Hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐỖ THANH HIỀN

HOẠT ĐỘNG DU LỊCH QUỐC TẾ
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà Nội - 2010


MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Mở đầu
i
ii
1
Chƣơng 1: Du lịch quốc tế - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
5
1.1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch quốc tế
5
1.1.1. Các khái niệm về du lịch quốc tế
6
1.1.2. Bản chất của du lịch quốc tế
8
1.1.3. Các loại hình du lịch quốc tế
10
1.2. Vai trò của hoạt động du lịch quốc tế trong sự phát triển của mỗi quốc gia
13
1.2.1. Về mặt kinh tế
13
1.2.2. Về mặt văn hoá - xã hội
15
1.2.3. Một số tác động khác
17
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch quốc tế trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế
19
1.4. Phát triển du lịch của một số nước và bài học kinh nghiệm
2.2.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch quốc tế
55
2.2.2. Hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam
58
2.2.2.1. Những đặc điểm chung của thị trường du lịch quốc tế ở Việt Nam
58
2.2.2.2. Khả năng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế của ngành
du lịch Việt Nam
76
2.2.3. Hoạt động đầu tư phát triển du lịch quốc tế ở Việt Nam
82
2.3. Đánh giá về du lịch quốc tế ở Việt Nam
84
2.3.1. Điểm mạnh
84
2.3.2. Điểm yếu
87
2.3.3. Những thách thức
88
2.3.4. Những cơ hội
90
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch quốc tế ở
Việt Nam
92
3.1. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển du lịch quốc tế
92
3.1.1. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
92


3.3.7. Coi trọng bảo vệ môi trường cảnh quan du lịch
115
3.3.8. Phát triển du lịch phải đi đôi với đảm bảo an ninh quốc gia và giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc
117
3.3.9. Xác định chương trình đầu tư có trọng điểm
118
3.3.10. Một số giải pháp khác
120
Kiến nghị
123
Kết luận
128
Tài liệu tham khảo
129
Phụ lục
132

i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT
KÝ HIỆU
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
Greater Mekong Subregion
Tiểu vùng Mekong mở rộng
7
PATA
Pacific-Asia Tourism
Association
Hiệp hội du lịch châu Á - Thái
Bình Dương
8
SARS
Severe Acute Respiratory
Syndrome
Hội chứng hô hấp cấp tính nặng
9
UNESCO
United Nations Educational,
Scientific and Cultural
Organization
Tổ chức giáo dục, khoa học và
văn hóa Liên hiệp quốc
10
TAT
Tourism Authority of Thailand
Cơ quan du lịch Thái Lan
11
UNWTO
World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch thế giới
12
EWEC

Bảng 2.4
Dự báo nhu cầu lao động của du lịch trong cả nước đến năm 2020
47
Bảng 2.5
Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thời kỳ 1986-1989
60
Biểu đồ 2.1
Số lượt khách du lịch vào Việt Nam qua các năm 1995-2009
63
Biểu đồ 2.2
Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế của Việt Nam qua các
năm 1995-2008
64
Biểu đồ 2.3
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam qua các năm 1995-2008
65
Biểu đồ 2.4
Khách du lịch đến Việt Nam chia theo phương tiện qua các năm
1995-2008
66
Biểu đồ 2.5
Khách du lịch đến Việt Nam chia theo mục đích
67 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của con người ngày càng
được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần. Mọi người đều có nhu cầu được vui chơi,

