MỤC LỤC (QH Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao)
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Sự cần thiết phải xây dựng đề án.........................................................................1
2. Các văn bản và căn cứ pháp lý để lập đề án ........................................................2
3. Yêu cầu xây dựng đề án ......................................................................................3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề án ...........................................................3
PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO, ĐÁNH GIÁ
ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
CAO TỈNH BÌNH THUẬN ..........................................................................................4
I. TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO .......................................4
1. Một số khái niệm liên quan về NNCNC .............................................................4
2. Quá trình phát triển công nghệ cao trên thế giới .................................................5
3. Thực trạng phát triển NNCNC ở Việt Nam ........................................................6
4. Bài học kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao .........9
II. ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
NNUDCNC TẠI TỈNH BÌNH THUẬN ....................................................................10
1. Vị trí địa lý .........................................................................................................10
2. Điều kiện về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ...............................................11
3. Điều kiện kinh tế ...............................................................................................14
4. Điều kiện xã hội.................................................................................................15
5. Thực trạng phát triển sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản và những yêu
cầu đặt ra đối với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ......................................16
III. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
CAO Ở TỈNH BÌNH THUẬN ...................................................................................20
1. Các nguồn lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Thuận.............................................................20
2. Thực trạng ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp ...................................22
3. Chủ chương, chính sách khuyến khích của Trung ương và tỉnh đối với nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao ............................................................................29
4. Đánh giá chung về tình hình phát triển NNCNC ở Bình Thuận .......................30
PHẦN 2 PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TỈNH BÌNH
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao...................................................52
5. Đề xuất các chương trình trọng điểm và các dự án ưu tiên đầu tư về phát triển
nông nghiệp công nghệ cao ...................................................................................52
PHẦN 3 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ................................................54
I. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ......................................................................................54
1. GIẢI PHÁP VỀ GIAO ĐẤT VÀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT .........................................54
3. Cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ................55
4. Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ ............................................56
5. Huy động các nguồn lực, liên kết, hợp tác phát triển ........................................56
6. Xúc tiến thương mại, thị trường, thông tin, dịch vụ ..........................................57
7. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hành động ..............................................58
8. Giải pháp về nguồn nhân lực .............................................................................58
9. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, xây dựng các mô hình sản xuất
...............................................................................................................................58
II. KHÁI TOÁN VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN ...............................59
1. Khái toán vốn đầu tư .........................................................................................59
2. Hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường............................................................60
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN .........................................................................62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................................64
1. Kết luận..............................................................................................................64
2. Kiến nghị ...........................................................................................................64
ii
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải xây dựng đề án
Phát triển sản xuất nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản)
ứng dụng công nghệ cao được hiểu là việc ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến
mới vào các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm hàng
trồng rau trong nhà lưới (Phú Quý, La Gi); chăn nuôi theo phương thức an toàn sinh
học (Đức Linh, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân). Đặc biệt là công tác chọn, tạo, nhân
giống lúa (các giống lúa ML48, ML214, ML202) và chuyển giao các giống cây trồng vật nuôi chất lượng cao, chuyển giao các quy trình canh tác, sơ chế biến và bảo quản
sản phẩm tiên tiến được các cơ quan của ngành nông nghiệp quan tâm triển khai. Tuy
nhiên, mức độ triển khai của các mô hình còn ít, chất lượng giống cây trồng và vật
nuôi chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất trên diện rộng.
Từ những tồn tại trên đã làm cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh chưa có đột phá
1
về năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh chưa cao, hiệu quả còn
thấp. Do đó, việc xây dựng “Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
tỉnh Bình Thuận đến năm 2020”, nhằm xác định cơ sở khoa học và pháp lý, các mục
tiêu phát triển, các nội dung cần làm, lộ trình và giải pháp thực hiện phù hợp với định
hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng như khả năng khai thác các nguồn lực
trong và ngoài tỉnh, tạo động lực mới có tính đột phá trong phát triển nông nghiệp và
kinh tế nông thôn trên địa bàn tỉnh là hết sức cần thiết và cấp bách.
2. Các văn bản và căn cứ pháp lý để lập đề án
2.1. Các văn bản của Quốc hội, Chính phủ
- Luật Công nghệ cao đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của BCHTW khóa X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 59/NQ-CP ngày 04/5/2013 của Chính phủ về quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Bình Thuận.
- Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về việc ban hành
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20/TW ngày 1/11/2012 của Hội nghị
lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
- Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của của Thủ tướng Chính Phủ về
nước ngọt, lâm nghiệp, muối, thuỷ lợi...
- Các chương trình và dự án có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn;
- Kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học, các cuộc điều tra tổng kết mô
hình sản xuất kinh doanh có liên quan;
- Các báo cáo tổng kết của ngành nông nghiệp và các ngành có liên quan;
- Số liệu thống kê về kinh tế - xã hội về sử dụng đất của tỉnh;
- Tài liệu về khí hậu, thủy văn, các loại bản đồ số tỉ lệ 1/100.000;
3. Yêu cầu xây dựng đề án
Nghiên cứu, xây dựng đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với
chủ trương, chiến lược phát triển nông nghiệp và phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh
tế, xã hội của tỉnh, đáp ứng được yêu cầu đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề án
4.1. Đối tượng
Đề án đề cập toàn diện đến sản xuất NNUDCNC, bao gồm các khía cạnh: các
loại sản phẩm, các loại công nghệ tiên tiến ứng dụng vào SXNN, kỹ thuật sản xuất,
quản lý tổ chức sản xuất. Hệ thống giải pháp để phát triển NNUDCNC.
