Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
BÁO CÁO ĐỀ DẪN
HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KHOA TỰ NHIÊN – KỸ THUẬT LẦN THỨ 6
Trần Đức Sỹ
Bí thư Đoàn trường - Bí thư LCĐ khoa Tự nhiên – Kỹ thuật
Liên tục trong những năm qua, phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học của
khoa Tự Nhiên – Kỹ Thuật có những bước phát triển mạnh mẽ. Hội nghị khoa học
sinh viên đã trở thành một hoạt động khoa học truyền thống hằng năm của Khoa. Số
lượng, chất lượng của các đề tài nghiên cứu không ngừng được tăng lên.
Có được sự phát triển mạnh mẽ phong trào nghiên cứu khoa học, bởi sinh viên đã
hiểu được rằng: nghiên cứu khoa học không chỉ là hoạt động giúp chính sinh viên rèn
luyện các kỹ năng, kỹ xảo, mà còn là hoạt động thiết thực, bổ ích giúp sinh viên tổng
hợp các kiến thức đã học để tạo ra các sản phẩm có khả năng ứng dụng thực tiễn.
Các báo cáo gửi về Hội nghị lần này đều tập trung vào những vấn đề mang tính
thiết thực nhất về các chuyên ngành mà sinh viên đang theo học và nghiên cứu. Đặc
biệt, năm nay các đề tài tập trung vào các chuyên ngành Kỹ thuật Điện – Điện tử,
ngành xây dựng … nhằm vạch ra hướng đi mới, phù hợp với đặc thù của khoa, và
cũng chính là sự định hướng phát triển của trường Đại học Quảng Bình trong những
năm tới. Tuy những ứng dụng của các đề tài nghiên cứu trong dạy học còn chưa được
chú trọng để khai thác triệt để, nhưng ngoài các đề tài nghiên cứu về lý thuyết, có
nhiều đề tài nghiên cứu về thực nghiệm rất công phu, tạo nên được những sản phẩm có
giá trị trong cuộc sống cũng như trong dạy và học. Nếu được sử dụng và khai thác hợp
lý, có thể chúng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là ứng dụng trong
thực tiễn. Như đề tài:“Tổng hợp chất màu cho gốm sứ trên nền khoáng Spinen Magie
Ferit” thể hiện sự dày công nghiên cứu, kết quả có thể sẽ mở ra một hướng mới trong
việc ứng dụng tạo màu trên nền gốm sứ. Hay đề tài: “ Khảo sát, đánh giá hệ thống cấp
điện và điện trở suất của đất làm cơ sở cho nghiên cứu thiết kế hệ thống điện chiếu
sáng khuôn viên trường Đại học Quảng Bình” có thể sẻ là sự hỗ trợ tốt cho việc xây
GVHD: Trần Thị Hoàn
Tóm tắt: Hóa học gắn liền với thực tế đời sống, sản xuất. Đã từ lâu, cha ông ta đã đúc
kết kinh nghiệm từ đời sống, lao động sản xuất thành những câu tục ngữ, ca dao truyền từ đời
này sang đời khác, cho đến nay chúng vẫn còn giá trị quan trọng. Để sinh viên hiểu thêm ý
nghĩa hóa học của những câu tục ngữ, ca dao này và các hiện tượng hóa học xẩy ra thường
xuyên quanh các em nhằm làm tăng hứng thú học tập bộ môn hóa học ở trường THPT là một
việc làm rất cần thiết.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hóa học là một bộ môn khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm. Mục đích của
môn học là giúp học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao những tri thức hiểu
biết về thế giới, con người thông các bài học, giờ thực hành ...của hóa học. Các hiện
tượng hóa học thường xuyên xảy ra trong thực tế đời sống, sản xuất và nhiều hiện
tượng đã được đúc kết thành các câu ca dao, tục ngữ nói lên kinh nghiệm sản xuất của
ông cha truyền lại cho con cháu. Hóa học là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng
tạo về những ứng dụng phục vụ đời sống của con người, góp phần giải tỏa, xóa bỏ
hiểu biết sai lệch làm ảnh hưởng đến đời sống của con người.
