1
ĐẶT VÂN ĐỀ
1- Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp nhiều
loại sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn của nền kinh
tế, cung cấp nguồn nhân lực và tạo nên tích luỹ ban đầu cho phát triển đất nước.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong sự
phát triển kinh tế. Hầu hết các nước phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo sản
lượng lương thực, thực phẩm cần thiết đủ để nuôi sống dân tộc mình và tạo nền
tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế phát triển.
Việt nam là một nước nông nghiệp có điểm xuất phát thấp, với trên 70%
dân số sống ở nông thôn và khoảng gần 50% lao động xã hội làm việc trong
nông nghiệp, năng suất khai thác ruộng đất và năng suất lao động còn thấp….Để
giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng với nước ta.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một bộ phận cấu thành rất quan trọng của
cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội nước ta. Xây dựng cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp
phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế nước ta không những là mục tiêu, mà còn
là yêu cầu cấp thiết đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo dựng một ngành nông
nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, phát
triển nền nông nghiệp sản suất hàng hóa lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân. Do đó, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như từng địa
phương là hết sức cần thiết.
Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động
mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Việc sử dụng đất nông nghiệp có
hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhằm
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
nâng cao hiệu quả sử dụng đất
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Khái niệm cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu được dùng để chỉ cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố
tạo nên một hình thể, một vật hay một bộ phận.
Sự phát triển của sản xuất dẫn đến quá trình phân công lao động xã hội.
Tuỳ thuộc vào tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật mà chia thành từng
ngành, lĩnh vực khác nhau. Nhưng trong nền sản xuất, các ngành, lĩnh vực này
không thể hoạt động một cách độc lập mà phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau,
hỗ trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Từ đó đòi hỏi nhận thức đầy đủ về mối
quan hệ giữa các bộ phận. Sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống
thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế.
Theo Các Mác: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật
chất”.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành,
các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối
quan hệ hữu cơ tương đối ổn đinh giữa chúng hợp thành trong một khoảng thời
gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan phản ánh trình độ phát triển của xã
hội và các điều kiện phát triển của một quốc gia. Sự tác động từ chiến lược phát
triển kinh tế, hay sự quản lý của Nhà nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm
4
- thuỷ sản, ngành kinh tế công nghiệp - xây dựng cơ bản và ngành kinh tế thương
mại - dịch vụ.
* Cơ cấu kinh tế ngành là một tổng thể các ngành kinh tế hợp thành với vị
trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ
phận ấy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở một thời điểm nhất định.
Ngành nông nghiệp nằm trong hệ thống phân ngành kinh tế có liên quan
đến lĩnh vực hoạt động nông nghiệp. Nó là một tổ hợp các ngành kinh tế sinh
học cụ thể trong lĩnh vực nông - lâm - thuỷ sản.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thực chất là cấu trúc bên trong của ngành nông
nghiệp, cấu trúc này bao gồm các bộ phận hợp thành và các mối quan hệ tỷ lệ hữu
cơ giữa các bộ phận đó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cơ cấu kinh tế
giữa các ngành nông – lâm – thuỷ sản và cơ cấu kinh tế nội bộ của các ngành đó.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ gồm cơ cấu kinh
tế giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp và cơ cấu
kinh tế trong nội bộ các ngành đó. Và trong nội bộ mỗi ngành nhỏ lại có cơ cấu
riêng, ví dụ như cơ cấu cây trồng trong cơ cấu ngành trồng trọt, cơ cấu vật nuôi
trong cơ cấu chăn nuôi, cơ cấu nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản trong cơ cấu thuỷ
sản, cơ cấu nuôi trồng và bảo vệ rừng trong cơ cấu ngành lâm nghiệp,…Hay, cơ
cấu kinh tế ngành nông nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp thành và các mối
quan hệ thể hiện qua tỷ trọng sản lượng, diện tích, lao động giữa các bộ phận đó.
Trong đó, ngành nông nghiệp mà biểu hiện cụ thể là mối quan hệ giữa trồng trọt
- chăn nuôi; Trong trồng trọt là tỷ trọng giữa cây lương thực, cây thực phẩm, cây
công nghiệp, cây lâu năm, lâm nghiệp và các loại cây khác trong trồng trọt.
Trong chăn nuôi như chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia cầm, nuôi thuỷ sản và
chăn nuôi khác.
