TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÀI TIỂU LUẬN ĐỊA LÝ DU LỊCH
TIỂU VÙNG DU LỊCH
DUYÊN HẢI NAM
TRUNG BỘ
GVHD: Th.S Nguyễn Văn Thanh
Thực hiện: Nhóm 8 _ DH08DL
TP.HCM, tháng 5/2010
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................................2
A. GIỚI THIỆU................................................................................................................3
I. Đặc điểm tự nhiên .....................................................................................................3
I.1. Địa hình...............................................................................................................3
I.2. Hệ thống sông ngòi.............................................................................................3
I.3. Khí hậu................................................................................................................3
I.4. Rừng....................................................................................................................3
II. Dân cư-xã hội...........................................................................................................4
B. TIỂU VÙNG DU LỊCH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ.......................................4
I. Bình Thuận................................................................................................................4
I.1. Điều kiện phát triển du lịch................................................................................4
I.2. Các di tích lịch sử văn hóa.................................................................................5
I.3. Các danh lam thắng cảnh..................................................................................20
A. GIỚI THIỆU
Đất nước Việt Nam trải dài theo nhiều vĩ độ khác nhau đã tạo nên cho mỗi vùng
Việt Nam những nét đặc trưng riêng về tự nhiên lẫn trong cuộc sống thường nhật của
con người.
Với diện tích đất liền rộng 33166,1 km 2 với 1731400 người (năm 2007) bao gồm
các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; vùng Duyên hải
Nam Trung Bộ có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế và quốc phòng. nằm trên trục
các đường giao thông đường bộ, đường sắt và biển,gần thành phố Hồ Chí Minh và khu
tam giác kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ,cửa ngõ của Tây Nguyên,của đường
”xuyên Á” ra biển nối với đường hàng hải quốc tế.
I. Đặc điểm tự nhiên
I.1. Địa hình
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ là một vùng đồi chuyển tiếp xuống dải đồng
bằng duyên hải hẹp ở phía đông. Dải đồng bằng này bị chia cắt bởi các nhánh núi đâm
ngang ra biển tạo thành một đường bờ biển khúc khuỷu có nhiều vũng, vịnh, bán
đảo… Đây là điều kiện thuận lợi để người dân nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản…
I.2. Hệ thống sông ngòi
Theo hướng các thung lũng, hệ thống sông ngòi trong vùng chảy theo hướng đổ
ra biển đông như các sông Thu Bồn, Trà Khúc, Sông Ba…Các sông này có giá trị về
thủy điện và giao thông tuy nhiên không lớn lắm.
I.3. Khí hậu
Khác hẳn với khí hậu vùng Bắc Trung Bộ khí hậu ở đây không có mùa đông
lạnh, nhưng lại có sự phân hóa theo độ cao. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ chịu ảnh
hưởng của gió mùa và dãy Trường Sơn làm cho mùa mưa rất ngắn, mùa khô nóng kéo
dài. Trong khi cả nước có lượng mưa lớn nhất, thì miền khí hậu này lại đang ở thời kỳ
khô nhất gây nên hiện tượng thiếu nước nghiêm trọng và hiện tượng sa mạc hóa đã
hình thành những dải cồn cát kéo dài nhất là ở các tỉnh:Bình Định, Khánh Hoà, nhưng
điển hình là 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận . Kèm theo khô hạn và gió mạnh là
những cơn bão cát đe doạ chôn vùi làng mạc, ruộng đồng, phủ lấp trên một phạm vi
Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ Việt Nam, với bờ biển dài 192
km từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná (Ninh Thuận) đến bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa-Vũng
Tàu). Phía bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía tây bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp
tỉnh Đồng Nai, phía tây nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tỉnh lỵ của Bình Thuận là
thành phố Phan Thiết, cách Thành phố Hồ Chí Minh 198 km.
Bình Thuận có bờ biển dài, có các hải đảo và vùng đồng bằng,miền núi. Chính
những đặc điểm về tự nhiên đó là điều kiện thuận lợi, để từ lâu đời trên vùng đất này
đã có con người sinh sống ở thời tiền sử và sơ sử mà những di tích khảo cổ học được
phát hiện và chứng minh sinh động về những nền văn hoá khảo cổ đã qua.
Trong quá trình mở nước về phía Nam và từ khi thành lập tỉnh Bình Thuận
(1697), người Việt đã kế thừa những thành tựu về văn hoá của người Chăm và một
phần các dân tộc ít người khác, để xây dựng một nền văn hoá truyền thống phát triển
qua từng thời kỳ lịch sử trên cơ sở những phong tục tập quán văn hoá của tổ tiên tạo
nên một nền văn hoá thống nhất đa dạng. Trải trên 300 năm lịch sử các thế hệ tiền
nhân xưa đã để lại trên đất Bình Thuận hằng trăm di tích lịch sử có giá trị, đó là những
công trình kiến trúc: tháp, đình, chùa, đền, miếu, lăng mộ... Từ xưa là những yếu tố
cấu thành đời sống văn hoá tinh thần và tâm linh của cộng đồng các dân tộc.
Những thiết chế tôn giáo, tín ngưõng và văn hoá đó là những di sản được kết tinh lại
qua bàn tay, khối óc của ông cha ta, qua nhiều thế hệ, được bồi đắp và giữ gìn đến
ngày nay đã cấu thành các di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh.