Nam là một đòi hỏi vô cùng cấp thiết. Đảng và Nhà nước nói chung và các doanh
nghiệp lữ hành nói riêng không có những giải pháp phù hợp, đúng đắn, không đủ khả
năng cạnh tranh ở thị trường nội địa sẽ càng khó tiếp cận với thị trường quốc tế. Do
đó, đề tài “Hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hệ thống lý
luận căn bản của du lịch, cũng như những sách chuyên khảo về tình hình hoạt động
kinh doanh du lịch của học giả nhiều nước trên thế giới như: Tourism - A new
perspective của Burn Peter và Holden Andrew; cuốn An introduction to travel and
tourism của Foster Dennis; The tourism system của Robert Christine
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, các nhà nghiên cứu du lịch của Việt
Nam đã có một số công trình nghiên cứu về môn khoa học này như: Nhập môn khoa học
du lịch - Trần Đức Thanh, quyển sách này đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về du lịch
chứ không đề cập đến những giải pháp để phát triển du lịch; Nghệ thuật hướng dẫn du
lịch - Nguyễn Cường Hiền; Thị trường du lịch - PTS. Nguyễn Văn Lưu; Du lịch và
khách sạn - Sơn Hồng Đức nghiên cứu về du lịch nói chung và những vấn đề liên quan
đến khách sạn trong du lịch nói riêng; Du lịch và kinh doanh du lịch - Trần Nhạn; Kinh
tế du lịch - TS. Nguyễn Hồng Giáp nghiên cứu du lịch dưới góc độ kinh tế.
Tổ chức Du lịch thế giới, UNDP và Viện nghiên cứu phát triển Du lịch (1991) -
Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam, Dự án VIE/89-003. Dự án phân tích về
khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam, từ đó đưa ra kế hoạch chỉ đạo nhằm phát
triển du lịch của Việt Nam, nhưng với sự phát triển du lịch hiện nay, một số giải pháp
không còn mang tính thời sự. Tổng cục lữ hành quốc tế (2001) - Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010. Chiến lược đã nêu lên một cách khá toàn diện
hiện trạng của lữ hành quốc tế Việt Nam, từ đó phân tích các điểm còn tồn tại và đưa
ra các chiến lược để phát triển ngành lữ hành quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn
2001-2010, trong đó có hoạt động lữ hành quốc tế.
Một số bài báo, tạp chí chuyên ngành, đề tài khoa học của các trường Đại học

- Đề tài giới hạn nghiên cứu hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam với việc đưa
khách du lịch Inbound, không nghiên cứu du lịch nội địa. 4
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam từ
năm 1990, chủ yếu từ năm 2000 đến nay. Một số giải pháp ngắn hạn và trung hạn
(2010-2015) và một số giải pháp có thể kéo dài thêm vài năm phù hợp với Chiến lược
phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và định hướng tới năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn dựa trên phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp so
sánh, phương pháp phân tích dự báo, phương pháp phỏng vấn chuyên gia và một số
phương pháp khác.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về du lịch, du lịch quốc tế, phân tích những ảnh
hưởng của du lịch quốc tế với sự phát triển của mỗi quốc gia.
- Đánh giá cơ bản về thực trạng hoạt động của du lịch quốc tế ở Việt Nam, nêu bật
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động
du lịch quốc tế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tác giả hy vọng nghiên
cứu này sẽ là tài liệu tham khảo cho bạn đọc quan tâm, góp phần giúp các nhà hoạch
định chính sách đưa ra biện pháp hiệu quả nâng cao hoạt động du lịch quốc tế ở Việt
Nam, thúc đẩy ngành Du lịch Việt Nam hội nhập nhanh chóng vào Du lịch thế giới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Du lịch quốc tế - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động du lịch quốc tế của Việt Nam
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch quốc tế ở Việt Nam

cầu. Đến cuối thời Trung cổ, du lịch được tiến hành một cách có tổ chức. Ở thời kỳ
diễn ra những hoạt động của các nhà thám hiểm nổi tiếng như Macro Polo và
Christopher Columbus, du lịch ngày càng phát triển. Trong thế kỷ XX, việc phát minh
xe ôtô và đường xá sử dụng được trong mọi thời tiết đã khiến du lịch tăng trưởng vượt
bậc. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, việc phát minh máy bay phản lực, nhất là 6
loại thân rộng và việc thiết lập các chuyến bay quốc tế đã làm cho hàng triệu người có
thể đi du lịch nhanh chóng. Các du thuyền, xe buýt có trang thiết bị tân tiến, tàu hoả
hiện đại, khách sạn và các khu nghỉ dưỡng đã cung cấp cho du khách các phương tiện
vận chuyển, cơ sở lưu trú đầy hấp dẫn và đầy đủ tiện nghi. Do đó, ngành du lịch quốc
gia và du lịch quốc tế đã có bước phát triển vượt bậc.
Trong lịch sử nhân loại, từ khá sớm, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích,
một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một
nhu cầu quan trọng trong đời sống văn hoá - xã hội của các nước. Du lịch đã trở thành
một trong những ngành kinh tế quan trọng - ngành công nghiệp du lịch của nhiều nước
công nghiệp phát triển. Đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là một trong
những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
1.1.1. Các khái niệm về du lịch quốc tế
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến không
chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Du lịch là một hiện tượng phức tạp. Nó liên quan đến hoạt động nghỉ ngơi của
con người cũng như các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó. Trong quá trình phát
triển, nội dung của khái niệm du lịch không ngừng mở rộng. Thuở ban đầu, du lịch
được hiểu đơn thuần là các chuyến đi xa ra khỏi nơi cư trú để thoả mãn nhu cầu nâng
cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Sau này, các nhà truyền giáo, các quan chức Nhà
nước, các nhà thể thao, những người hâm mộ cũng có được những kết quả ấy sau các
chuyến đi. Vì lẽ đó, khái niệm du lịch ngày càng được hiểu rộng hơn.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp

