phục vụ khách du lịch để kết nối các trung
tâm Nha Trang, Ninh Chữ của Vùng với Đà Lạt (Lâm Đồng, thuộc vùng Tây Nguyên).
Mặc dầu có đường sắt đi qua các tỉnh, thành phố nhưng chất lượng dịch vụ vận
tải hành khách trên tuyến còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển khách du lịch.
3.1.3.Đường không: So với các vùng khác trên cả nước, giao thông đường không
vùng Duyên hải Nam Trung Bộ khá phát triển.

Dự kiến đến năm 2015 máy bay tiếp nhận A320/321 và tương đương, lượng hành
khách tiếp nhận 300.000 lượt/năm, lượng hành khách giờ cao điểm 300 khách; đến
năm 2025, lượng hành khách tiếp nhận 500.000 lượt/năm, lượng hành khách giờ cao
điểm 400 khách.
- Sân bay Tuy Hòa: Sân bay Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên. Hiện nay các chuyến
bay này đều sử dụng loại máy bay tầm thấp, với động cơ cánh quạt và có sức chứa 60
chỗ ngồi. Theo quy hoạch phát triển, đến năm 2015, sân bay Tuy Hòa sẽ trở thành một
sân bay quan trọng, có thể đón được các loại máy bay tầm trung
của Boeing hay Airbus A320.
Ngoài ra, theo quy hoạch hệ thống sân bay Việt Nam đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030 trên địa bàn Vùng sẽ xây dựng sân bay Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận kết
hợp dân dụng quân sự với năng lực tiếp nhận 300 hành khách giờ cao điểm vào năm
2020 (tương đương 500.000 hành khách/năm) và 500 hành khách giờ cao điểm năm
2030 (tương đương 1.000.000 hành khách/ năm); sân bay quân sự Trường Sa trên đảo
Trường Sa lớn với đường băng dài 800 m có khả năng tiếp cận máy bay nhỏ. Đây là
những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch của Vùng nói riêng và cả nước nói
chung.
Ngành hàng không nói chung và các sân bay ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
nói riêng đã có những bước tiến bộ và phát triển đáng kể. Các tuyến bay trong nước và
quốc tế được mở rộng, các chuyến bay được tăng cường. Những tiến bộ nói trên đã
đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển du lịch của vùng và tạo ra tiền đề mở rộng khai
thác các nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam...
Tuy nhiên, đến nay nhìn chung hạ tầng kỹ thuật hàng không còn lạc hậu so với
các nước trong khu vực và chưa đáp ứng được những nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và du lịch nói riêng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Việc mở rộng Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, đủ khả năng phục vụ 10 triệu
hành khách mỗi năm vào năm 2020, xây dựng mới sân bay Phan Thiết, Trường Sa…là
những cơ hội đối với phát triển du lịch Vùng.
3.1.4. Đường thủy: Với đường bờ biển dài, giao thông đường thủy là thế mạnh
nổi bật của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Có hai loại hình giao thông thủy là giao

b1) Cảng Đà Nẵng: Cảng Đà Nẵng là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực
(loại I), về lâu dài có khả năng phát triển để đảm nhận vai trò cửa ngõ quốc tế khu vực
miền Trung (loại IA). Cảng Đà Nẵng bao gồm các khu bến chức năng: Tiên Sa, Sơn
Trà (Thọ Quang), Liên Chiểu, cầu Trắng và khu bến sông Hàn. Trong đó khu bến Tiên
Sa là bến tổng hợp, container, có bến chuyên dùng khách du lịch quốc tế 100.000 GT
và lớn hơn với ga hành khách đồng bộ, hiện đại. Khu bến Sông Hàn là khu dịch vụ
hàng hải, du lịch. Cảng Đà Nẵng có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch đường
biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nói chung.
b2) Cảng Dung Quất: Cảng Dung Quất là cảng biển tổng hợp quốc gia, đầu mối
khu vực (loại I). Cảng Dung Quất gồm có 1 khu bến cảng chính ở vịnh Dung Quất.
Đây là khu bến tổng hợp, bến container, bến chuyên dùng phục vụ nhà máy lọc dầu
Dung Quất. Bên cạnh bến chính còn có khu bến Sa Kỳ ở cửa biển Sa Kỳ làm bến vệ
tinh và phục vụ nhu cầu vận tải hàng hải của địa phương. Bến cảng Bến Đình (đảo Lý
Sơn) là bến vệ tinh địa phương của huyện đảo, tiếp nhận tàu hàng, khách đến 2.000
tấn. Đây là cảng có khả năng phục vụ du lịch đảo Lý Sơn và tuyến du lịch ven biển.
Theo quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam, trong tương lai cảng Dung Quất sẽ có
thêm một khu bến nữa tại vịnh Mỹ Hàn.
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

24


b3) Cảng Quy Nhơn: Cảng Quy Nhơn tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
là cửa ngõ giao thương quan trọng của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam.
Cảng Quy Nhơn gồm các khu bến: Quy Nhơn - Thị Nại, Nhơn Hội và các bến địa
phương chuyên dùng vệ tinh tại Đống Đa, Đề Gi, Tam Quan. Bến Quy Nhơn - Thị Nại
là khu bến tổng hợp có bến chuyên dùng cho tàu trọng tải từ 5.000 tấn đến 7.000 tấn
Đây là tiền đề thuận lợi để khai thác phục vụ phát triển phục vụ khách du lịch.
b4) Cảng Khánh Hòa: Cảng Khánh Hòa gồm các khu bến Vân Phong, Nha

b8) Cảng Bình Thuận: Là cảng biển tổng hợp địa phương (loại II) của tỉnh Bình
Thuận. Cảng bao gồm các bến cảng Phan Thiết cho tàu 2.000 tấn đến 3.000 tấn; bến
THUYẾT MINH TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status