Để đạt được mục đích của hóa học trong trường phổ thông thì giáo viên dạy hóa
học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy ngoài những hiểu biết về hóa
học người giáo viên dạy hóa học còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút, gây
hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hóa học của học sinh, giúp học sinh hiểu biết các hiện
tương hóa học xảy ra xung quanh mình, góp phần làm tăng lòng yêu thích bộ môn cho
học sinh phổ thông. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:" Tìm hiểu ca dao, tục ngữ và các
hiện tượng hóa học xảy ra trong thực tế để giảng dạy hóa học ở trường phổ thông
trung học".
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Vấn đề được giải quyết bằng cách nêu các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời
sống thường ngày sau khi đã kết thúc bài học. Tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến
thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc gặp hiện tượng đó, học
hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng xuống. Vì
vậy mà nước trở nên trong hơn.
Áp dụng:
- Đây là một ứng dụng quan trọng của phèn chua trong đời sống.
Phèn chua rất cần cho việc xử lí nước đục và nước ở các vùng lũ để có nước trong
dùng cho ăn, uống, tắm, giặt.
- Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong bài dạy về muối sunfat ở lớp 10, lớp 11 khi
dạy về phản ứng thủy phân hoặc về các hợp chất quan trọng của nhômNgoài ra: Vì
cục phèn chua trong và sáng cho nên đông y còn gọi là minh phàn (minh là trong sáng,
phàn là phèn).
Theo y học cổ truyền thì:
Phèn chua, chua chát, lạnh lùng
Giải độc, táo thấp, sát trùng ngoài da
Dạ dày, viêm ruột, thấp tà
Dùng liều thật ít, thuốc đà rất hay
Phèn chua làm hết ngứa, sát trùng vì vậy sau khi cạo mặt xong, thợ cắt tóc thường lấy
một miếng phèn chua to xoa vào da mặt cho khách.
4
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
Phèn chua dùng để bào chế ra các thuốc chữa đau răng, đau mắt, cầm máu, ho ra máu
(các loại xuất huyết).
Vấn đề 2. Tục ngữ Việt Nam có câu:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như thế nào?
Giải thích:
trong bài " Axit nitric" ( ở lớp 11).
Vấn đề 4. Người xưa có câu:
"Cha truyền, con nối
Thợ nguội dạy con
Muốn lửa đỏ hơn
Ta nên rảy nước".
0
5
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
Câu này mang hàm ý khoa học hóa học như thế nào?
Giải thích:
Các ông thợ rèn, theo kinh nghiệm, thường để một cái chổi bằng giẻ tẩm ướt
hoặc bên cạnh có chậu nước khi rèn dao, rựa, cuốc, xẻng,…. Đó cũng là nguyên nhân
người ta gọi ông là thợ nguội đấy bạn ạ!
Thợ nguội đưa thanh sắt vào bếp than hồng để nung nóng đỏ cho mềm mới rèn
được. Thỉnh thoảng trong lúc tôi dao, rựa… thợ rèn nhấp chổi ướt lên bếp than hồng.
Nếu bạn ngồi cạnh sẽ thấy gì? Bạn sẽ thấy lửa đỏ hơn đấy! Bác thợ rèn không hiểu
được hiện tượng hóa học xảy ra, nhưng biết tác dụng thực tế của nó.