Tổ chức du lịch thế giới (WTO) cũng đưa ra khái niệm được Liên hợp quốc công
nhận như sau: Du khách quốc tế (International tourist) là người lưu trú ít nhất một
đêm, nhưng không vượt quá một năm, tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú.
Du khách có thể đến với nhiều lý do khác nhau, không lĩnh lương nơi đến.
Ở Việt Nam, theo Điều 20, chương IV Pháp lệnh Du lịch, những người được
thống kê là du khách quốc tế phải có các tiêu chí cơ bản sau:
- là người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam
du lịch
- là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du
lịch.
Mục đích chuyến đi của họ là thăm quan, thăm thân, tham dự hội nghị, khảo sát
thị trường, công tác, chữa bệnh, thể thao, hành hương, nghỉ ngơi 8
Khách thăm quan: là một loại khách đến với mục đích nâng cao nhận thức tại chỗ
có kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất hay dịch vụ, song không lưu
lại qua đêm tại một cơ sở lưu trú của ngành du lịch.
Du khách: là người từ nơi khác đến với/hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại
chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/hay của
cộng đồng xã hội. Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các
doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống
Do du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một lĩnh vực kinh tế với
đối tượng phục vụ là người đi du lịch nên việc thống nhất khái niệm du khách là một
nhu cầu tất yếu. Ngoài mục đích nắm được doanh thu, giúp cơ quan quản lý xác định
được nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp du lịch, việc thống nhất và chuẩn
hoá định nghĩa du khách còn có ý nghĩa làm cho du lịch Việt Nam nhanh chóng hội
nhập vào hoạt động thống kê du lịch khu vực và quốc tế.
Khái niệm du lịch vẫn đang là đối tượng nghiên cứu và thảo luận của nhiều nhà
khoa học, nhiều hội nghị cấp quốc gia và quốc tế nhưng phần lớn các nhà khoa học

khí hậu, thổ nhưỡng, sông ngòi, hang động ). Từ đó, các nước này hoạch định chiến
lược phát triển du lịch, đầu tư xây dựng thiết bị cơ sở hạ tầng tương ứng như sân bay,
bến cảng, đường sá, khách sạn, phương tiện vận chuyển nhằm tạo ra những sản
phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn.
- Sản phẩm du lịch quốc tế
Nhà nghiên cứu kinh tế học người Mỹ J. Krippendort trong tác phẩm "Marketing
và du lịch" đã chia sản phẩm du lịch thành 4 nhóm thành phần: thành phần tự nhiên,
những hoạt động của con người, hạ tầng cơ sở, trang thiết bị du lịch.
Tuy nhiên, một trong những cách sắp xếp tài nguyên đầy đủ nhất của Tổ chức Du
lịch thế giới lại xoay quanh 7 mặt quan trọng, đó là: di sản tự nhiên; di sản năng lượng;
di sản con người; những hình thái về thiết chế, chính trị; những hình thái xã hội; những
dịch vụ, phương tiện vận chuyển, trang thiết bị; những hoạt động kinh tế tài chính.
Dù sản phẩm du lịch hay sản phẩm du lịch quốc tế được sắp xếp theo nguyên tắc
nào, để đạt được hiệu quả kinh doanh, để có được một sản phẩm du lịch quốc tế đạt chất
lượng cao đòi hỏi người thực hiện chương trình du lịch có khả năng ngôn ngữ và am
hiểu sâu sắc giá trị văn hoá, giá trị thiên nhiên và phương pháp tổ chức các đoàn du lịch.
- Tìm kiếm thị trường quốc tế
Để đạt được hiệu quả kinh doanh du lịch, những người làm công tác du lịch quốc
tế luôn đặt mục tiêu hàng đầu là tìm hiểu và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của du khách
quốc tế. Đó là việc tạo ra những sản phẩm du lịch phản ánh được giá trị văn hoá, giá trị 10
tinh thần tại địa điểm nơi du khách đến. Thoả mãn được nhu cầu của du khách, người
làm công tác du lịch đã thành công trong việc thu hút du khách đến từ các quốc gia
khác nhau, từ đó nâng cao khả năng mở rộng thị trường, tạo tiền đề tìm kiếm thị
trường mới.
- Tỷ lệ khách du lịch quốc tế
Tỷ lệ lớn khách du lịch quốc tế đến một nước nào đó phản ánh nước đó có một
nền kinh tế du lịch phát triển. Điều thu hút nhiều du khách quốc tế đến thăm quan một