Nhóm 8 _DH08DL
4
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
I.2. Các di tích lịch sử văn hóa
I.2.1. Trường Dục Thanh
Trường Dục Thanh xây dựng năm 1907 (cùng năm xây dựng với trường Đông
kiến trúc nội ngoại thất được hình thành qua các bản vẽ và được dựng lại từ những
năm 1978-1980. Những hiện vật gốc từ thời thầy Thành dạy học đến nay vẫn còn lưu
giữ lại: một bộ trường kỷ, một bộ ván, chiếc án
thư, một chiếc tủ đứng, tráp văn thư, nghiên mài
mực, 3 chiếc ly nhỏ, 1 chiếc khay... tất cả đều cũ
kỹ nhưng được cất giữ bảo quản tốt. Đó là những
kỷ vật thiêng liêng gắn liền với thời gian và lịch
sử của những ngày dạy học ngắn ngủi ở Phan
Thiết của thầy giáo Nguyễn Tất Thành.
Bên cạnh khu di tích, Nhà trưng bày về cuộc
đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ cũng được
xây dựng và khánh thành năm 1986. Di tích Dục
Nhóm 8 _DH08DL
5
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
Thanh được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia tại quyết định số
235/QĐ-BT ngày 12 tháng 12 năm 1986.
I.2.2. Nhóm đền tháp Pôshanư
Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư tọa lạc trên đồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải về phía
Đông - Bắc cách thành phố Phan Thiết chừng 7km được người Chăm xây dựng từ
những cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ IX thuộc phong
cách kiến trúc nghệ thuật Hoà Lai - một trong
những phong cách nghệ thuật cổ của Vương quốc
Chămpa, mà hiện nay những ngôi tháp này còn lại
rất ít như một số phế tích ở khu thánh điạ Mỹ
Sơn, còn lại nhóm Hoà Lai (Phan Rang), nhóm
Pôdam (Tuy Phong – Bình Thuận) và tương đối
người Chăm. Đặc biệt trong các vương triều của Vương quốc Chămpa đều sử dụng các
Nhóm 8 _DH08DL
6
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
loại phương tiện sinh hoạt, vũ khí, trang phục triều chinh hoàn toàn khác các nước và
các vương quốc trong khu vực.
Mặc dù Vương quốc Chămpa trong tiến trình phát
triển của lịch sử, đã qua nhiều triều đại khác nhau nhưng
do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do chiến
tranh nên không còn lưu giữ lại được những đồ dùng
sinh hoạt trong triều chính. Chỉ còn lại một sưu tập duy
nhất của triều vua PôKlong Mơ HNai và hoàng hậu Ôbia
Sơm là tương đối đầy đủ nhưng không phải tất cả đều
của triều vua này mà vương miện, vũ khí và một số đồ
quý hiếm khác phải có nguồn gốc từ các vương triều trước.
Sưu tập di sản của Hoàng tộc Chăm còn lại hiện
nay do các Vua Chăm truyền lại cho các thế hệ hậu duệ
lưu giữ. Người được quyền thừa kế và lưu giữ lâu nhất
là bà Nguyễn Thị Thềm, hậu duệ của dòng Vua PôKlong
Mơ HNai, bà là một trong những người có uy tín và
được người Chăm tin yêu, gọi bà là “công chúa”. Năm
1995 bả đã qua đời và người thừa kế tiếp theo là bà
Nguyễn Thị Đào cháu gái bà Nguyễn Thị Thềm. Sưu tập
di sản Hoàng tộc Chăm hiện bảo lưu tại thôn Tịnh Mỹ xã Phan Thanh - huyện Bắc Bình cách thành phố Phan
Thiết 62 km về hướng Bắc.
Sưu tập bao gồm hơn 100 hiện vật là phương tiện,
đồ dùng, trang phục trong cung đình, đa phần là loại độc
I.2.4. Chùa bà Thiên Hậu
Chùa Bà Thiên Hậu xây dựng năm 1725 tọa lạc tại xã Phan Rí Thành huyện Bắc
Bình tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết
trên 70 km về phía Bắc.
Chùa Bà Thiên Hậu thực ra là một ngôi đền
thờ do người Hoa xây dựng để thờ một nhân vật
theo truyền thuyết của người Trung Hoa. Không
rõ từ lúc nào kể cả người Hoa và người Việt ở
đây lại gọi đền thờ bằng tên Chùa Bà Thiên Hậu
và cũng từ đó đền thờ này có tên gọi như hiện
nay.
Chùa Bà Thiên Hậu xây dựng theo kiểu
cách kiến trúc của người Hoa, kể cả trang trí
nghệ thuật, màu sắc bên trong, bên ngoài đều mang đặc trưng văn hoá của người Hoa.
Di tích này nằm trên vị trí rất lý tưởng, ở về hữu ngạn sông Cái, mùa nước cạn có thể
lội qua bên kia sông, quanh năm gió mát, quanh chùa có nhiều cây cổ thụ lớn.
Chùa Bà Thiên Hậu còn lưu nhiều di sản văn hoá Hán Nôm, trong số đó có 5 sắc
phong của các vua triều Nguyễn ban tặng cho Bà Thiên Hậu vì Bà đã có công giúp đỡ
cho nhân dân trong vùng và phù hộ cho họ về mặt tinh thần. Chùa Bà Thiên Hậu là
một trong những ngôi chùa Cổ nhất Bình Thuận. Chùa đã được tu bổ một số lần nhưng
vẫn giữ được kiến trúc và trang trí nghệ thuật xưa.