Còn tác dụng hóa học là việc của chúng ta:
- Rảy nước làm lửa đỏ hơn là do trên bếp than đang nhiệt độ khá cao, than hồng sẽ khử
nước tạo hỗn hợp khí than ướt theo phương trình:
C
1050
CO + H2
C + H2 O
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
Vấn đề 6. Theo đông y, hàn the có vị ngọt mặn, tính mát dùng hạ sốt, tiêu viêm,
chữa bệnh viêm họng, viêm hạnh nhân hạch, sưng loét răng lợi. Nên có câu cao
dao sau:
" Hàn the ngọt, mặn, mát thay
Tiêu viêm, hạ sốt, lại hay đau đầu
Viêm họng, viêm lợi đã lâu
Viêm hạch, viêm mắt thuốc đâu sánh bằng".
Vậy hàn the là chất gì ?
Giải thích:
Hàn the là chất natri tetraborat (còn gọi là borac) đông y gọi là bàng sa hoặc
nguyệt thạch, ở dạng tinh thể ngậm 10 phân tử H2O (Na2B4O7.10H2O). Tinh thể trong
suốt, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 900.
Trước đây người ta thường dùng hàn the làm chất phụ gia cho vào giò lụa,
bánh phở, bánh cuốn…để cho những thứ này khi ăn sẽ cảm thấy dai và giòn.
Ngay từ năm 1985 tổ chức thế giới đã cấm dùng hàn the làm chất phụ gia cho thực
phẩm vì nó độc, có thể gây sốc, trụy tim, co giật và hôn mê.
Natri tetraborat tạo thành hợp chất màu với nhiều oxit kim loại khi nóng
chảy, gọi là ngọc borac.
Trong tự nhiên, borac có ở dạng khoáng vật tinkan, còn kenit chứa
Na2B4O7.4H2O. Borac dùng để sản xuất men màu cho gốm sứ, thuỷ tinh màu và thuỷ
tinh quang học, chất làm sạch kim loại khi hàn, chất sát trùng và chất bảo quản, chất
tẩy trắng vải sợi. Hàn the còn được dùng để bào chế dược phẩm.
Theo đông y, hàn the có vị ngọt mặn, tính mát dùng hạ sốt, tiêu viêm, chữa
bệnh viêm họng, viêm hạnh nhân hạch, sưng loét răng lợi.
Hàn the ngọt, mặn, mát thay
Tiêu viêm, hạ sốt, lại hay đau đầu
Viêm họng, viêm lợi đã lâu
Viêm hạch, viêm mắt thuốc đâu sánh bằng.
Áp dụng:
Giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về nước cứng (ở lớp 11). Mục đích
cung cấp mẹo vặt trong đời sống cũng góp phần cho học sinh hiểu bản chất của vấn đề
có trong đời sống hằng ngày, và học sinh có thể ứng dụng trong đời sống gia đình
mình, tạo sự hưng phấn trong học tập. Đó là một thí nghiệm học sinh tự làm được.
Vấn đề 8. Ở các vùng đất bị nhiễm phèn, tại sao khi cày lên lại có váng màu vàng?
Giải thích:
Sự hình thành phèn là do lưu huỳnh có trong nước biển theo thuỷ triều vào vùng
nước lợ, còn sắt, nhôm do các sản phẩm phong hoá theo dòng chảy ở dạng phù sa.
Sự hình thành phèn xuất hiện ở vùng nước lợ, có thuỷ triều xâm nhập và có sự
tham gia của vi sinh vật với các giai đoạn sau:
Ion bị khử trong điều kiện thiếu oxy. Trong giai đoạn này phải có đầy đủ chất hữu
cơ để làm nguồn thức ăn cho vi sinh vật.
Sau đó, phản ứng giữa H2S với Fe có trong đất để tạo thành pyrite FeS2 (màu
xám, sét). Giai đoạn này nếu có CaCO3 thì không sinh ra phèn. Nhưng nếu thiếu Ca thì
phản ứng tiếp tục ở giai đoạn 3.
FeS2 nếu có oxy thì bị oxy hoá để tạo thành FeSO4 và H2SO4 theo phản ứng.