+ Du lịch nghỉ dưỡng: thường cách xa những thành phố lớn (ở vùng biển, vùng
núi, thôn quê, ven sông, hồ…). Đặc điểm của hình thức du lịch này là khách du lịch
cần đến những nơi yên tĩnh, không khí trong lành, khí hậu tương đối tốt để nghỉ dưỡng
nhằm phục hồi sức khoẻ. Đó là nhu cầu cơ bản của cuộc hành trình du lịch, ngoài ra
khách du lịch còn có một số nhu cầu khác như thăm quan, tìm hiểu.
+ Du lịch chữa bệnh: căn cứ vào nhu cầu của khách du lịch về điều trị các loại
bệnh và bằng những phương pháp điều trị khác nhau, người ta có thể phân ra: chữa
bệnh bằng nước khoáng, bùn, nước biển, hoa quả… Trong thực tế khi xây dựng các
khu du lịch phục vụ nhu cầu chữa bệnh thường kết hợp nhiều loại phương pháp chữa
bệnh khác nhau tại các điểm.
+ Du lịch thăm quan: mục đích của cuộc hành trình là thăm quan, tìm hiểu các di
tích lịch sử, công trình kiến trúc, văn hoá, danh lam thắng cảnh… Đặc điểm của hình
thức du lịch này là thời gian lưu lại của khách tại các cơ sở du lịch rất ít và đi thăm
quan nhiều điểm du lịch. Thông thường loại du lịch này thường được kết hợp với du
lịch nghỉ dưỡng, du lịch công vụ.
+ Du lịch công vụ: mục tiêu cơ bản của cuộc hành trình này là thực hiện công vụ
tại nước ngoài (trừ trường hợp đi ra nước ngoài để tìm nơi cư trú). Trong hình thức du
lịch này còn có thể phân ra thành du lịch hội nghị, du lịch ngoại giao…
+ Du lịch thể thao: có 2 hình thức: du lịch thể thao chủ động bao gồm những vận
động viên ra nước ngoài để tham dự thi đấu thể thao quốc tế như Olimpic, thế vận hội
khu vực, bóng đá quốc tế… du lịch thể thao thụ động gồm những người ra nước ngoài
để thưởng thức các cuộc thi đấu thể thao quốc tế.
+ Du lịch tôn giáo: mục đích là thăm quan những cơ sở tôn giáo (nhà thờ, chùa,
miếu, đền…) và các hội tôn giáo…
+ Một số loại hình khác như: Du lịch giải trí, Du lịch khám phá, Du lịch lễ hội,
Du lịch nghiên cứu (học tập), Du lịch thăm thân, Du lịch kinh doanh