Các vùng phát triển SXNN ứng dụng CNC được nghiên cứu và bố trí phát triển
tập trung vào các sản phẩm lợi thế của tỉnh nhằm phục vụ cho nhu cầu của người dân
trong tỉnh, cho cả nước và xuất khẩu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề án
Điều tra, nghiên cứu tổng hợp trên toàn tỉnh, tập trung vào đánh giá thực trạng
sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, việc ứng dụng các kỹ thuật, mô hình tiên tiến vào
sản xuất. Đề xuất phương án, giải pháp tổ chức thực hiện phát triển NNUDCNC trong
thời gian tới.
Tập trung vào các vùng chuyên canh SXNN cung cấp nông lâm thủy sản cho
thị trường trong nước và xuất khẩu. Đồng thời đề xuất phương án phát triển mở rộng
sản xuất NNUDCNC trên địa bàn toàn tỉnh trong thời gian tiếp theo.
Các nhân tố nghiên cứu giải quyết tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất: khu,
vùng, doanh nghiệp sản xuất NNUDCNC, công nghệ áp dụng, quản lý dịch bệnh, cơ
công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phát triển NNCNC ở nước ta hiện nay bao gồm
những nội dung chủ yếu như sau:
(i) Lựa chọn ứng dụng vào từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hoá những
công nghệ tiến bộ nhất về giống cây, con; công nghệ canh tác; chăn nuôi tiên tiến;
công nghệ tưới; công nghệ sau thu hoạch - bảo quản - chế biến. Từng bước ứng dụng
công nghệ thông tin vào quản lý, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thị trường.
(ii) Sản phẩm NNCNC là sản phẩm hàng hoá mang tính đặc trưng của từng
vùng sinh thái, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, có khả năng
cạnh tranh cao về chất lượng với các sản phẩm cùng loại trên thị trường trong nước và
thế giới, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng hàng hoá khi có yêu cầu
của thị trường.
(iii) SXNNCNC tạo ra sản phẩm phải theo một chu trình khép kín, trong sản
xuất khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên và hạn chế rủi ro của thị trường.
(iv) Phát triển NNCNC theo từng giai đoạn và mức độ phát triển khác nhau, tuỳ
tình hình cụ thể của từng nơi, nhưng phải thể hiện được những đặc trưng cơ bản, tạo ra
4
được hiệu quả to lớn hơn nhiều so với sản xuất bình thường.
Khu NNCNC: là khu CNC tập trung thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu
nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ:
chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; phòng,
trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; tạo ra các loại vật tư, máy móc,
thiết bị sử dụng trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp; phát
triển doanh nghiệp NNUDCNC và phát triển dịch vụ CNC phục vụ nông nghiệp.
Theo Luật Công nghệ cao, khu NNUDCNC có 5 chức năng cơ bản là: (1)
nghiên cứu ứng dụng; (2) thử nghiệm; (3) trình diễn CNC; (4) đào tạo nguồn nhân lực;
(5) sản xuất sản phẩm NNCNC. Trong đó 3 chức năng: sản xuất, thử nghiệm, trình
diễn mang tính phổ biến, 2 chức năng còn lại tùy đặc điểm của từng khu.
Đặc trưng của sản xuất tại các khu NNCNC: đạt năng suất cao kỷ lục và hiệu
chống côn trùng và biện pháp thuỷ canh trên giá đỡ là xốp, đã canh tác cà chua quanh
5
năm theo nhu cầu thị trường đạt năng suất trên 300 tấn/ha/năm. Những năm 1990, tại
Hồ Nam và một số tỉnh của Trung Quốc, công nghệ nhà lưới và điều tiết tiểu khí hậu
theo hướng tự động trên máy tính cũng đã được ứng dụng trong sản xuất hoa cắt cành
hoặc nguyên chậu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tại Úc, năm 1994 đã áp dụng công
nghệ tưới nước tiết kiệm và điều khiển quá trình ra hoa, đậu quả theo ý muốn, bọc quả
chống côn trùng, nên năng suất xoài đã nâng lên trên 25 tấn/ha với chất lượng cao, đáp
ứng thị trường người tiêu dùng. Tại Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc công nghệ nuôi
cấy mô và khí canh cũng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất giống
khoai tây sạch bệnh.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, khoảng 80% bò đực giống được sử dụng thụ tinh
nhân tạo có nguồn gốc từ nuôi cấy phôi, kỹ thuật chăn nuôi chuồng kín với hệ thống
điều hoà ẩm độ và nhiệt độ, hệ thống phân phối và định lượng thức ăn, sử dụng kết cấu
thép kết hợp với polymer sản xuất thiết bị chuồng sàn,... cho lợn, gia cầm đã được phát
triển ở nhiều nước trên thế giới.
Trong nuôi trồng thuỷ sản, tại Israen bằng kỹ thuật nuôi thâm canh, năng suất
cá rô phi trong ao đạt 100 tấn/ha và nuôi trong hệ thống mương nổi đạt 500 - 1.000
tấn/ha; tại Nhật Bản nâng suất cá nheo Mỹ nuôi thâm canh trong hệ thống mương nổi
đạt 300 - 800 tấn/ha.
Chính vì vậy, sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao và sự
phát triển các khu NNCNC đã và đang trở thành mẫu hình cho nền nông nghiệp tri
thức thế kỷ XXI.