Như vậy cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ kinh tế
bao gồm các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, dịch vụ, lâm nghiệp, …
lao động, công nghệ, các sản phẩm dịch vụ tạo ra và ngay cả chất xám đều được
7
coi là đối tượng mua bán, là hàng hóa và cơ cấu KTNN trong cơ chế thị trường
cũng phải đảm bảo và tuân thủ các mối quan hệ đó. Trong nền kinh tế thị trường
giá cả điều tiết hành vi của người sản xuất từ đó tạo ra một thiết chế làm nảy sinh
mối quan hệ tỷ lệ nhất định trong cơ cấu kinh tế, vấn đề đặt ra là bằng nhận thực
và hành động các cơ quan hoạch định chính sách, của các nhà quản lý có giải
pháp điều chỉnh thông qua hệ thống các chính sách kinh tế định hướng cho sự
dịch chuyển cơ cấu kinh tế hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, cơ
cấu kinh tế hiệu quả cao là cơ cấu kinh tế phải thoả mãn được những yêu cầu
của thị trường đặt ra. Vì thế, chuyển dịch cơ cấu KTNN phải xuất phát từ những
căn cứ mà thị trường đòi hỏi và phải thỏa mãn tốt mọi nhu cầu thị trường.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi về số lượng hoặc
về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp. Khi có sự thay
đổi về qui mô và tốc độ phát triển của các tiểu ngành sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ
cấu một cách hợp lý.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là sự thay đổi về qui
mô và tốc độ của các ngành trong nông nghiệp như chuyển dịch cơ cấu ngành nông lâm - thuỷ sản, chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp thuần giữa trồng trọt chăn nuôi và chuyển dịch cơ cấu ngay nội bộ các tiểu ngành.
Hơn nữa, giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nói riêng với tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế có mối
quan hệ mật thiết với nhau: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một mặt trong phát triển
kinh tế. Vậy, muốn kinh tế phát triển không những cần phải tăng thu nhập cho
người dân, tăng phúc lợi xã hội cho con người mà còn phải tạo ra một cơ cấu kinh
tế hợp lý. Khi xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý phải dựa vào những thay đổi của
hoàn cảnh xung quanh để có được hướng chuyển dịch hiệu quả nhất. Từ đó, đây là
bàn đạp cho kinh tế phát triển nhanh, mạnh, ổn định và lâu dài.
được không. Tuy vậy, hiệu quả và kết quả phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố: Điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm ngành sản xuất, quy luật kinh tế.v.v. Do vậy,
9
khi đánh giá hiệu quả cần phải cân nhắc xem xét để có kết luận phù hợp.
Căn cứ vào nội dung và bản chất của hiệu quả, hiệu quả chia làm 3 loại:
- Hiệu quả kinh tế: Phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu
ích đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. Nó đánh giá hoạt
động sản xuất chủ yếu về mặt kinh tế.
- Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích
đạt được về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. Nó đánh giá chủ yếu
về mặt xã hội của hoạt động sản xuất.
- Hiệu quả môi trường: Là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do
hoạt động sản xuất gây ra như xói mòn, ô nhiễm đất...
Trong ba loại hiệu quả trên, hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định và nó
được đánh giá đầy đủ khi được kết hợp với hiệu quả xã hội và môi trường.
1.1.2. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu
quả sử dụng đất.
1.1.2.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính mang tính khách quan và tính lịch
sử nhất định
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan và được hình thành trên cơ
sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội chi phối.
Thật vậy, ở một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội thì tất sẽ phải có một cơ cấu kinh tế cụ thể để thích ứng
với nó. Như vậy việc xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần phải tôn trọng tính
khách quan của nó và không thể áp đặt một cách chủ quan duy ý chí. Trong quá
trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội tự các mối
quan hệ kinh tế đã có thể xác lập những tỷ lệ nhất định mà người ta gọi là cơ cấu.
1.1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình và cũng không
thể có một cơ cấu hoàn thiện bất biến.
Chuyến dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình làm thay đổi cấu
trúc và mối quan hệ của nền kinh tế theo mục đích và phương hướng nhất định.