Hiện nay Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những nơi du ngoạn và viếng thăm
không phải chỉ có người Hoa mà còn rất đông đảo người Việt đến vì sự tín ngưỡng và
tâm linh của họ, một phần khác vì ở đây có nhiều cảnh trí thoáng mát , kết hợp với
chùa tạo nên nơi nghỉ dưỡng, thoải mái và có lòng tin Thần sẽ phù hộ.
I.2.5. Chùa Hang
Chùa Hang tên chữ là Cổ Thạch tự xây dựng từ nửa
đầu thế kỷ XIX , tạo lạc trong hang động trên đồi núi Cổ
Thạch ở độ cao trên 64 m thuộc địa bàn xã Bình Thạnh
huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận.
cổ vật có giá trị lịch sử văn hoá khác như Đại Hồng chung, trống sấm đều có niên đại
từ nửa đầu thế kỷ XIX.
Cổ Thạch Tự hàng chục năm nay do Hoà Thượng Thích Minh Đức trụ trì là điểm
du lịch chính của Bình Thuận, hàng chục vạn du khách từ mọi miền đất nước đến đây
hàng năm để chiêm bài, lễ Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có ở
đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và về lịch sử văn hoá, Cổ Thạch Tự đã
được Nhà Nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993.
I.2.6. Chùa núi Tà Cú
Chùa tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú nên gọi là
Chùa Núi Tà Cú để phân biệt với một số chùa
trên các núi khác ở Bình Thuận. Chùa Nuí xây
dựng từ năm 1897 nhưng trước đó nhiều năm đã
có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất. Chùa
thuộc địa phận xã Tân Lập huyện Hàm Thuận
Nam cách Phan Thiết khoảng 30 km về hướng
Đông Nam.
Chùa Núi do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì,
nơi xây dựng chùa do nhà Sư chọn hiện ở đỉnh
cao 457m, ở đó quanh năm có cây xanh, suối
chảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa. Về sau có nhiều lý do khác nhau, chùa tách thành
hai, chùa cũ vẫn ở chỗ cũ gọi là chùa trên với tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùa
dưới có tên là Linh Sơn Long Đoàn, gọi chung là Chùa Núi.
Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng làm nên khu danh lam thắng cảnh
từ xưa. Toàn thể cảnh chùa là 1 tổng thể kiến trúc bao gồm : Cổng tam quan, điện thờ,
tượng Phật, tháp mộ, hang tổ... ẩn mình dưới rừng cây cổ thụ xanh tươi 4 mùa.
Nhóm 8 _DH08DL
9
huyện Tuy Phong, Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 110km về hướng
Đông Bắc.
Đình có tất cả 11 nóc liên kết và tạo thành một tổng thể rộng lớn, mỗi công trình
có một chức năng riêng biệt, nằm trên một diện tích 1400m 2 được bao bọc bởi tường
đá dày . Trung tâm là đình chính, tiếp đến là toà Trung Đình, toà Đại bái, tả mạc, hữu
mạc, cổng tam quan, nhà thờ tiền hiền, miếu thờ binh sĩ, Hàm Tụy môn, hằng Thái
môn.
Đình Bình An từ ngoại thất, nội thất mặc dầu có trùng tu mấy lần nhưng vẫn giữ
nguyên được kết cấu kiến trúc vả trang trí nghệ thuật thuở mới khởi dựng. Đặc biệt hệ
thống cột kèo, trính, cột trốn, trần thừa lưu được các nghệ nhân xưa chạm trổ rất công
phu, mô tả sinh động phong cảnh thiên nhiên còn nguyên giá trị trên thân gỗ ở những
bộ phận chính trong kết cấu gỗ ở Đình. Đình Bình An chứa đựng nhiều tư liệu, di sản
Hán, Nôm thể hiện trên Hoành phi, liên đối và nhiều di sản văn hoá vật chất khác.
Đình còn lưu giữ một tấm bia đá cẩm thạch khắc ghi lại những sự kiện quan trọng
trong quá trình dựng đình như : chọn địa cuộc, thời gian thi công, sự đóng góp công
của giá trị ngôi đình, lễ lạc Thành và một phần lịch sử làng Bình An. Đây là tấm bia đá
Nhóm 8 _DH08DL
10
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
lớn có chiều cao 1,40m, chiều rộng 0,60m là tấm bia duy nhất còn lại trong các ngôi
đình ở Bình Thuận.
Đến nay Đình Bình An là ngôi đình lớn và đẹp, tiêu biểu cho lối kiến trúc nghệ
thuật dân gian ở Bình Thuận. Đình Bình An đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến
trúc nghệ thuật cấp Quốc gia 1996.
I.2.8. Dinh Thầy Thím
Dinh Thầy Thím tọa lạc giữa khu rừng già, có tên là rừng dầu Bàu Cát thuộc xã
Tân Hải, huyện Hàm Tân cách thành phố Phan Thiết khoảng 70km về phía Đông
ráo, thuận lợi và đảm bảo các yếu tố về phong thủy địa lý, đình xoay mặt về hướng
Nam, trước đó là khúc quanh của Sông Lũy, thuộc thị trấn Chợ Lầu huyện Bắc Bình –
cách thành phố Phan Thiết 65km về phía Bắc.
Ngoại thất của Đình Xuân Hội trên nóc gắn 2 con rồng đắp nổi bằng kỹ thuật dân
gian, mảnh sứ, trên bờ nóc, bờ quyết cũng được gắn hình tượng giao long làm cho nóc
đình vừa đẹp, vừa tăng tính oai nghiêm.