Như vậy, kinh nghiệm của các nước xây dựng các khu NNCNC đã đặt ra các
vấn đề cần nghiên cứu - thiết kế có chọn lọc đối với nội dung lập quy hoạch phát triển
các khu NNCNC như sau:
- Chiến lược phát triển khu NNCNC phải được coi là bộ phận cấu thành của
tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp - nông thôn.
giới thiệu sản phẩm. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ: giao
thông, điện nước, thông tin liên lạc, xử lý môi trường… đến từng phân khu chức năng,
quy định các tiêu chuẩn công nghệ và loại sản phẩm được ưu tiên phát triển trong khu
NNCNC. Các tổ chức cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được quyền đăng ký và
đầu tư vào khu để phát triển sản phẩm. TP. Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên xây
dựng khu NNCNC theo mô hình đa chức năng, gắn nghiên cứu, trình diễn, chuyển
giao công nghệ với việc tổ chức dịch vụ du lịch sinh thái đồng thời thu hút đầu tư của
các doanh nghiệp. Quy mô diện tích là 88 ha được thành phố đầu tư cơ sở hạ tầng
đồng bộ. Mô hình tổ chức quản lý của khu NNCNC này dự kiến giai đoạn đầu là đơn
vị sự nghiệp có thu, tự túc một phần kinh phí hoạt động. Qua hoạt động đã có nhiều ý
kiến cho rằng “Chỉ có chuyển sang hình thức doanh nghiệp với sự tự chủ về tài chính
sẽ thúc đẩy doanh nghiệp khu NNCNC đầu tư vào chiều sâu và ngày càng năng động
hơn trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ”.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày
29/1/2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển NNUDCNC đến năm 2020, rất nhiều địa
phương đã triển khai dự án quy hoạch chi tiết các khu NNUDCNC như: Thái Nguyên,
Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Lâm Đồng.
Các sản phẩm được lựa chọn để phát triển trong khu quy hoạch này là nhân giống các
loại cây trồng có giá trị kinh tế cao bằng công nghệ cấy mô thực vật, sản xuất giống
cây trồng vật nuôi sạch bệnh, sản xuất rau hoa cao cấp, nấm dược liệu, vắcxin, quy
trình công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản….
Ưu điểm của loại hình này: Đảm bảo được tính đồng bộ liên hoàn từ khâu
nghiên cứu đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp tham gia sản
xuất trong khu có sản lượng hàng hóa tập trung, kiểm soát được tiêu chuẩn, chất lượng
nông sản, giảm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng trên một đơn vị diện tích. Được
hưởng một số chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuê đất, thuế….
Hạn chế: Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho khu lớn nên khả năng thu hồi vốn
chậm, không thích hợp với một số đối tượng cây con đòi hỏi diện tích sử dụng đất,
không gian cách ly lớn. Các doanh nghiệp có nguồn vốn thấp khó có thể tham gia đầu
tư vào khu.
nhiên, các loại hình sản xuất này cần khuyến khích phát triển ở các tỉnh tùy theo điều
kiện về tự nhiên, về lao động và thế mạnh của tỉnh.
- Ưu điểm: Vùng sản xuất NNUDCNC là nơi áp dụng các kết quả nghiên cứu
CNC trong sản xuất nông nghiệp trên một vùng chuyên canh với khối lượng hàng hóa
lớn; tận dụng được các lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động tại vùng. Chỉ sử dụng
một số công nghệ phù hợp với một số khâu canh tác nên chi phí đầu vào giảm, phù
hợp với khả năng đầu tư của nông dân nên dễ triển khai vào thực tiễn sản xuất.
- Hạn chế: Do áp dụng công nghệ cao không đồng bộ nên chất lượng sản phẩm
vẫn chưa đồng đều và cao. Khâu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào các hợp đồng với
các doanh nghiệp nên chưa ổn định.
Tuy nhiên, đây là loại hình cần khuyến khích phát triển ở các tỉnh nông nghiệp
tùy theo điều kiện về tự nhiên, lao động và thế mạnh của từng tỉnh nhưng trong quá
trình quy hoạch và phát triển vùng NNUDCNC cần:
- Xác định quy mô và lựa chọn quy trình sản xuất phù hợp.
- Thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng cho các nông thủy sản để đảm bảo sản
phẩm được chứng nhận.
- Phát triển công nghệ chế biến sâu để nâng cao giá trị của mặt hàng NTS.
8
- Có sự liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất, đến chế biến và tiêu thụ. Trong đó,
doanh nghiệp giữ vai trò là người định hướng cho nông dân và những người sản xuất
khác thay đổi cơ cấu sản xuất tạo ra sản phẩm phù hợp với thị trường, ứng dụng kỹ
thuật, đổi mới công nghệ trong sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
3.3. Các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Hiện nay cả nước có 4 doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận
là doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Rừng
Hoa Đà Lạt, Công ty TNHH Agrivina (Dalat Hasfarm) và Công ty TNHH Đà Lạt
G.A.P đều ở Lâm Đồng và Công ty TH True Milk ở Nghệ An. Quy mô và loại sản
phẩm tùy theo khả năng đầu tư vốn của doanh nghiệp.
tỉnh có lợi thế cạnh tranh, đặc sản của địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao:
thanh long, tôm giống, lúa giống, rau an toàn, heo, gà nuôi tập trung theo hướng công
nghiệp, cá nước lạnh đặc sản.
9
Phát triển nông nghiệp CNC cần sự quyết tâm của hệ thống chính trị tỉnh Bình
Thuận. Trên thực tế, trong bất kỳ trường hợp nào trên thế giới, sự tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp của Nhà nước vào chương trình xây dựng cũng như hoạt động của khu
NNUDCNC là yếu tố, điều kiện quyết định thành công của khu.
Xây dựng tiêu chí và đối tượng áp dụng công nghệ: Xác định tiêu chí và đối
tượng áp dụng công nghệ cao trước khi xây dựng khu NNUDCNC, xác định vai trò,
công nghệ áp dụng, đối tượng thu hút vào các khu NNUDCNC, dự kiến sản phẩm và
thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp trong khu NNUDCNC.