Quá trình này tất yếu phải xẩy ra bởi sự phát triển và vận động không ngừng của
sự vật đó. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ vận động và chuyển hoá từ cơ cấu cũ
11
sang cơ cấu kinh tế mới đòi hỏi phải có thời gian và qua các nấc thang nhất định
của sự phát triển. Đầu tiên là biến đổi về lượng và khi lượng được tích luỹ đến độ
nhất định sẽ dẫn đến sự chuyển đổi về chất. Đó là quá trình chuyển hoá cơ cấu
kinh tế cũ sang một cơ cấu kinh tế mới một cách phù hợp và có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm còn phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó sự tác động của con người có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Vì thế, cần phải có những giải pháp chính sách và cơ chế quản lý thích
hợp để định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng
và chuyển dịch kinh tế nông thôn nói riêng. Tất cả sự nóng vội sẽ dẫn tới sự trì trệ
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gây phương hại đến sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp phải là một quá trình không thể khác được nhưng không phải là một quá
trình tự do của con người. Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt được quy luật khách
quan của cơ cấu kinh tế nông nghiệp con người sẽ tác động theo những mục tiêu
đã định nhằm chuyển một cách có hiệu quả và đúng hướng phục vụ cho con
người. Nhưng vấn đề quan trọng là phải bắt nguồn từ đâu và với những biện pháp
nào mà khi tác động vào nó sẽ gây phản ứng dây truyền tạo ra bước phát triển nói
nên tổng thể kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.1.2.4. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được hình thành và phát triển trên cơ sở của
điều kiện tự nhiên và mức độ khai thác cải tạo điều kiện tự nhiên (đất đai, thời
- Trong nông nghiệp, khi hiệu quả sử dụng đất được nâng cao tức là người
dân đã bố trí các phương thức sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi) phù hợp với điều
kiện tự nhiên sinh thái. Do vậy, cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã được chuyển dịch
theo xu hướng nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp vì thế tác động đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.4. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng
cao hiệu quả sử dụng đất
Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, nội dung của cơ cấu kinh tế nông
nghiệp (KTNN) bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành
phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật. Sự phân công lao động theo ngành là cơ sở hình
13
thành cơ cấu ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng tỷ mỷ
thì sự phân công chia ngành càng đa dạng và sâu sắc. Trong lịch sử phát triển xã
hội loài người trong thời gian dài kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn
nuôi chưa phát triển, những nước kém phát triển tỷ trọng trồng trọt trong nông
nghiệp chiếm rất cao, đại bộ phận nông dân chủ yếu tham gia lao động trồng trọt
chỉ có số ít là kết hợp và chăn nuôi. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản
xuất và tiến bộ khoa học - kỹ thuật đặc biệt sự phát triển của nông nghiệp hiện
đại, cơ cấu KTNN được cải biến nhanh chóng theo hướng sản xuất hàng hóa,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành và nội bộ ngành
Sản xuất nông nghiệp bao gồm: Nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt và chăn
nuôi); lâm nghiệp; thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp.
Do vậy trong cơ cấu ngành còn phải xét tới sự chuyển dịch của ngành lâm
nghiệp và ngành dịch vụ. Cơ cấu ngành của kinh tế nông nghiệp bao gồm các
nhóm ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp.
Trong mỗi nhóm ngành lại được chia thành những ngành hẹp hơn. Trong
khác, gắn cơ cấu của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước. Trong từng
vùng lãnh thổ coi trọng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp đa dạng.
- Để hình thành cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các
ngành trên vùng lãnh thổ hợp lý và khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng.
Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hoá dựa trên những lợi thế so sánh
từng vùng, cụ thể là: Những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, đường giao
thông lớn và các khu công nghiệp đô thị.
- So với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ hơn, có sức ỳ
hơn, chậm chuyển dịch hơn vì thế khi bố trí các vùng chuyên môn hoá cần được
xem xét cụ thể thận trọng nếu phạm sai lầm thì sẽ khó khắc phục và gây ra
những tổn thất rất lớn.
1.1.4.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế
15
Trong suốt thời gian dài của thời kỳ bao cấp ở nước ta, cơ cấu thành phần
kinh tế trong nông nghiệp chậm chuyển biến với sự tồn tại thuần nhất của hai loại
hình kinh tế, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Đến đại hội VI của Đảng với
yêu cầu đặt ra là chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của nhà nước thì ở nước ta đã có nhiều thành phần kinh tế phát triển.
- Điều đáng chú ý trong qua trình chuyển dịch cơ cấu KTNN theo thành
phần kinh tế nổi lên các xu thế sau: Đó sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
trong đó kinh tế hộ nổi lên thành kinh tế hộ độc lập, tự chủ, đây là thành phần kinh
tế năng động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hoá phong phú đa dạng cho xã hội. Trong
quá trình phát triển kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất
hàng hoá nhỏ tiến tới hình thành các trang trại, công trại (sản xuất hàng hóa lớn).
- Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hướng giảm mạnh nhà nước đang
có biện pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển sang các chức năng khác cho phù
hợp với điều kiện hiện nay.
- Tác động của sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trên thị
trường tạo động lực thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, đổi mới
công nghệ ở trong nội bộ từng ngành trở nên bức thiết.