Nhóm 8 _DH08DL
11
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
Nội thất đình sử dụng nguyên liệu là các loại gỗ quý, hệ thống các hàng cột chính
được chú trọng, đây là những cột trụ lớn, từ đây liên kết với hệ thống kèo, quyết, kèo
đâm, trính, xà ngang tỏa rộng ra toàn bộ ngôi đình tạo thành một khối liên kết vững
chắc để nâng đỡ bộ mái bên trên. Tất cả các chi tiết kiến trúc đều được chạm trổ, trang
trí nghệ thuật, đặc biệt là những cột trốn chạm khắc công phu tạo nên hình tượng hổ
phù sắc nét.
Nhìn tổng thể nội dung thờ phụng trong đình Xuân Hội, thực sự đây là một bảo
tàng truyền thống của một ngôi làng cổ của người Việt, với đầy đủ những gì liên quan
đến đời sống văn hoá tinh thần, tín ngưỡng dân gian. Đồng thời ở đây còn lưu giữ
nhiều di sản văn hoá và tư liệu quý của nhiều thế hệ trước, trong đó có cả một số hiện
vật của người Chăm gởi gắm thờ phụng ở đây, 12 điệu sắc thần của các Triều Nguyễn
ban tặng cho các vị thần ở đình Làng Xuân Hội.
Nhà nước đã xếp hạng đình Xuân Hội là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc
gia năm 1995.
I.2.10. Di tích kiến trúc nghệ thuật đình làng Đức Nghĩa
Đình làng Đức Nghĩa được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ XIX ở vị trí
gần Đình làng Đức Thắng, vì những lý do khách quan về phong thổ địa lý nên dân
làng dời đình lên động cát làng Thành Đức, sau khi sáp nhập làng Thành Đức với Vạn
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
Ðình làng Ðức Thắng hiện còn lưu giữ nhiều sắc phong do các vua Triều Nguyễn
ban tặng, đến nay còn rất tốt. Xét về tổng thể kiến trúc, đình làng Ðức Thắng là ngôi
đình có quy mô đồ sộ vào loại nhất ở phủ Hàm Thuận thời bấy giờ và cả khu vực Phan
Thiết ngày nay. Là một trong những ngôi đình có tên trong danh sách những ngôi đình
cổ của Việt Nam. Từ xưa đến nay đình làng Ðức Thắng vẫn tổ chức đều đặn các nghi
lễ tế Xuân vào ngày 15-16 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào ngày 16 tháng 9 âm lịch hàng
năm. Ðình làng Ðức Thắng đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật
cấp Quốc gia năm 1991.
I.2.12. Linh Quang Tự
Linh Quang Tự là ngôi chùa cổ nhất ở huyện đảo Phú Quý và cũng là một trong
những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, tọa lạc trên ngọn đồi tà xã Tam Thanh huyện đảo
Phú Quý.
Theo gia phả của dòng họ nhà sư Nguyễn Cánh thì Linh Quang Tự được xây
dựng vào năm 1747 đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Ðến nay chùa
đã có niên đại 250 năm.
Ðến cuối thế kỷ XVIII do sơ suất chùa bị
cháy và gần như toàn bộ di sản trong chùa bị tiêu
huỷ, chỉ còn lại hàng chục pho tượng cổ bằng
đồng, đất nung. Sau đó chùa tiếp tục được xây lại
trên nền cũ với tổng kiến trúc lạ, đẹp bao gồm :
chính điện nhà Tiền Hiền, Võ ca, có dạng hình
chữ Ðinh, chính điện và nhà Tổ ở dãy giữa.
Những phần chính thờ phụng ở chùa được sắp đặt
theo quy cách Tiền Phật hậu Tổ và phong cách
thờ dân gian.
Linh Quang Tự là một công trình văn hoá lâu đời có ảnh hưởng sâu rộng trong
đời sống tinh thần của nhân dân huyện đảo. Ở đây danh lam với thắng cảnh là một,
vườn chùa cùng với chùa đóng vai trò quan trọng đưa kiến trúc Phật giáo hòa nhập với
khởi công xây dựng và gần 1 năm sau đó hoàn
chỉnh, với diện tích rộng 536m 2 chia thành 13 phòng. Khu biệt thự được xây dựng
cách nhóm đền tháp Chăm Pôshanư gần 100m về phía Nam. Trong quá trình vận
chuyển vật liệu lên xây dựng khu biệt thự, người Pháp đã làm hỏng tường thành phía
trước cửa chính của Tháp. Đây là biệt thự đẹp, đầy đủ tiện nghi, ban đêm có máy phát
điện, dưới biệt thự có nhiều hầm ngầm chứa nước mưa đủ cho những người trong biệt
thự dùng trong 1 năm, được coi là hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Từ đó trở đi
nhân dân Phan Thiết quen gọi khu vực này là đồi “Lầu Ông Hoàng” để chỉ ngọn đồi có
khu biệt thự to đẹp do công tước De Montpensier xây dựng.
Tháng 7 năm 1917 công tước De Montpensier bán lại cho chủ khách sạn người
Pháp Prasetts... Sau khi có Lầu Ông Hoàng một người Pháp tên Bell đã xây dựng
Hotel Ngọc Lâm ở quả đồi bên cạnh để phục vụ người Pháp. Vài chục năm sau thi sĩ
Hàn Mạc Tử đã đến địa danh này và đã để lại nhiều kỷ niệm khiến cho Lầu ông
Hoàng càng có ý nghĩa. Trong kháng chiến chống Pháp biệt thự này đã bị tiêu hủy,
ngày nay chỉ còn lại toàn bộ nền móng, hầm ngầm chứa nước và những ký ức trong
người dân Phan Thiết.