Vùng sản suất NNUDCNC: lựa chọn một số sản phẩm mà tỉnh có lợi thế để xây
dựng vùng NNUDCNC, tỉnh đầu tư hỗ trợ cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, điện,…
định hướng tiêu thụ sản phẩm để hình thành các vùng NNUDCNC.
Sản phẩm NNUDCNC cần đáp ứng được các yêu cầu về an toàn thực phẩm và
xuất xứ hàng hóa của sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường nội
địa và thị trường xuất khẩu.
Đào tạo nguồn nhân lực: để xây dựng và phát triển thành công NNUDCNC,
ngoài việc đầu tư xây dựng khu, vùng NNUDCNC, tỉnh phải có chương trình đào tạo
và thu hút nguồn nhân lực có khả năng về chuyên môn giỏi để làm nông nghiệp công
nghệ cao, tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu cây trồng
vật nuôi, thủy sản; phát triển mạnh các cây con chủ lực theo hướng NNCNC, hình
thành hệ thống sản xuất giống với sự tham gia hợp lý của các thành phần kinh tế. Gắn
nghiên cứu với ứng dụng và chuyển giao công nghệ, gắn chọn, tạo, bình tuyển giống
với thị trường tiêu thụ. Hoàn thiện các quy trình kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi,
NTTS với sơ chế, bảo quản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp đảm bảo chất lượng
cao. Đầu tư thỏa đáng cho công tác khuyến nông nhằm tăng cường hợp tác giữa cơ
giống cây trồng - vật nuôi, bò sữa, heo lai hướng nạc, gà, vịt. Những thế mạnh của
nông nghiệp TP. HCM có thể hỗ trợ cho Bình Thuận thông qua liên kết theo các
chương trình hợp tác giữa 2 địa phương, đây là lợi thế tích cực cho ngành nông nghiệp
Bình Thuận phát triển mạnh và bền vững hơn.
- Các địa phương tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn (nhiều khu công nghiệp,
khách du lịch, đông công nhân) như: TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng
Tàu, địa bàn cho phép phát triển nông nghiệp ít, chủ yếu nghiên cứu, chuyển giao khoa
học kỹ thuật. Do đó, đây là cơ hội để tỉnh phát triển các vùng NNUDCNC, là cơ hội
tốt để mời gọi, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước có năng lực thực sự về
vốn, công nghệ tiên tiến, có thương hiệu và thị trường đến đầu tư phát triển nông
nghiệp công nghệ cao, tạo ra khối lượng sản xuất hàng hóa lớn, năng suất - chất lượng
cao, đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ tốt môi trường.
- Do điều kiện về đất đai, nguồn nước, con người nên Bình Thuận có nhiều sản
phẩm nông nghiệp đặc thù, chất lượng cao, tập trung như: thanh long, tôm giống, thuỷ
đặc sản, là điều kiện rất thuận lợi để phát triển vùng sản xuất NNUDCNC.
2. Điều kiện về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1. Tài nguyên đất
Theo phương pháp phân loại đất của FAO - UNESCO cho thấy về nguồn gốc
phát sinh, tài nguyên đất của tỉnh Bình Thuận được chia thành 10 nhóm đất chính
(bảng 1 phần phụ biểu) như:
- Nhóm đất cồn cát, đất cát biển (C): nghèo dinh dưỡng, không có khả năng giữ
nước, ít thích hợp với sản xuất nông nghiệp. Hướng sử dụng trong tương lai: khai thác
các bãi cát trắng để làm các điểm du lịch và trồng rừng phòng hộ.
- Nhóm đất mặn (M): có độ phì tương đối khá, độ mặn tương đối cao nên không
thích hợp với sản xuất nông nghiệp. Hiện trạng sử dụng đất là làm muối và NTTS.
- Nhóm đất phù sa (P): Đất khá giàu dinh dưỡng, thích hợp với nhiều loại cây
trồng. Định hướng phát triển : Trồng cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (luân
canh với cây lúa), cây thanh long, cây thực phẩm ...
- Nhóm đất xám bạc màu và đất xám bạc màu bán khô hạn (X, B): đây là nhóm
đất nghèo dinh dưỡng. Định hướng sử dụng: Đối với đất xám trên phù sa cổ (X), đất
Khả năng khai thác: Nếu xây dựng các công trình thuỷ lợi theo phương án quy
hoạch thủy lợi đã được phê duyệt thì có thể khai thác được khoảng 1,0 tỷ m3 nước
(chiếm khoảng 18 – 19% tổng lượng nước đến) để phục vụ sản xuất và đời sống.
2.2.2. Nước ngầm
Tồn tại trong đất dưới dạng nước lỗ hổng (trầm tích bở rời đệ tứ) và nước khe
nứt (các thành tạo phun trào bazan và các trầm tích lục nguyên), trữ lượng không
nhiều, vùng ven biển và một số vùng đồng bằng bị nhiễm mặn, phèn, khả năng khai
thác hạn chế. Tổng trữ lượng tiềm năng khai thác nước nhạt dưới đất khoảng 2,1 – 2,2
triệu m3/ngày, trữ lượng dự báo khai thác khoảng 80 ngàn m3/ngày (3,6% trữ lượng).
2.2.3. Khả năng khai thác phục vụ sản xuất nông nghiệp
Nước mặt: khả năng khai thác hạn chế do sông thường ngắn và dốc (trừ sông La
Ngà), hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn chỉnh, cần phải đầu tư thêm.
Nước ngầm chủ yếu được sử dụng cho sinh hoạt, một số hộ trồng rau, hoa, các
cơ sở chăn nuôi ở những nơi thiếu nước mặt nhưng đang có dấu hiệu ô nhiễm, suy kiệt
và gia tăng nhiễm mặn tại một số khu vực, nên cần phải xử lý trước khi đưa vào sử
dụng và sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lý.