- Thông qua lợi ích kinh tế thu được sẽ tạo ra động lực chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nhằm đạt hiệu quả ở mức cao hơn.
Như vậy, thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội là người đặt hàng cho
tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó không chỉ qui định số lượng mà cả chất
lượng các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nên nó có tác động trực tiếp đến quy mô,
trình độ phát triển của các ngành, lĩnh vực ở địa phương…
* Nhân tố các nguồn lực
Các nguồn lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ có vai trò quan trọng
trong việc hình thành và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế, nhất là
ở khu vực nông thôn.
- Vị trí địa lý của một vùng lãnh thổ góp phần tạo ra sự hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng đó.
17
- Tài nguyên thiên nhiên: gồm khoáng sản, đất đai, khí hậu, lâm sản, hải
sản…là một trong những nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất, là điều kiện
cần thiết để phát triển các ngành kinh tế.
- Tuy nhiên tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, do đó cần tính toán chuyển
dịch cơ cấu các ngành kinh tế để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên
đó, đồng thời bảo vệ môi trường sống cho thế hệ sau.
- Dân số, sức lao động: đây được xem là nguồn lực quan trọng cho phát
triển kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nói riêng. Dân số và tốc độ tăng dân số của một quốc gia hay vùng lãnh
thổ có ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Có một nguồn lao động dồi dào thì sẽ có nguồn nhân lực phục vụ cho
cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh và hiệu quả. Ngược lại nó sẽ kìm hãm, làm chậm lại
quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
* Định hướng chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà
nước trong từng giai đoạn
Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng
nó lại chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước. Nhà nước tác động gián tiếp
thông qua định hướng chiến lược, đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội
và khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển nhằm đạt các mục tiêu đề ra.
Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, không quy định cụ
thể về cơ cấu kinh tế song thông qua chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển
kinh tế – xã hội, Nhà nước có sự điều tiết vĩ mô, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực
kinh tế phát triển theo định hướng chung, đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của
nền kinh tế.
1.1.5.2. Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài
*Xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất
Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế,
cùng với việc ứng dụng các công nghệ mới và sự phát triển mạnh mẽ của các
công ty đa quốc gia đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch sản xuất kinh doanh vượt
xa hơn biên giới của một vùng lãnh thổ.
19
Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, thúc
đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất, trao đổi hàng hoá,
dịch vụ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ. Tính phụ thuộc lẫn nhau
giữa các nền kinh tế tăng lên, các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước và
các khu vực ngày càng trở lên sâu rộng và mật thiết. Quá trình phân công lao
động trở lên sâu sắc và chuyên môn hoá hơn, làm cơ sở cho quá trình quốc tế
hoá lực lượng sản xuất ( hay công nghiệp hoá toàn cầu).
Phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đem lại hiệu quả kinh tế cao,
phát triển hình thức nuôi lồng bè, giảm tỷ lệ khai thác tự nhiên và tăng cường
đầu tư vào nuôi trồng các loại thuỷ sản có giá trị.
* Về lâm nghiệp.
Đầu tư phát triển rừng sản xuất, trồng rừng tập trung và trồng các loại cây
lâm nghiệp sinh trưởng, phát triển nhanh và có giá trị cao.
1.1.7. Những Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu KTNN là một trong những chủ trương, chính sách
của đảng và nhà nước để phát triển kinh tế đất nước và phát triển nông nghiệp
nông thôn.
Để định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn, nhà nước đã ban hành
một loạt các chủ trương chính sách chuyển dịch cơ cấu KTNN, cụ thể là:
- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị
về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn.
- Nghị quyết số 09/NQ/CP ngày 15 tháng 6 của chính phủ về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
- Thông tư số 44/1999/TT-BTC ngày 26/4/1999 của Bộ Tài chính hướng
dẫn về ưu đãi thuế đối với hợp tác xã
- Nghị quyết số 03-NQ/CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về
kinh tế trang trại.
21
- Nghị định số 85/1999/NĐD-CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ
sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài.
- Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2001 của Chính
do địa hình đồi núi. Vì vậy, Nhật Bản là nước có bình quân đất canh tác trên đầu
người vào loại thấp nhất thế giới (khoảng 390m2/người). Tuy nằm ở vùng Đông
Á song Nhật Bản có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội lúc xuất phát khá
giống nước ta đất ít, người đông, ruộng đất manh mún, quy mô các hộ nông dân
nhỏ bé, lúa nước là cây trồng chính.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, kinh tế Nhật Bản lâm vào suy thoái, thiếu
lương thực trầm trọng... Chính lúc đó, Nhật Bản đề ra chương trình mục tiêu
đảm bảo an ninh lương thực và chính sách cải cách kinh tế nông thôn.