lịch ở nước ngoài. 13
+ Du lịch cá thể có tổ chức: là trường hợp cá nhân có mục đích riêng, đi du lịch
nước ngoài, họ đến các tổ chức kinh doanh du lịch nhờ giúp đỡ tổ chức chuyến đi từ
khâu đầu đến khâu cuối, hoặc tổ chức từng khâu.
+ Du lịch theo đoàn và du lịch cá thể không có tổ chức: khách du lịch không sử
dụng các dịch vụ của tổ chức kinh doanh du lịch mà tự mình lo tất cả.
Việc phân loại du lịch còn có nhiều tiêu chuẩn khác nhau tuỳ theo giác độ nghiên
cứu. Cũng như trình bày ở phần nội dung của khái niệm du lịch, để phát triển du lịch
quốc tế đòi hỏi phải xem xét điều kiện cụ thể của đất nước, của từng vùng hay địa
phương thích ứng với những loại du lịch nào trên cơ sở đó tổ chức xây dựng cơ sở vật
chất chuyên ngành, tổ chức bộ máy kinh doanh và quản lý kinh doanh một cách hợp lý
nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Có thể nói rằng đây là cơ sở để xây dựng “sản
phẩm” du lịch bán ra thị trường du lịch quốc tế cũng như thị trường du lịch nội địa.
1.2. Vai trò của hoạt động du lịch quốc tế trong sự phát triển của mỗi quốc gia
Ngày nay, du lịch quốc tế đã trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Du
lịch quốc tế còn là phương tiện giao lưu văn hoá, tăng cường hội nhập, nâng cao dân
trí, tác động trực tiếp tới chương trình xoá đói giảm nghèo, góp phần cân bằng cán cân
thanh toán, là cầu nối hữu nghị, phương tiện gìn giữ hoà bình và hợp tác giữa các quốc
gia, dân tộc. Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới đất nước, du lịch nói chung và du
lịch quốc tế nói riêng đã đạt được những thành quả bước đầu quan trọng, ngày càng
phát triển cả về quy mô và chất lượng, đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX
xác định: “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”.
1.2.1. Về mặt kinh tế
Hội đồng Lữ hành và du lịch quốc tế - WTTC (World Travel and Tourism
Council) đã công bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành
sản xuất ôtô, thép, điện tử và nông nghiệp. Đối với một số quốc gia, du lịch quốc tế là
nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất của đất nước. Tại nhiều quốc gia khác, du lịch là

kinh tế quốc tế. Trong kinh doanh du lịch quốc tế, khách du lịch có thể là thương nhân,
chuyến du lịch cũng là dịp để họ có thể tìm hiểu môi trường đầu tư, tìm hiểu thị
trường. Vì thế, thông qua hoạt động du lịch sẽ góp phần thúc đẩy các mối quan hệ kinh
tế quốc tế.
Thứ hai, du lịch quốc tế thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Vì vậy, trước hết, hoạt động kinh doanh
du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành hay nói cách khác là sự hợp tác cùng phát triển với
các ngành kinh tế khác. Nhu cầu tiêu dùng của khách du lịch khi đến các điểm du lịch
là rất lớn và đa dạng. Các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của du khách cần có sự tham 15
gia của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Thông qua du lịch, một số
lượng lớn sản phẩm của các ngành: nông nghiệp, công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, xây
dựng, giao thông vận tải… được tiêu thụ. Du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế luôn đòi
hỏi những hàng hoá có chất lượng cao, phong phú về chủng loại và đó là động lực thúc
đẩy nhiều ngành kinh tế phát triển, làm cho sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng và
hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách quốc tế.
Qua phân tích cho thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế
khu vực. Nhiều nước trên thế giới coi du lịch nói chung, du lịch quốc tế nói riêng là cứu
cánh để mong muốn vực dậy nền kinh tế ốm yếu của mình. Người Pháp coi du lịch là
con gà đẻ trứng vàng cũng chính vì các tác động này. Tuy nhiên, về mặt kinh tế, du lịch
quốc tế cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực. Rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ
hay giá cả hàng hóa tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi tiêu của người dân địa
phương, nhất là của những người mà thu nhập của họ không liên quan đến du lịch.
1.2.2. Về mặt văn hoá - xã hội
Mục đích của sự phát triển kinh tế của bất cứ ngành nào trong xã hội suy cho
cùng là nhằm đạt đến một hiệu quả xã hội nhất định.
Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức
sống cho người dân. Trong một chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh

nên sôi động hơn, các nền văn hoá có điều kiện hoà nhập với nhau, làm cho đời sống
văn hoá tinh thần của con người trở nên phong phú hơn.
Trong thời đại hiện nay, việc làm là một trong những vấn đề vướng mắc nhất của
các quốc gia. Phát triển du lịch quốc tế được coi là một lối thoát lý tưởng để giảm bớt
tình trạng thất nghiệp, nâng cao mức sống cho người dân.
Đối với nhiều người, du lịch quốc tế được nhìn nhận như một ngành kinh doanh
dễ làm, dễ đem lại lợi nhuận. Vì vậy, xu hướng chuyển đổi hay chuyển hướng sang
kinh doanh du lịch là một động cơ tốt để mọi người trau dồi, bổ sung các kiến thức cần
thiết như ngoại ngữ, giao tiếp, văn hoá…
Bản chất của hoạt động du lịch là giao lưu, tiếp xúc giữa các cá thể, các cộng
đồng có thế giới quan không phải luôn luôn đồng nhất. Quá trình giao tiếp này cũng là
môi trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng.
Nạn nghiện hút, mại dâm, trộm cướp không phải có nguồn gốc từ du lịch, trước khi du
lịch phát triển, nó đã tồn tại với các mức độ khác nhau, nhưng không thể phủ nhận
rằng hoạt động du lịch làm cho các tệ nạn xã hội này gia tăng đáng kể. Hơn nữa, do có
những dị biệt về tôn giáo, văn hoá, chính trị nên có thể xảy ra sự hiểu lầm, thậm chí
dẫn đến hiềm khích, tạo sự căng thẳng giữa chủ và khách. Theo thời gian, quan hệ tình 17
cảm giữa du khách và người dân địa phương ngày càng trở nên nguội lạnh, thay vào
đó là quan hệ buôn bán. Bên cạnh đó, du lịch là con đường mà các thế lực phản động
thường hay sử dụng để tuyên truyền, kích động, đội lốt du khách để thâm nhập sâu vào
nước đến để móc nối, xây dựng cơ sở.
1.2.3. Một số tác động khác
Trước hết, phải khẳng định du lịch quốc tế là chiếc cầu nối hoà bình giữa các dân
tộc trên thế giới. Hoạt động du lịch quốc tế giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn,
hiểu hơn về giá trị văn hoá của đất nước bạn. Một ví dụ tiêu biểu về giá trị của du lịch
quốc tế đối với hoà bình là các chuyến du lịch thăm lại chiến trường xưa của các cựu
chiến binh Pháp, Mỹ. Khi quay trở lại chiến trường xưa, tận mắt nhìn thấy những

động du lịch ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch tự nhiên. Sự tập trung
quá nhiều người và thường xuyên tại địa điểm du lịch làm cho thiên nhiên không kịp
phục hồi, đi đến chỗ bị huỷ hoại và hơn nữa, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống
một số loài vật hoang dã, đẩy chúng ra khỏi nơi cư trú yên ổn trước đây để đi tìm nơi ở
mới.
Sau gần 30 năm đổi mới, ngành du lịch Việt Nam đã vượt qua khó khăn, huy
động nội lực và tranh thủ nguồn lực quốc tế để nâng cao năng lực hoạt động, thay đổi
diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc
dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục môi
trường, xu hướng hoà bình trên thế giới.
Trong tiến trình hội nhập, du lịch Việt Nam đã thiết lập quan hệ và mở rộng hợp
tác với nhiều tổ chức du lịch quốc tế, tích cực tham gia các diễn đàn, các chương trình
hợp tác trong và ngoài khu vực. Kết quả hoạt động hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đa
phương và song phương trong du lịch đã góp phần thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt,
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã
mở thêm nhiều cơ hội cho du lịch phát triển. Hoạt động du lịch rất sôi động, có bước
phát triển vượt bậc nhưng vẫn giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Du
lịch Việt Nam đã nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với các nước có ngành du lịch
phát triển trong khu vực, mang lại hiệu quả nhiều mặt, thu hút lao động, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nguồn giá trị mới và nguồn thu cho đất nước, góp
phần tích cực vào công cuộc đổi mới, hội nhập khu vực và thế giới. Với những thành
tựu đã đạt được, có thể khẳng định du lịch Việt Nam xứng đáng với vị trí là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Trích đoạn Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển du lịch quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Kinh nghiệm của một số nước Bài học kinh nghiệm Coi trọng bảo vệ môi trường cảnh quan du lịch Xác định chương trình đầu tư có trọng điểm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status