2FeS2 + 7O2 + H2O 2FeSO4 + 2 H2SO4
Sau khi đã có axit H2SO4 và FeSO4 thì trong điều kiện có đủ oxy và vi sinh vật
sẽ:
2FeSO4 + H2SO4 +1/2 O2 Fe2(SO4)3 + H2O
Màu vàng rơm chính là màu của Fe2(SO4)3.
Fe2(SO4)3 + 2H2O ⇄ 2FeSO4(OH) + H2SO4
Áp dụng:
Hiện tượng này có thể đưa vào bài dạy một số hợp của sắt (lớp 12).
Lưu ý: Muối sắt (II) khó bảo quản, dễ bị oxi hóa để tạo sắt (III) nên trong phòng thí
nghiệm không có muối sắt (II) nào khác ngoài muối Mohr. Muối Mohr là hỗn hợp
muối kép của sắt (II) và amoni sunfat có công thức FeSO44(NH4)SO4.6H2O, muối này
bền với oxi trong không khí.
III. KẾT LUẬN
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
TRỰC QUAN HOÁ THÍ NGHIỆM VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI
TÍNH TRONG DẠY HỌC PHẦN QUANG HỌC VẬT LÍ THCS
Nhóm sinh viên: Võ Thị Thu Hằng; Hoàng Thị Tâm
Lớp: CĐSP Vật lí - KTCN
GV hướng dẫn: Lê Thị Kiều Oanh
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vật lí (VL) là môn khoa học thực nghiệm nên trong quá trình dạy học, giáo viên
(GV) và HS phải tiến hành các thí nghiệm (TN) nhằm tạo niềm tin, phát triển tư duy
và góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS. Khi dạy phần Quang học ở trung học
cơ sở (THCS), với các đặc thù của nó nên đòi hỏi các TN phải được tiến hành trong
phòng tối mới dễ quan sát nhưng điều kiện cơ sở vật chất hiện nay chưa đáp ứng được.
Một vài thiết bị TN có kích thước nhỏ nên HS khó quan sát rõ hiện tượng. Có những
TN đòi hỏi mắt phải điều tiết mạnh và cần quan sát trong thời gian khá dài nên có thể
gây tác hại cho mắt. Bên cạnh đó, rất nhiều bài học trong phần này có các TN được mô
tả bằng lời và minh họa bằng tranh vẽ chứ không thể tiến hành được TN hoặc không
thể tiến hành hết trong thời lượng của một tiết tiết học vì số lượng TN nhiều. Để khắc
phục những hạn chế đó, ta có thể kết nối máy vi tính (MVT) với camera để ghi lại các
TN thực, các hiện tượng VL xảy ra trong tự nhiên hoặc khai thác các TN ảo, TN mô
phỏng được thiết kế bằng các phần mềm khác nhau.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Cơ sở lí luận của việc sử dụng MVT nhằm trực quan hóa TN trong DH VL.
- Thư viện hình ảnh, video clip, TN phần Quang học với sự hỗ trợ của MVT để
trực quan hóa các TN thực.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm, chức năng của TN trong dạy học VL.
- TN làm đơn giản hóa các hiện tượng vật lí.
- TN góp phần tích cực hóa tư duy người học.
- TN có tác dụng bồi dưỡng một số đức tính tốt cho HS (tính chính xác, tính trung
thực, tính cẩn thận, tính kiên trì).
- TN có thể được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học.
1.2. Trực quan hóa TN với sự hỗ trợ của MVT trong dạy học phần Quang học VL THCS
Theo Thái Duy Tuyên: “Trực quan là khái niệm biểu thị tính chất của hoạt động
nhận thức, trong đó những thông tin thu được từ các sự vật và hiện tượng của thế giới
bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm giác của con người”.