Về lương thực: Chính phủ Nhật Bản chủ trương cải tạo 1,55 triệu ha đất
và định cư cho 1 triệu hộ nông dân trong 5 năm.
Về cải cách ruộng đất: Bắt buộc các điền chủ có diện tích đất lớn hơn theo
quy định phải bán cho nông dân để nông dân có đất sản xuất.
Chính phủ ban hành các chính sách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp: chính
sách ổn định giá cả, tự do lưu thông hàng hóa, tăng cường công tác khuyến nông
do Nhà nước đầu tư, hoàn thiện quy trình sản xuất nông nghiệp, cải thiện điều
kiện sống...
Từ năm 1947, Chính Phủ Nhật Bản ban hành một số đạo luật nhằm thúc
đẩy nông nghiệp phát triển cao hơn: Luật Tài trợ cho nông dân trong trường hợp
gặp thiên tai, luật Tăng cường màu mỡ của đất, luật Đất đai nông nghiệp... Do
đó, từ năm 1949 lương thực đã có bước phát triển khá. Năm 1951, thu nhập của
hộ nông dân cao hơn hộ công nhân thành phố 30%. Năm 1956, lại kém hơn
10%. Trước tình hình đó, Nhật Bản lại đề ra mục tiêu: “Phát triển những đặc sản
nông nghiệp đáp ứng cho từng khu vực riêng”. Do vậy, Nhật Bản lại tiến hành
chuyển dịch CCKT nông nghiệp cho phù hợp. Năm 1975, Nhật Bản thực hiện
chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, lấy an ninh lương thực làm mục tiêu
chính. Đến năm 1979, sản xuất gạo dư thừa, có gạo bán trên thị trường nội địa 6
triệu tấn. Từ năm 1990, Nhật Bản chủ trương chuyển 830.000 ha lúa sang sản
xuất các cây con khác có hiệu quả hơn. Hiện nay, Nhật trở thành nước nhập khẩu
24
sống cho nông dân chính phủ Thái Lan đã thực hiện chủ trương đa dạng hoá
nông nghiệp, giảm bớt nhập khẩu vật tư nông nghiệp, bảo tồn các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp.
Cụ thể, Thái Lan đã chú trọng mở mang đất đai, đầu tư sang sản xuất cây
ngũ cốc, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, đánh cá, hoa, cây cảnh, ... Tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP giảm từ 50,1% năm 1951 xuống còn 14,2 % năm 1990.
Giá trị gạo trong tổng giá trị xuất khẩu từ 45% năm 1950 giảm xuống còn 4,4%
năm 1992. Thái Lan cũng đã giảm tỷ trọng phế phẩm nông nghiệp từ 40,9 %
xuống còn 25%. Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp cũng giảm từ 83,8%
xuống còn 7,4 %.
Thời kỳ năm 1987 đến 1996, mức tăng trung bình của nông nghiệp là
3,4%. Cũng trong thời gian ấy, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong tổng số
lao động cả nước giảm xuống còn 60 %. Sự chuyển dịch trong cơ cấu sản xuất
nông nghiệp của Thái Lan phản ánh định hướng phát triển thương mại theo lợi
thế một số mặt hàng xuất khẩu trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp mở rộng
(trước đây chỉ có lúa, ngô, sắn nay có thủy hải sản, gà đông lạnh, dứa hộp, cà phê,
hạt tiêu, rau và hoa quả). Để giúp nông dân phát triển sản xuất, chuyển dich cơ
cấu cây trồng, Chính phủ Thái Lan đã ban hành các chính sách tạo điều kiện cho
nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí, tăng cường chế biến nông
sản tại hộ gia đình nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và tạo ra nhiều loại sản phẩm
có thể đáp ứng nhu cầu thị trường, hỗ trợ thiết lập các thị trường trong nước trở
thành nơi mua và bán nông sản ở từng địa phương; thay thế vụ lúa thứ hai bằng
những mặt hàng có lãi suất cao hơn ở những vùng trồng lúa không thích hợp; giới
thiệu cho nông dân mô hình sản xuất đa canh có lợi cho nông dân học tập, giúp
nông dân ít đất vùng khó khăn thu hồi vốn nhanh; thành lập hệ thống tín dụng có
khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho người sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng, phổ
từ 6,7% năm 2000 lên 7,8% năm 2009.