12
2.3. Khí hậu, thời tiết
Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, ảnh hưởng
của khí hậu chuyển tiếp bán khô hạn (Nam Tây nguyên và Đông Nam Bộ), với các đặc
điểm chung là nhiệt độ cao (26-270C), nhiều nắng (2.536-2.976 giờ/năm), nhiều gió, bị
ảnh hưởng bão và áp thấp nhiệt đới, khô hạn nhất cả nước và phân chia thành hai mùa
(mưa và khô) rõ rệt, có thể phân thành 4 khu vực khí hậu (bảng 2 phần phụ biểu):
Vùng ven biển phía Đông: gồm huyện Tuy Phong, Đông Nam huyện Bắc
Bình, huyện Hàm Thuận Bắc và Đông Bắc thành phố Phan Thiết. Đây là vùng chịu
ảnh hưởng chủ yếu của khí hậu ven biển Nam Trung Bộ, lượng mưa ít (
vật liệu cho công tác lai tạo, chọn lọc giống mới.
13
2.5. Tài nguyên biển
Với chiều dài bờ biển 192 km và diện tích vùng bờ biển 52 ngàn km2, nồng độ
muối (NaCl) trong nước biển vùng ven bờ khá cao từ 31,8 – 33,8‰, số ngày nhật triều
20 ngày/tháng (phía Bắc) và 7 ngày/tháng (phía Nam) là tiềm năng và lợi thế rất lớn để
phát triển du lịch, sản xuất muối công nghiệp, đánh bắt và NTTS với quy mô lớn.
Biển Bình Thuận là nơi tập trung khoảng 100 loài cá có giá trị kinh tế, nguồn
lợi mực, tôm biển khá phong phú, sản lượng khai thác hàng năm khoảng 3.000 - 5.000
tấn tôm, 25.000 - 30.000 tấn mực các loại; đặc biệt, vùng biển ven bờ là nơi sinh sống
của một số loài thân mềm hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế cao như Điệp quạt, Sò lông,
Bàn mai, Nghêu lụa, Dòm nâu, sản lượng khai thác 20.000 – 40.000 tấn mỗi năm,....).
Với tiềm năng lớn về du lịch, ngành nông nghiệp của tỉnh cần hướng đến các
sản phẩm nông nghiệp gắn với du lịch, phục vụ du lịch: sản phẩm đặc sản của địa
phương, rau, hoa, quả, cây cảnh, vườn tiểu cảnh…
3. Thực trạng phát triển kinh tế
Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn năm 2012 đạt 34.971,37 tỷ đồng (giá thực
tế), tăng gấp 4,31 lần so với năm 2005, trong đó: lĩnh vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản
tăng 2,85 lần, công nghiệp – xây dựng tăng 4,55 lần; dịch vụ tăng 5,31 lần.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 - 2012 đạt 11,67%/năm;
trong đó: nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 6,53%/năm, công nghiệp – xây dựng tăng
13,3%/năm, dịch vụ tăng 14,43%/năm, chứng tỏ nền kinh tế của tỉnh có mức tăng
trưởng cao và ổn định.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh có xu hướng giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng
tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp, cụ thể: tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 30,35%
năm 2005 xuống còn 20,04% năm 2012 (tốc độ giảm bình quân 5,75%/năm), tỷ trọng
khu vực công nghiệp tăng từ 32,75% năm 2005 lên 34,52% năm 2012 (tăng bình quân
0,75%/năm), tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng từ 36,9% năm 2005 lên 45,44% năm 2012
tỉnh có lợi thế về nguyên liệu. Điều này sẽ đặt ra cho ngành nông nghiệp phải đẩy
nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng – vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất tập trung
có quy mô lớn, có năng suất và chất lượng sản phẩm cao.
- Ngành thương mại – dịch vụ: Hoạt động thương mại – dịch vụ của tỉnh phát
triển khá mạnh trong những năm gần đây (tốc độ tăng doanh thu bán hàng giai đoạn
2006-2012 đạt 14,6%/năm), phục vụ ngày càng tốt hơn hàng hóa đầu vào và đầu ra
cho sản xuất nông nghiệp.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tăng từ
79,94 triệu USD năm 2006, lên 118,19 triệu USD năm 2012, các sản phẩm xuất khẩu
chủ lực của tỉnh hiện nay gồm có: thanh long 35.86 tấn, thủy sản đông lạnh 13.398 tấn,
cao su 2.244 tấn, hạt điều 660 tấn.
Hướng tới, để thúc đẩy các hoạt động thu mua, xuất – nhập khẩu hàng hóa
nông, thủy sản của tỉnh tiếp tục phát triển, ngành nông nghiệp cần chú trọng nâng cao
chất lượng sản phẩm, nhất là về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, hình thành các
vùng sản xuất hàng hóa tập trung có quy mô lớn.
4. Điều kiện xã hội
4.1. Dân số lao động: Dân số toàn tỉnh năm 2012 là 1.193.504 người, tăng bình
quân giai đoạn 2006 - 2012 đạt 0,58%/năm, trong đó dân số thành thị tăng bình quân
2,05%, dân số nông thôn giảm 0,28%/năm.
Lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế giai đoạn 2006 – 2012 tăng
bình quân 2,59%/năm, trong đó: lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tăng
cao nhất 6,42%/năm, dịch vụ 5,79%/năm, nông, lâm, thuỷ sản chỉ tăng 0,45%/năm. Cơ
cấu lao động đang làm việc khu vực nông, lâm, thuỷ sản đang có xu hướng giảm từ
58,82% năm 2005 còn 49,5% năm 2012 (giảm bình quân 2,44%).