Nhận thức của con người phải được bắt đầu từ những tri thức trực quan. Trong dạy
học VL, chính nhờ trực quan mà HS nắm được quan hệ của các đối tượng, đại lượng
trong các hiện tượng, quá trình. Quá trình tiến hành các TN để nghiên cứu các hiện
tượng, xây dựng các định luật, các kiến thức khác trong phần Quang học thường gặp
phải một số khó khăn nhất định: khi nghiên cứu định luật truyền thẳng ánh sáng, định
luật phản xạ ánh sáng … cần phải sử dụng các thiết bị TN sẵn có trong phòng TN. Tuy
nhiên, ở nhiều trường các bộ dụng cụ này còn thiếu, chỉ đủ cho GV làm biểu diễn trên
lớp còn HS không được tự tay làm TN, trong lúc đó cường độ của các nguồn sáng
không đủ mạnh để quan sát rõ hiện tượng xảy ra trong điều kiện bình thường. Hơn nữa,
kết cấu các thiết bị nhỏ nên những HS ngồi phía cuối lớp khó quan sát được hiện tượng.
Việc nghiên cứu đường đi của các tia sáng, chùm sáng, sự tạo tạo ảnh qua các dụng cụ
quang học cũng khó thực hiện để cả lớp quan sát cùng lúc. Để khắc phục những hạn chế
đó, ta có thể:
- Dùng camera kĩ thuật số ghi lại các TN đã thực hiện trước trong phòng TN thành
các video clip. Dùng máy ảnh kĩ thuật số chụp ảnh các hiện tượng quang học xảy ra
trong tự nhiên hoặc các TN liên quan đến sự tạo ảnh qua các dụng cụ quang học thành
11
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
cụ tìm kiếm thông dụng hiện nay là:
,
,
,...
Ví dụ: Muốn tìm hình ảnh minh họa
cho hiện tượng phản xạ ánh sáng, ta
Hình 2.2.
Kết quả tìm kiếm từ trang
12
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
khởi động → gõ từ khóa “phản xạ ánh sáng” vào ô tìm kiếm
→ chọn trình duyệt hình ảnh → chọn tìm kiếm hình ảnh → click chuột phải vào hình
ảnh cần lựa chọn → Save Pictute As hoặc dùng phần mềm FastStone Capture để
chụp hình ảnh đó rồi lưu chúng vào thư viện hình ảnh.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể dùng các địa chỉ Website cụ thể. Với địa chỉ
/>=2872 ta sẽ tìm được nhiều hình ảnh phục vụ cho dạy học phần Quang học (Hình 2.3).
Hình 2.3. Một số hình ảnh tìm được từ trang
Địa chỉ là website cung hình
ảnh chụp lại các TN (có định dạng *.jpg) hoặc các hình vẽ về hiện tượng khác nhau
liên quan đến sự truyền ánh sáng qua các dụng cụ quang học và sự tạo ảnh qua chúng.
Hình 2.4. Một số hình ảnh tìm được từ trang - phy.org
Hình 2.7. Các Video của trang
Từ trang ta download được các
video TN với nguồn sáng laser về hiện tượng khúc xạ ánh sáng, phản xạ ánh sáng, TN
khảo sát sự tạo ảnh của vật qua thấu kính, gương phẳng…(có định dạng *.avi, *.mpg).
Hình 2.8. Các Video của trang
Ở địa chỉ của website />&exptid=185 download được những phim TN (có định dạng *.mov) về sự phản xạ và
khúc xạ ánh sáng, sự khúc xạ ánh sáng qua lăng kính, chùm sáng qua thấu kính.
14
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
Hình 2.9. Các Video từ trang
2.3. Khai thác các phần mềm
2.3.1. Phần mềm mô phỏng PHENOPT
Phần mềm này được khởi động trong Windows Explore, nhờ kích chuột vào file
Phenopt.exe. Khi đó trên màn hình sẽ cho một cửa sổ chính như hình 2.13.