Cũng tại Lầu ông Hoàng quân Pháp xây
dựng ở đây một hệ thống đồn bót với nhiều lô cốt
bê tông cốt thép chắc chắn để khống chế khu vực
thị xã Phan Thiết. Ngày 14 tháng 6 năm 1947, nơi
đây đã diễn ra trận đánh tuyệt vời của một tiểu
đội thuộc đơn vị Hoàng Hoa Thám do đồng chí
Nguyễn Minh Châu chỉ huy diệt nhiều địch, thu
nhiều súng đạn các loại, trong đó có một khẩu đại
liên Vitke, một súng trung liên Bren và nhiều
chiến lợi phẩm khác từ đó nhân dânta quen gọi là
chiến thắng lầu Ông Hoàng.
Hiện nay Lầu Ông Hoàng là một quần thể du lịch hấp dẫn bao gồm : nhóm tháp
Chàm cổ, bên cạnh tháp có chùa Bửu Sơn cổ kính, dưới chân đồi là bờ biển, cửa sông
Phú Hài, núi Cố nơi có mộ của nhà thơ Nguyễn Thông...Tất cả hợp thành một quần thể
chóc, dưới chân núi là biển cả tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình.
Ngôi mộ được xây giản dị, gần gũi như tấm lòng và con người của ông. Mộ có
chiều dài 9,45m rộng 6,35m phần chính mộ đắp hình con lân như những ngôi mộ
người xưa. Trên mộ có tấm bia bằng đá, khắc chữ Hán, nội dung trên bia là bài văn bia
do chính Nguyễn Thông viết : “...Sau khi ta trăm tuổi rồi, hồn phách còn nhớ đến núi
này chăng? hoặc rốt cuộc cũng về chốn không còn gì chăng? Điều đó đều không thể
biết được. Còn như trăng biển, buồm ngư phủ, chòi tiều phu vẽ lạ của khói mây thay
đổi, hình thù của thuồng luồng chập chờn, sau này cảnh đó có thể giúp vào cuộc
thưởng thức của tao nhân du khách vậy.”
Khu lăng mộ cụ Nguyễn Thông đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử năm
1999.
I.2.15. Nhóm đền tháp Chăm PôĐam (Pô Tằm)
Nhóm đền tháp Chăm PôÐam (PôTằm) tọa lạc dưới chân núi có tên là núi Ông
Xiêm thuộc địa phận xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nằm về hướng
Tây Bắc, cách thành phố Phan Thiết khoảng 110
km. Tương tự như nhóm tháp Pôshanư cả về kỹ
thuật xây dựng và nghệ thuật kiến trúc, và có niên
đại nửa cuối thể kỷ VIII đầu thế kỷ IX thuộc
phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lai, một
phong cách kiến trúc cổ trong lịch sử kiến trúc
của Vương quốc Chămpa.
Nhóm đền tháp PôÐam bao gồm 6 tháp,
hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn
hình dạng, còn 3 tháp khác bị sụp đổ và chỉ còn
lại phần đế. Các tháp trong nhóm chia thành hai
Nhóm 8 _DH08DL
15
tranh chấp giữa ta và địch, đã từng bị địch phá một số công trình kiến trúc của đình
làng để làm đồn bốt. Sau ngày giải phóng hầu như chỉ còn những phần chính của đình
thờ Thần, nhà thờ Tiền Hiền, nhà nhóm, còn lại đã bị phá huỷ vĩnh viễn.
Đình Phú Hội hiện còn giữ lại 5 sắc phong do các đời Vua triều Nguyễn phong
tặng cho các vị thần được thờ ở Đình làng. Trong hai cuộc chiến tranh ác liệt dân làng
vẫn giữ được nguyên vẹn cả 5 sắc phong, bởi vậy nhân dân ở đây coi như vật bảo
thiêng liêng của làng và họ giữ gìn hết sức cẩn thận như một cố gắng bảo vệ truyền
thống. Đình làng Phú Hội có giá trị hơn khi hiện nay nó là ngôi đình cổ duy nhất còn
lại trên đất huyện Hàm Thuận.
Đình Phú Hội đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia
năm 1995.
I.2.17. Đền thờ vua Chăm PôKlong MơhNai
Ðối lập với nền nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng tháp Chăm từ thế kỷ XVII trở về
trước, từ thế kỷ XVII trở về những thế kỷ sau khi đất nước bị suy kiệt, nhân tài vật lực
và kỹ thuật bị thất truyền, mà nhu cầu thờ phụng Tổ tiên và tôn giáo vẫn là nhu cầu
Nhóm 8 _DH08DL
16
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
thường trực nên người Chăm chuyển sang xây dựng dạng kiến trúc đền thờ và sử dụng
vật liệu gỗ, ngói, vôi như người Việt và hình dạng kiến trúc như một ngôi chùa đương
thời. Tiêu biểu cho dạng kiến trúc này là đền thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai.