Chất lượng lao động nhìn chung còn thấp, khu vực nông nghiệp nông thôn còn
thấp hơn bình quân chung toàn tỉnh rất nhiều. Theo kết quả điều tra nông nghiệp nông
thôn năm 2011, số người chưa qua đào tạo và không có văn bằng/chứng chỉ chiếm
90,93%; trình độ sơ cấp, công nhân kỹ thuật chiếm 2,22%; trung cấp 3,37%; cao đẳng
1,64%; đại học trở lên chiếm 1,87%. Năm 2012 số lao động đang làm việc qua đào tạo
chiếm 10,61%.
Bắc Bình, Hàm Tân, La Gi), diễn biến một số cây trồng chủ lực như sau:
- Cây lúa: Diện tích canh tác giảm từ 57.609 ha năm 2005 xuống còn 52.437 ha
năm 2010, giảm 5.172 ha, bình quân mỗi năm giảm khoảng 1.000 ha, tuy nhiên nhờ
đầu tư thêm nhiều hệ thống thuỷ lợi, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ (tăng từ 2 vụ lên 3
vụ khu vực Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình) nên diện tích gieo trồng, năng suất và sản
lượng tăng khá cao, diện tích gieo trồng tăng từ 84.568 ha năm 2005 lên 115.240 ha
năm 2013 (tăng 1,36 lần) và sản lượng tăng từ 333.408 tấn lên 638.441 tấn (tăng gấp
1,9 lần trong vòng 5 năm).
Hiện nay, các giống lúa xác nhận đã đáp ứng được khoảng 67% nhu cầu, còn lại
một phần diện tích nông dân vẫn phải sử dụng lúa thịt làm lúa giống. Trong những
năm tới, để đẩy nhanh quá trình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa, tỉnh cần
đầu tư mỗi huyện một vùng chuyên sản xuất lúa giống nhằm cung cấp giống xác nhận
cho bà con nông dân.
- Cây bắp: diện tích trong những năm qua giảm từ 22.586 ha năm 2005 xuống
còn 19.519 ha năm 2013 (giảm bình quân 383 ha/năm), tuy nhiên nhờ đẩy mạnh thâm
16
canh nên năng suất tăng từ 4,13 tấn/ha lên 6,01 tấn/ha, sản lượng tăng từ 93.197 tấn
lên 117.363 tấn. Cây bắp được trồng chủ yếu nhờ luân canh trên đất lúa và được sử
dụng chủ yếu để cung cấp thức ăn cho chăn nuôi và góp phần rất quan trọng thúc đẩy
chăn nuôi phát triển. Nếu được đầu tư kỹ thuật cao, cơ giới giới hóa nhằm nâng cao
năng suất, hiệu quả kinh tế thì cây bắp sẽ có tiềm năng phát triển rất lớn.
Địa bàn sản xuất tập trung ở Tánh Linh, Hàm Tân, Đức Linh, Bắc Bình.
- Rau: Mặc dù cây rau không phải là cây trồng có nhiều lợi thế của tỉnh Bình
Thuận nhưng nhờ chính sách khuyến khích phát triển đối với các hộ trồng rau an toàn
nên năm 2013 tỉnh vẫn duy trì được 50 ha rau an toàn sản xuất theo hướng VietGAP
tại huyện Hàm Thuận Bắc 24,71 ha, thị xã La Gi 15 ha, huyện Bắc Bình 10,29 ha (tổng
diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 7.008 ha). Sản lượng năm 2013 đạt 57.196 tấn, năng
suất bình quân đạt 8,16 tấn/ha. Ngoài ra, công ty cổ phần xanh toàn cầu (Hàm Minh,
ngạch chiếm khoảng 15% - 20%, còn lại 60% - 65% được tiêu thụ theo hình thức mậu
biên. Thanh long xuất khẩu chính ngạch tăng qua các năm, đến năm 2012 sản lượng
17
thanh long xuất khẩu đạt 35.896 tấn, tương ứng với giá trị xuất khẩu trên 20 triệu
USD, góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu nông sản của tỉnh.
Quả thanh long được xuất khẩu chính ngạch đến 14 quốc gia, vùng lãnh thổ và
ngày càng vươn ra nhiều thị trường trên thế giới, kể cả những thị trường khó tính.
Theo số liệu thống kê thanh long Việt Nam hiện chiếm gần 40% thị phần thị trường
EU, 42% thị phần thị trường Israel, 18% thị phần thị trường Thái Lan, chiếm lĩnh thị
trường tiêu thụ của Trung Quốc và Hồng Kông; đồng thời, bước đầu thâm nhập vào thị
trường Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Với những kết quả đạt được từ xuất khẩu thanh long đã tạo điều kiện tăng thu
nhập, làm giàu và giải quyết việc làm cho hơn 22.000 hộ nông dân trên địa bàn tỉnh,
góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đóng góp kim ngạch xuất
khẩu và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Ngoài một số cây trồng chính có lợi thế phát triển như trên, còn một số những
cây trồng có diện tích lớn, góp phần vào phát triển nông nghiệp của tỉnh như: cà phê,
bông vải, hồ tiêu...
b, Chăn nuôi:
Biến động về quy mô đàn: Trên địa bàn tỉnh có nhiều loại vật nuôi nhưng tập
trung vào 5 loại chính, gồm: trâu, bò, heo, gia cầm và dê, cừu. Tuy nhiên, do giá cả các
sản phẩm chăn nuôi không ổn định, giá thức ăn tăng liên tục, dịch bệnh diễn biến phức
tạp nên giai đoạn 2006 - 2013 quy mô đàn gia súc gia cầm của tỉnh không ổn định: đàn
trâu tăng 1,71%/năm, đàn bò giảm 1,24%/năm, đàn heo giảm 0,73%/năm, đàn gia cầm
tăng 2,56%/năm và đàn dê cừu giảm 7,62%/năm (bảng 3 phần phụ biểu).