Hình 2.10. Các chương trình con và giao diện làm việc của chương trình con
Để sử dụng chương trình: Click chuột vào giữa cửa sổ của chương trình để các
chương trình xuất hiện lên trên cửa sổ. Muốn xem chương trình con nào trong cửa sổ
thì di chuyển chuột đến tên chương trình con đó rồi Click chuột trái vào đó. Trong cửa
số của chương trình con, chúng ta thay đổi các thông số để tiến hành các TN mô
phỏng. Muốn thoát ra khỏi chương trình đang dùng, Click chuột trái vào hình mặt
sáng), Lences (thấu kính), Miroirs
(Gương), Transprent Object (Vật trong
Hình 2.12.
suốt), Maesurements Tools (Các dụng cụ
TN mô phỏng với phần mềm Crocodile Physics
đo) và Opaque Objet (Vật chắn sáng).
2.3.3. Khai thác phần mềm Optics Mar.03
Phần mềm Optics Mar.03 có thể download miễn phí từ địa chỉ
Sau khi download về máy, chỉ
cần Double Click vào Optic.exe để cài đặt chương trình. Sau khi hoàn tất cài đặt
chương trình thì vào Program → Seasoft → Optic để khởi động chương trình.
Hình 2.13. TN mô phỏng được thiết kế từ phần mềm Optics Mar.03
Thực hiện thiết kế các TN mô phỏng bằng cách rê chuột đến các biểu tượng của
điểm sáng, vật sáng hoặc thấu kính, lăng kính,… ở trên thanh công cụ thao tác (Action
16
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
Toolbar) rồi kéo rê thả chúng vào không gian làm việc (Scene) và sau đó vào
Properties điều chỉnh các thuộc tính cho các đối tượng.
2.3.4. Khai thác phần mềm Macromedia Flash và Sothink SWF Decompiler
Phần mềm Macromedia Flash cho phép người sử dụng thiết kế nhiều TN ảo hoặc
các đoạn phim hoạt hình với chương trình Action Cript.
Hình 2.14. Cửa sổ làm việc chính của phần mềm Sothink SWF Decompiler
Để khai thác được các TN được thiết kế từ Macromedia Flash trên các website và
4. />5. />6. />7. />8. />9. />10. />
18
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG CHÌ VÀ
ASEN TRONG MỘT SỐ LOẠI RAU TRỒNG Ở HUYỆN
BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
CBHD: Bạch Ngọc Chính
SV: Đinh Thị Hồng
Nguyễn Đức Vượng
Trần Thị Dung
Nguyễn Thị Tuyết Trinh
Tóm tắt:
Đã tiến hành phân tích, đánh giá hàm lượng Pb và As trong 32 mẫu rau (16 mẫu rau
cải và 16 mẫu rau muống) ở xã Đồng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Kết quả cho thấy
phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử xác định Pb và As có giới hạn phát hiện (LOD),
giới hạn định lượng (LOQ) thấp, độ đúng và độ lặp lại tốt. Hàm lượng trung bình của Pb và
As trong rau cải cao hơn trong rau muống. Đã đánh giá hàm lượng của chúng theo thời gian và
vị trí lấy mẫu cũng như so sánh với tiêu chuẩn Việt Nam.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nhu cầu tiêu thụ rau xanh ngày càng tăng, vì lợi nhuận nên nhiều
người đã sử dụng nhiều hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón hoá học và sử dụng nước
ô nhiễm để tưới rau. Điều này, đã làm cho một số độc tố như dư lượng thuốc bảo vệ
3.1. Xây dựng đường chuẩn, khảo sát giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng
Đường chuẩn xác định hàm lượng Pb và As được thể hiện trên hình 2, với Pb
phương trình có dạng: A = 0,0168 C + 0,0359 (với hệ số tương quan R = 0,9991), với
As phương trình có dạng A = 0,0135 C + 0,0119 (với R = 0,9995), trong đó C là hàm
lượng (ppb). Nồng độ của Pb cũng như As có sự tương quan tuyến tính tốt trong
khoảng nồng độ 2 ÷ 15 ppb. Giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ)
của phép đo GF-AAS trong phép xác định Pb và As đã được xác định. LOD xác định
Pb là 0,16 ppb và As là 0,18; LOQ xác định Pb và As lần lượt là 0,54 và 0,59 ppb.