Ðền thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai được
người Chăm xây dựng trên đỉnh đồi cát thuộc
thôn Lương Bình, xã Lương Sơn ở về phía Nam
và cách huyện lỵ Bắc Bình 15km, cách Phan
Thiết gần 50km về hướng Bắc. Ðền thờ được xây
dựng để thờ Vua Chăm Pôklong MơhNai - một
I.2.18. Đền thờ vua Chăm PôNit
Ðền thờ vua Chăm Pô Nít được người Chăm xây dựng giữa thế kỷ XVII với lòng
kính trọng và biết ơn vua có nhiều cống hiến cho đất nước. Ðền thờ tọa lạc trên ngọn
một đồi cát cạnh dòng sông Cái (đoạn nối dài của sông Lũy) đền thờ có dạng như đền
thờ Pôklong MơhNai. Do chiến tranh ác liệt và để tiện việc thờ cúng Ngài, trong
Nhóm 8 _DH08DL
17
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
kháng chiến chống Mỹ đền thờ được dời về vị trí hiện nay thuộc làng Thanh Hiếu, xã
Phan Hiệp, huyện Bắc Bình, cách thành phố Phan Thiết 68 km về phía Bắc.
Ðền thờ xây dựng để thờ Vua Pô Nít và hai Bà
Hoàng Hậu Việt – Chăm, một gian khác thờ một vị
tướng, còn bên ngoài thờ hai dãy tượng Kút lớn ở về
bên Tả và bên Hữu của đền thờ.
Gian thờ bên cạnh có cửa trổ thông với gian
thờ nhà Vua, là nơi đặt tượng Bà Hoàng Hậu người
Chăm Pô Mứk Chà, tượng bà Hoàng Hậu người Việt
(con của một vị chúa Nguyễn) cùng một số tượng
Kút khác tượng trưng cho người đã khuất trong
Hoàng Tộc. Có một gian thờ tách biệt để thờ một
phiến đá tượng trưng cho vị tướng tài Pô Kay Mách người Hồi giáo.
Bên ngoài có nhiều tượng Kút lớn bằng đá tượng trưng cho những người trong
Hoàng tộc với những chi tiết, hình dạng khác nhau của những người được thờ phụng,
nhưng tất cả đều là những tác phẩm điêu khắc có giá trị lịch sử - nghệ thuật.
Ðền thờ Pô Nít nhìn dưới góc độ kiến trúc thì giống như ngôi chùa, nhưng đối
lập với kiến trúc, bên trong nội dung thờ phụng, tượng thờ, nghi thức không kém gì về
nội dung của những thời kỳ hưng thịnh của người Chăm trước kia.
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
Vạn An Thạnh đến nay còn lưu giữ gần 70 bộ xương cốt các loài cá voi. Có thể
coi đây là một bảo tàng Hải dương học với những bộ sưu tập phong phú về cá Voi.
Nhờ có vạn An Thạnh, nơi thờ cúng thần Nam Hải nên ngư dân rất an tâm khi ra khơi
đánh bắt hải sản vì đã có “Ông Nam Hải” phù trợ tránh mọi nguy hiểm trên biển.
Đối với triều Nguyễn tất cả những lăng vạn thờ cá ông đều được tôn trọng, vì
theo sự tin sùng của nhân dân, cá ông đã nhiều lần giúp Nguyễn Ánh thoát nạn trên
biển. Vạn An Thạnh được các vua Triều Nguyễn ban tặng 10 sắc phong. Nội dung các
sắc thần chủ yếu ban tặng “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân” và những “tướng lĩnh” giúp
Nguyễn Ánh thoát nạn trên đảo khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi. Vạn An Thạnh tồn tại
trên 200 năm từ ngày thành lập, gắn liền với lịch sử hình thành Đảo Phú Quý như một
chứng nhân bao đời của lịch sử vùng đảo, ở đó chứa đựng nhiều giá trị vật chất, tinh
thần và cả về tín ngưỡng nghề nghiệp của ngư dân đảo Phú Quý.
Vạn An Thạnh đã được Bộ Van Hoá Thông tin công nhận xếp hạng di tích lịch
sử văn hoá tại quyết định số 51-QĐ/BT ngày 12 tháng 1 nắm 1996.
I.2.20. Vạn Thủy Tú
Vạn Thủy Tú được ngư dân Thủy Tú thiết lập bắt đầu
vào năm Nhâm Ngọ 1762 để thờ Ông (cá voi) với chính
điện, nhà thờ Tiền Hiền, Võ Ca bố trí theo hình chữ Tam
mặt chính quay ra hướng Ðông. Lúc mới xây dựng xong
cửa Vạn sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biển đã dời xa ra
ngoài hơn 100m. Hiện nay Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường
Ngư Ông, phường Ðức Thắng, thành phố Phan Thiết.
Vạn Thủy Tú từ ngày xưa dựng xong đến nay đã chứa
gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Quá
nửa có niên đại trên 100 - 150 năm, trong đó có những bộ
xương to lớn được thờ phụng tôn nghiêm và đây cũng là nơi lưu trữ bộ xương cá voi
lớn nhất Việt Nam.
Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất rộng, dùng để mai táng cá Ông mỗi khi
ông "lụy" và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng xong, sau 3 năm mới được thương cốt,
I.3. Các danh lam thắng cảnh
I.3.1. Bàu Trắng
Bàu Trắng là hồ nước ngọt, trước đây thuộc xã Bình Nhơn, huyện Hoà Đa, tỉnh
Bình Thuận, nay thuộc thôn Hồng Lâm, xã Hoà Thắng, huyện Bắc Bình cách Phan
Thiết khoảng 65 km về hướng Đông Bắc.