- Tình hình phát triển các trang trại và hộ chăn nuôi tập trung
Số lượng trang trại chăn nuôi của tỉnh chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm
từ 495 trang trại năm 2005 (chiếm 25,29% tổng số trang trại) còn 252 trang trại năm
Theo Nghị quyết 59/NQ-CP của Chính phủ ngày 4/5/2013 về Phê duyệt Quy
hoạch sử dụng đất tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh
năm 2010 là 364.607 ha, chiếm 53,38% diện tích đất tự nhiên. Diện tích rừng sản xuất
170.407 ha (rừng tự nhiên chiếm 74,79%), rừng phòng hộ 162.193 ha (rừng tự nhiên
79,46%), rừng đặc dụng 32.006 ha (rừng tự nhiên chiếm 93,53%).
Do hiệu quả kinh tế của cây lâm nghiệp chưa cao nên thực hiện chủ trương của
Chính phủ việc chuyển rừng và đất lâm nghiệp sang trồng cây cao su, UBND tỉnh
Bình Thuận có Công văn số 4847/UBND-KT ngày 07/10/2008 “Về việc chuyển đổi,
cải tạo rừng nghèo kiệt sang trồng cây cao su và cây lâm nghiệp khác” để phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương và thu hút đầu tư, tạo thêm điều kiện cho đồng bào dân
tộc tham gia vào việc phát triển rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống
và an ninh chính trị và theo quyết định 714/QĐ-UBND ngày 22/3/2011 về quy hoạch
phát triển lâm nghiệp đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp được phép chuyển đổi
sang trồng cao su là 18.653 ha, gồm: Bắc Bình 591 ha, Đức Linh 1.722 ha, Hàm Tân
1.078 ha, Hàm Thuận Bắc 3.719 ha, Hàm Thuận Nam 4.462 ha, Tánh Linh 7.081 ha.
5.3. Ngành thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản: Thuỷ sản là một trong những thế mạnh của Bình Thuận,
diện tích nuôi trồng tăng từ 2.287 ha năm 2006 lên 2.437 ha năm 2013, trong đó: nuôi
mặn lợ giảm từ 975 ha xuống 897 ha, nuôi thuỷ sản ngọt tăng từ 1.312 ha lên 1.540 ha.
Sản lượng nuôi thủy sản toàn tỉnh tăng 5.255 tấn năm 2006 tăng lên 13.654 tấn
năm 2013 (gấp 2,6 lần so với năm 2006). Tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng
giai đoạn 2006 - 2012 đạt là 14,61%/năm.
Nhìn chung nuôi trồng thủy sản của tỉnh phát triển đa dạng theo nhu cầu của thị
trường, tập trung vào các đối tượng và sản phẩm lợi thế. NTTS ngọt chú trọng phát triển
đa dạng các giống nuôi kinh tế tại các vùng có điều kiện thuận lợi; nuôi thuỷ sản lợ chủ
yếu cho tôm nuôi, nhất là tôm thẻ chân trắng, nuôi hải sản trên biển duy trì và phát triển
tại các huyện Phú Quý, Tuy Phong (các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: cá mú, tôm
hùm)…, nuôi thuỷ sản ngọt chủ yếu là các loại cá rô phi, mè, trê, trắm, bống tượng, lóc.
Năng suất NTTS nhìn chung có xu hướng tăng qua các năm, thể hiện kỹ thuật nuôi
cũng như khả năng đầu tư ngày càng cao. Năm 2012, năng suất nuôi thủy sản mặn lợ (chủ
Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT, toàn ngành có 530 cán bộ
công nhân viên hoạt động trong ngành nông nghiệp; trong đó có: 50 thạc sỹ, 399 đại
học, 81 trình độ cao đẳng, trung cấp. Trong lĩnh vực nông nghiệp có 10 thạc sỹ, 121 kỹ
sư nông học, 29 thạc sỹ, kỹ sư thú y; lâm nghiệp có 6 thạc sỹ, 212 kỹ sư; thủy lợi có 3
thạc sỹ, 8 đại học; thủy sản có 2 thạc sỹ, 58 đại học. Với hơn 20 đơn vị hoạt động sự
nghiệp khoa học trực thuộc, thời gian qua hoạt động khá hiệu quả (lai tạo giống lúa,
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất cho ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản...), cơ
sở vật chất kỹ thuật, kinh phí hoạt động ngày càng được tăng cường, nhất là các đơn vị
như: Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Thú y, Chi cục Thủy sản, Chi cục Quản lý chất
lượng nông lâm thủy sản, Trung tâm Giống cây trồng, Trung tâm giống vật nuôi,
Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư.
1.2. Hệ thống tổ chức nghiên cứu, chuyển giao các dịch vụ nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao
a, Trung tâm nghiên cứu phát triển cây thanh long
Trung tâm hiện có 18 cán bộ, công nhân viên (trong đó có 2 thạc sỹ, 14 đại
học), 1 trại thực nghiệm khoảng 52 ha để khảo nghiệm các giống mới, xây dựng mô
hình trình diễn, từ khi thành lập đến nay, trung tâm đã thực hiện một số nhiệm vụ:
20
- Tổ chức cấp giấy chứng nhận VietGAP cho các tổ chức, HTX, hộ gia đình cá
nhân đủ tiêu chuẩn sản xuất thanh long theo VietGAP.