20
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
0.40
0.30
0.35
0.25
0.25
0.20
0.20
0.15
(A)
10
15
20
C(ppb)
C(ppb)
(a)
(b)
Hình 2: Đường chuẩn xác định Pb và As (a.Pb; b.As)
3.2. Đánh giá độ lặp lại và độ đúng của phép đo
Độ lặp lại của phương pháp được xác định qua độ lệch chuẩn tương đối (RSD).
Kết quả phân tích Pb (bảng 1) và As của 6 mẫu rau cải (thuộc mẫu C31) và 6 mẫu rau
muống ( thuộc mẫu M31), rồi thêm chuẩn Me (10ppb Pb và 10ppb As đối với 6 mẫu
C31; 20ppb Pb và 20ppb As đối với 6 mẫu M31 ) vào 12 mẫu đó, đem phân tích lại đã
được xác định. Theo Horwitz, khi phân tích những nồng độ cỡ ppb, thì sai số trong nội
bộ phòng thí nghiệm nhỏ hơn ½ RSD tính theo công thức: RSD(%)= 2(1 – 0,5lgC) (C là
nồng độ chất phân tích) thì đạt yêu cầu.
Đối với phép phân tích Pb:
9
RSD Horwitz= 2(1 – 0,5lgC) 2(10,5lg50.10 ) = 25> 0,88.2 ppb
Đối với phép phân tích As:
9
24,70
24,65 ± 0,35
0,58
C31-2
24,63
24,43
24,42
24,42 ± 0,54
0,88
C31-3
24,75
24,61
24,78
24,71 ± 0,22
0,36
24,54
24,26
24,38
24,40 ± 0,35
0,57
M31-1
48,68
48,52
48,86
48,68 ± 0,42
0,35
M31-2
50,05
50,28
50,07
49,26
49,46
49,37
49,36 ± 0,25
0,20
M31-6
49,00
49,14
49,23
49,12 ± 0,30
0,24
Độ đúng của phương pháp được đánh giá thông qua độ thu hồi. Kết quả phương
pháp xác định hàm lượng Pb và As, độ thu hồi lần lượt đạt từ 98,2 101,1% và 97,5
99,9%. Như vậy, phương pháp GF-AAS đạt được độ đúng tốt.
3.3. Xác định hàm lượng Pb và As trong rau
Kết quả phân tích hàm lượng Pb và As trong rau ở xã Đồng Trạch huyện Bố
Trạch sau 4 đợt với 32 mẫu được ghi ở bảng 2.
14,57 ± 0,21
C12
9,10 ± 0,19
7,74 ± 0,09
M13
18,71 ± 0,66
5,46 ± 0,06
C13
7,58 ± 0,43
5,61 ± 0,14
M14
28,12 ± 0,60
15,37 ± 0,07
C14
19,96 ± 0,12
7,91 ± 0,16
C23
8,80 ± 0,17
6,92 ± 0,10
M24
26,27 ± 0,21
13,74 ± 0,24
C24
17,62 ± 0,14
7,62 ± 0,19
M31
29,57 ± 0,47
22,95 ± 0,30
C31
14,64 ± 0,23
18,09 ± 0,14
C34
19,06 ± 0,20
7,62 ± 0,18
22
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
M41
30,01 ± 0,28
25,16 ± 0,25
C41
13,87 ± 0,23
10,46 ± 0,13
M42
40,86 ± 0,56
15,57 ± 0,32
3.4. Đánh giá hàm lượng Pb và As trong rau
Để đánh giá hàm lượng Me trong rau cải theo vị trí và thời gian lấy mẫu, chúng
tôi áp dụng phương pháp thống kê phân tích phương sai 2 yếu tố (ANOVA 2 chiều) [9],
kết quả được ghi ở bảng 3.