Bàu Trắng hình thành từ lâu đời, nằm ở giữa vùng đồi cát rộng mênh mông xen
lẫn nhiều nhóm cây rừng thấp. Nước trong hồ rất ngọt và trong. Từ xa nhìn lại một
màu xanh mát dịu phủ lên những đồi cát trắng. Bàu Trắng chia thành 2 phần bởi một
đồi cát vắt ngang qua. Nhân dân ở đây từ xưa đã gọi là Bàu Ông và Bàu Bà, mặc dầu
Bàu nước do thiên nhiên tạo nên nhưng trong dân gian vẫn tỏ lòng biết ơn vì đã cung
cấp nguồn nước nuôi sống con người và động vật
rừng ở đây vào mùa khô.
Sách cũ viết về Bàu Trắng “ hồ Trắng có hai
hồ, hồ trên và hồ dưới, ở phía Tây Nam huyện
Hoà Đa, phiá Tây Ba động. Hồ trên chu vi 22
dặm lịch, nước trong, ngọt, bốn mùa không giảm.
Phía Tây Bắc là động cát, phía Tây Nam là chân
rừng, trên bờ phía Nam có đền thờ Chúa Động”
Nơi sâu nhất của Bàu Trắng là 19m và cạn
dần về phía bờ. Quanh bờ có nhiều bông sen, vào
mùa hạ sen nở rộ tô điểm thêm cho vùng cát trắng những màu sắc rực rỡ. Bàu Trắng là
nơi có nguồn nước ngọt tự nhiên duy nhất ở xã Hoà Thắng và khu căn cứ cách mạng
Lê Hồng Phong, như một bầu sữa lớn nuôi bộ đội và nhân dân Hoà Thắng trong 2 thời
kỳ kháng chiến.
Đã từ lâu đời, xung quanh Bàu Trắng đã có nhiều làng mạc của người Chăm xưa
sinh sống và sử dụng nguồn nước trong hồ. Người Chăm đã dựng Đền thờ thờ nữ thần
Thiên Y Ana. Khi người Chăm rời bỏ khu vực này đi nơi khác, ngôi đền cũng bị sụp
đổ và hiện còn lại dấu tích ở phía Nam Bàu Trắng là dấu tích của một giai đoạn lịch
sử về sự chinh phục thiên nhiên của người Chăm ở đây trước khi người Việt đến.
Bàu Trắng không chỉ là nơi cung cấp nước ngọt mà còn là thắng cảnh đẹp ở khu
Kế thừa sự tín ngưỡng của người Chăm xưa, người Việt sau khi tiếp quản Cù Lao
Câu đã đóng góp công, của xây dựng tại Đảo một đền thờ để thờ thần Nam Hải (cá
voi) - vị thần mà theo tín ngưỡng của ngư dân rất linh thiêng và có nhiều lần cứu nguy
cho ngư dân làm ăn trên biển bị nạn. Rất tiếc đến nay không ai biết ngôi đền do ai xây
dựng vào thời nào nhưng phong tục tập quán và sự tín ngưỡng vị thần trong ngôi đền
vẫn được giữ gìn, lưu truyền và thờ phụng một cách trang nghiêm từ xưa đến nay.
Lễ cúng lớn nhất ở Đền thờ thần Nam Hải trên Cù lao Câu là vào dịp rằm và 16
tháng Tư âm lịch hàng năm và tổ chức hát chèo bả trạo để tế Ngài.
Xung quanh đảo nước trong xanh, khi thủy
triều xuống bờ biển làm lộ ra vô vàn vỏ ốc, vỏ sò
đẹp làm say mê nhiều du khách. Quanh đảo có
nhiều loại hải sản sinh sống, mà người giỏi nghề
biển với dụng cụ đơn giản có thể kiếm được thức
ăn tươi. Trên đảo có giếng cạn để lấy nước ít
nhưng đó là dạng nước nhỉ nên có thường xuyên
– sách xưa gọi là Giếng Tiên.
Hiện nay Cù Lao Câu được quy hoạch làm khu
bảo tồn sinh vật biển, trong tương lai hưá hẹn
nhiều triển vọng về du lịch sinh thái.
I.3.3. Hải Đăng Khe Gà
Hải Ðăng Khe Gà được xây dựng trên đỉnh đảo Khe Gà, đảo có diện tích 5 ha ở
vùng biển xã Tân Thành, trước thuộc huyện Hàm Tân, nay thuộc huyện Hàm Thuận
Nam, cách Phan Thiết khoảng 30 km về phía Ðông Nam.
Nhóm 8 _DH08DL
21
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
tháp (chân tháp) 2,60m. Chiều dày tường tháp từ chân tháp đến độ cao 6m là 1,6m,
càng lên cao độ dày càng giảm từ 1,50m và mỏng nhất ở đỉnh tháp là 1m. Trên ngọn
tháp có bóng đèn lớn 2000 W làm tín hiệu hướng dẫn tàu bè qua lại.
Ngoài ngọn Hải Ðăng còn có một căn nhà lớn hình vuông mỗi cạnh 40m, dưới
nhà là một hầm chứa nước sâu 3m, trước nhà có một giếng gọi là giếng Tiên. Từ dưới
mép nước biển đến Hải Ðăng hàng chục bậc tam cấp. Hai hàng hoa sứ dọc theo lối đi
và xung quanh chân Hải Ðăng do người Pháp trông từ cuối thế kỷ trước đến nay còn
nguyên, toả bóng mát quanh năm. 184 bậc thang xoáy ốc bằng thép dẫn đến đỉnh Hải
Ðăng cùng hàng chục bậc tam cấp dẫn lên đến đỉnh đèn, tất cả đều được đưa từ Pháp
sang, kể cả ngọn đèn trên đỉnh, máy phát điện. Hiện nay hòn đảo Khe Gà và ngọn Hải
Ðăng đã và đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn với du khách. Bởi Hải Ðăng Khe Gà
vừa là thắng cảnh vừa là di tích kiến trúc độc đáo.