- Làm đầu mối tiếp thu tiến bộ kỹ thuật và phối hợp với các cơ quan quản lý, cơ
quan nghiên cứu khoa học, các chuyên gia, cố vấn trong và ngoài nước về khoa học kỹ
thuật – thị trường – tổ chức mô hình sản xuất kinh doanh – chính sách phát triển sản
xuất và tiêu thụ thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP.
- Đang tiến hành khảo nghiệm, ươm tạo các giống mới, nhân giống từ cây đầu
dòng để cung cấp cho nông dân nhằm thay thế các giống nhiễm bệnh, chuyển giao các
tiến bộ khoa học kỹ thuật trên các lĩnh vực sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến và
tiêu thụ thanh long; tổ chức quảng bá và bảo vệ kết quả công nhận xuất xứ hàng hóa
21
e, Trung tâm thông tin và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (Sở Khoa
học và Công nghệ):
- Trung tâm đang được đầu tư xây dựng, với các chức năng:
+ Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học thực vật để nuôi cấy tế bào và thu
nhận sản phẩm từ tế bào thực vật.
+ Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học động vật để giữ giống các loại
động vật có năng suất; nghiên cứu thu nhận các sản phẩm từ động vật; nghiên cứu cải
tạo, nhân giống gia súc, gia cầm, thủy sản có giá trị cao; nghiên cứu sản xuất giống
thuỷ sản.
+ Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học vi sinh vật để thu nhận sinh khối
sinh vật phục vụ chăn nuôi gia súc gia cầm; thủy sản; nghiên cứu xử lý môi trường;
nghiên cứu quá trình hoạt động của vi sinh vật để tạo sản phẩm.
+ Nghiên cứu, ứng dụng di truyền và sinh học phân tử để bảo tồn gen các động
thực vật có giá trị và quý hiếm; lai tạo các loại gen.
+ Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vật liệu mới để thử nghiệm, sản xuất các vật
liệu theo công nghệ mới phù hợp với điều kiện KT-XH địa phương.
2. Thực trạng ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp
2.1. Chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật - công nghệ trong nông nghiệp
a, Trong lĩnh vực trồng trọt
Trung tâm giống cây trồng của tỉnh đã lai tạo được các giống lúa địa phương
(ML48, ML202, ML 214…) bằng phương pháp lai hữu tính, chọn lọc theo phương
pháp phả hệ, gia hệ (chưa áp dụng phương pháp đột biến, cấy mô). Hàng năm cung
cấp cho thị trường 350 – 400 tấn giống lúa nguyên chủng. Ngoài ra, tỉnh đã thực hiện
chương trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; xã hội hóa giống lúa nên năm 2013, các cơ
sở sản xuất giống của tỉnh (trại giống cấp huyện, HTX sản xuất giống, hộ nông dân)
đã sản xuất được 1.385 ha giống lúa xác nhận, nâng tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận
toàn tỉnh đạt 67% và tỉnh đã xây dựng được cánh đồng lúa chất lượng cao 1.871 ha.
52 người tham gia, diện tích khoảng 30 ha. Hiện có 505 nông dân ứng dụng bả sinh
học để phòng trừ ruồi đục quả cho cây thanh long, diện tích 324 ha.
Công tác cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp:
Khâu làm đất: đối với nhóm cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâu
năm và cây ăn quả đã thực hiện cơ khí hóa 100%. Đối với nhóm cây lương thực, mức
độ cơ giới hóa đạt 87%.
Khâu gieo sạ: cơ khí hóa thấp. Đối với nhóm CNHN, cây công nghiệp lâu năm
và cây ăn quả việc gieo trồng chủ yếu là bằng thủ công. Đối với cây lúa, mức độ cơ
khí hóa có nâng cao do một bộ phận nông dân sử dụng công cụ sạ hàng, còn đa số vẫn
gieo sạ bằng tay, diện tích được gieo sạ bằng máy khoảng 17%.
Khâu chăm sóc: cơ khí hóa trong việc làm cỏ đạt 90% đối với cây công nghiệp
dài ngày và cây ăn trái; đạt trên 85% trong việc bơm tưới đối với các nhóm cây trồng.
Khâu thu hoạch: mức độ cơ khí hóa trong đạt 95% trong vận chuyển; tỷ lệ cắt
lúa bằng máy đạt khoảng 80%; tỷ lệ tuốt hạt đạt 100%.
Đào tạo, tập huấn: Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư tỉnh hàng năm tổ
chức hàng trăm lớp tập huấn cho nông dân (mỗi lớp bình quân 30 – 40 người) đã góp
phần nâng cao nhận thức, kỹ thuật của người dân về quy trình sản xuất, cách phòng trừ
sâu bệnh góp phần phát triển nông nghiệp của tỉnh.
b, Lĩnh vực chăn nuôi
Nhìn chung, công nghệ áp dụng chủ yếu ở mức độ trung bình, tuy nhiên, vẫn có
một số trang trại nuôi tập trung, quy mô lớn (trang trại liên kết với doanh nghiệp)
mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng mức độ chuyển giao kỹ thuật cho các hộ nông
dân thấp (do bí quyết sản xuất của các doanh nghiệp).
- Về chuồng trại:
+ Hộ nông dân: nuôi gia trại hoặc trang trại nhỏ, chủ yếu là dạng truyền thống.
+ Toàn tỉnh hiện có 212 cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, trong đó có
18 trang trại sử dụng chuồng kín (có điều tiết nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, không khí),
sàn bằng các tấm đan để điều tiết tiểu khí hậu chuồng nuôi, dễ vệ sinh cho vật nuôi.
Điển hình như: trang trại Đông Hiệp (nuôi heo công nghiệp), Dương Quốc Khánh
(heo), Nam Bắc (heo giống), Phú Hùng Mạnh (heo giống), Duy Cường (heo giống),