Bảng 3: Kết quả phân tích ANOVA 2 chiều của sự biến động hàm lượng Pb,As trong rau cải.
Me
Pb
As
Nguồn
phương sai
Tổng
bình
phương
Bậc
tự do
(f)
Phương
sai
Ftính
Flí thuyết
)
6,02
9
0,67
Phương sai tổng
259,64
15
17,31
Giữa các vị trí (S2A)
25,06
3
8,35
F1 =
11,85
3,86
Giữa các đợt (S2B)
S TN là phương sai mô tả sai số của bản thân phương pháp xác định hàm lượng Pb
2
Qua bảng 3 cho thấy: Khi xác định Pb và As có F 1 lần lượt là 124,24; 11,85
đều lớn hơn Flí thuyết (3,86) tương ứng với mức ý nghĩa p = 0,05. Như vậy, các vị trí
lấy mẫu trong mỗi đợt khác nhau có hàm lượng Pb và As trong rau cải ở vùng khảo
sát khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,05. Hay nói cách khác, các vị trí
lấy mẫu có ảnh hưởng đến kết quả phân tích hàm lượng. Ngược lại, giá trị F2 đều
nhỏ hơn Flí thuyết nên hàm lượng Pb và As trong rau cải giữa các đợt lấy mẫu trong
mỗi vị trí không khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê với p > 0,05. Việc đánh
23
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
giá hàm lượng Pb và As trong rau muống cũng cho kết quả tương tự.
3.5. So sánh hàm lượng Pb, As trung bình trong rau muống và rau cải
Kết quả so sánh hàm lượng Pb và As trung bình trong rau muống và rau cải
được ghi ở bảng 4. Qua bảng cho thấy hàm lượng Pb và As trung bình trong rau
muống cao hơn so với rau cải.
Bảng 4: Các đại lượng thống kê thu được khi đánh giá hàm lượng Pb và As trong rau
Các đại lượng thống kê
Nhóm
khảo sát
min ÷ max,
μg/kg tươi
TB, μg/kg
15,01
5,46 ÷ 26,19
4,23
2,06
13,72
Pb
12.62
7,68 ÷ 19,96
0,67
0,82
6,50
As
7,93
5,61÷ 10,78
0,70
= 4,05 Schung = 2,01μg/kg.
2
2
- Tính giá trị của chuẩn t (ở đây S1 và S2 khác nhau):
TB1 - TB 2
tTính =
1/ 2
S12
S22
+
n2
n1
= 23,37
(TB1 = 29,24 μg/kg; TB2 = 12,26 μg/kg; n1 = 16 và n2 = 16)
24
Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
Vì tTính = 23,37 > t (p = 0,05; f = 19) = 2,10 nên hàm lượng Pb trung bình trong rau
muống và rau cải là khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa p < 0,05.
rau tươi)
Pb
29,24
17,33÷ 50,9
2,72
9,30
≤ 500
As
15,01
5,46÷26,19
2,06
13,72
≤ 200
Pb
12.62
thấy, phép xác định có LOD và LOQ nhỏ, độ đúng và độ lặp lại tốt.
Đã áp dụng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử vào việc xác định hàm
lượng Pb và As trong 32 mẫu rau ở xã Đồng Trạch, Quảng Trạch, Quảng Bình. Hàm
lượng trung bình (µg/kg tươi) trong rau đạt được 12,62 g/kg đến 29,26 g/kg đối với
Pb; 7,93g/kg đến 15,01g/kg đối với As.
Tiến hành đánh giá hàm lượng Pb, As trong rau theo tháng và vị trí. Kết quả
cho thấy hàm lượng chúng trong rau muống và rau cải ở các thời gian lấy mẫu khác
nhau là như nhau có ý nghĩa về mặt thống kê với p > 0,05; còn theo vị trị khác nhau có
hàm lượng khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,05.
25