I.3.4. Hòn Bà
Hòn Bà là một hòn đảo nhô cao lên giữa biển, cách bờ biển Lagi huyện Hàm Tân
gần 2 cây số về hướng Ðông. Cách Phan Thiết khoảng 70 km về phía Ðông Nam.
Nhóm 8 _DH08DL
22
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
Hòn Bà là ngọn núi trẻ, trên núi có nhiều cây cổ thụ
lớn. Nửa đầu thế kỷ XVII người Chăm đã dựng lên một
ngôi đền để thờ nữ Thần Thiên Y Ana vị Thần thiêng
liêng của vương quốc Chămpa cổ. Cũng từ đây hòn đảo
có tên là Hòn Bà. Ngôi đền thờ có kết cấu kiến trúc và
trang trí nghệ thuật giống như ngôi miếu của người Việt
cùng thời. Trong ngôi đền thờ, tượng nữ Thần Thiên Y
Ana bằng đá, được các nghệ nhân Chăm tạc từ một khối
đá nguyên tại chỗ. Việc thờ tượng Bà ở trên đỉnh Hòn Bà
Nhóm 8 _DH08DL
23
Tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ
II.1. Điều kiện tự nhiên
Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, phía bắc giáp Khánh
Hoà, phía tây giáp Lâm Đồng, phía nam giáp Bình Thuận và phía đông giáp biển
Đông.
II.1.1. Địa hình
Ninh Thuận được bao bọc 3 mặt là núi: phía bắc và phía nam tỉnh là 2 dãy núi
cao nhô ra sát biển, phía tây là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng. Địa hình có 3 dạng:
miền núi, đồng bằng, vùng ven biển. Tỉnh có 2 hệ thống sông chính: hệ thống sông
Cái, bao gồm các sông nhánh như sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông La, sông
Quao... và hệ thống các sông suối nhỏ phân bố ở phía bắc và nam tỉnh như sông Trâu,
sông Bà Râu.
II.1.2. Khí hậu
Ninh Thuận nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất nước, khí hậu nhiệt đới gió
mùa với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều và bốc hơi mạnh, không có mùa đông.
Nhiệt độ trung bình năm 27ºC, lượng mưa trung bình 705mm và tăng dần theo độ cao
lên đến 1.100mm ở vùng miền núi. Một năm ở đây có 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
II.2. Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Ninh Thuận đang hình thành các vùng sản xuất chuyên canh như: nho, thuốc lá,
mía, đường, bông, hành, tỏi và nuôi trồng thủy sản. Ninh Thuận là một trong số các
ngư trường lớn của nước ta.
Ninh Thuận là một bức tranh hài hoà giữa đồng bằng, đồi núi và biển cả. Nằm
trong cụm du lịch quốc gia thuộc tam giác Đà Lạt - Nha Trang - Phan Rang, Ninh
Thuận có vườn quốc gia Núi Chúa và nhiều thắng cảnh đẹp như: bãi biển Ninh Chữ,
trước đây gồm có 3 tháp, nhưng còn lại 2 tháp là tháp Bắc và
tháp Nam.
Tháp Bắc có 4 trụ bổ tường, mỗi trụ được trang trí rất
đẹp, phía dưới các trụ còn thể hiện những mảng điêu khắc đẹp
và hình tượng chim Garuda giang rộng cánh. Trên mỗi đầu các
trụ bổ của các mái chìa có các diềm mũ để trang hoàng. Các
cửa giả được trang trí với những vòng cung và những hình người được thể hiện trong
tư thế ngồi. Hình thức trang trí ở tháp Nam đơn giản hơn, cũng có 4 trụ bổ tường với
những đường nét bên dưới và những diềm mũ với các hoa văn trang trí ở mái chìa, các
cửa giả được trang trí vòng cung lớn nhưng không tỉ mỉ như tháp Bắc. Tháp có 3 tầng
mái, mỗi tầng có một hốc giả trang trí bởi các vòng cung. Các tháp này sau một thời
gian dài bỏ phế, người Chăm đã không cúng bái. Nay tháp đang được trùng tu và bảo
quản.
II.3.2. Tháp Pôrômê
Vị trí: Tháp Pôrômê thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh
Ninh Thuận.
Đặc điểm: Tháp Pôrômê được coi là một bản sao không hoàn hảo của tháp Pôklông
Garai. Công trình là một tổng thể hai tháp: tháp chính thờ vua Pôrômê và tháp phụ thờ
Hoàng Hậu.
Tháp Pôrômê toạ lạc trên một ngọn đồi cao, cách thành phố Phan Rang – Tháp
Chàm 15km về phía Nam. Tháp được xây dựng ở đất Champa vào cuối thế kỷ 16 đầu
thế kỷ 17. Mặt chính của tháp quay về hướng đông, trên cửa chính có các tầng hình
vòng cung, dưới các hình vòng cung được trang trí
bởi hình tượng thánh Siva và hình ngọn lửa, ở các
cửa giả có hình các vị thần bằng đá trong tư thế
ngồi, khuôn mặt các vị thần mang đậm nét bản địa.
Tháp có ba tầng mái tuân theo mẫu cổ, mỗi tầng có
4 tháp góc, trên đỉnh mỗi tháp góc có trang trí búp
sen bằng đá và hình ngọn lửa trang trí ở 4 góc.
Trong mỗi hốc giả là hình ảnh một vị thần đang ngồi