Đề tài: Tư tưởng Phật giáo và ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức người Việt Nam hiện nay - Pdf 34

MỤC LỤC
MỤC LỤC .............................................................................................................. 1
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 3
1. Tính cấp thiết của đề tài. ................................................................................. 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. ........................................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài. .................................................................. 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. .................................................... 5
5. Đóng góp mới của đề tài. ................................................................................ 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn. ........................................................................... 5
6.1. Ý nghĩa lý luận. ........................................................................................ 5
6.2. Ý nghĩa thực tiễn. ..................................................................................... 5
7. Giới hạn của đề tài. ......................................................................................... 5
8. Kết cấu của đề tài. ........................................................................................... 6
Chương 1 ................................................................................................................ 7
KHÁI QUÁT VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ........................ 7
1.1. Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo. .................................................................. 7
1.2. Thân thế và sự nghiệp của đức phật Thích Ca. ........................................... 7
Chương 2 ................................................................................................................ 9
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ...................................... 9
2.1. Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan. ................................................. 9
2.1.1. Vô ngã.................................................................................................... 9
2.1.2. Vô thường. ............................................................................................. 9
2.1.3. Duyên..................................................................................................... 9
2.2. Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan. ............................................ 10
2.2.1. Nghiệp báo .......................................................................................... 10
2.2.2. Thuyết tứ Diệu đế ................................................................................ 11
2.2.3. Ngũ giới ............................................................................................... 13
Chương 3 .............................................................................................................. 15
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐẠO
ĐỨC NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY .............................................................. 15
3.1. Sơ lược về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam. ....... 15

Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên
thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông
đảo được phân bố rộng khắp. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế
kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng
sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và
đạo Thiên chúa.
Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư
tưởng, tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo,
có tác động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật
giáo ở thế kỷ thứ X - XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX. Cho đến nay, những học thuyết này
không giữ địa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo
khác, tác động vào đời sống xã hội.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta.
Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức
sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm
của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của
nó là không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phần đạt
được mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Do đó, việc tìm hiểu nghiên
cứu Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần
thiết. Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt tiến bộ cũng như hạn chế, Phật
giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương
cách để hướng đạo cho con người một cách chân chính, đúng đắn. Theo đạo để
làm điều thiện, tránh cái ác.
Hơn nữa, trong thời kỳ đổi mới, ngoài những thành tựu đã đạt được về mặt
kinh tế - văn hóa - xã hội là mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nó đã làm nảy
sinh nhiều tiêu cực gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến các mặt của đời sống
xã hội. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo cùng với quá trình
du nhập, tồn tại, phát triển của nó tại Việt Nam sẽ làm nổi bật được những ảnh
hưởng đến đời sống tinh thần của người dân nước ta, gắn liền với quá trình hình

của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, Tiểu luận, Trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2010.
TS Lê Văn Đính, Bàn thêm về ảnh hưởng của phật giáo trong đời sống xã
hội Việt Nam hiện nay, Bài báo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 2007.
Tác giả Phan Thị Thu Hiền, Triết lý nhân sinh Phật giáo và ảnh hưởng của
nó đến đời sống tinh thần người Việt Nam, Bài báo, Hội nghị Sinh viên Nghiên
cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng, 2010.
Tác giả Nguyễn Tài Thư, Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối
với con người Việt Nam hiện nay, Sách, NXB Chính trị Quốc gia, 1997.
Tác giả Lê Hữu Tuấn, Một số vấn đề của Phật giáo Việt Nam trong đời
sống hiện nay, Bài báo, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 2002.
Như vậy, vấn đề về ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với người Việt
Nam từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình trên đã trình
bày được sơ lược về sự ra đời và các vấn đề cơ bản trong tư tưởng phật giáo,
cũng như những ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của con người Việt
Nam, tuy nhiên chưa trình bày được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tư
tưởng Phật giáo đối với một yếu tố rất quan trọng của người Việt Nam chúng ta
đó là đạo đức con người.
4


Kế thừa kết quả của các nhà Khoa học đi trước, tác giả tập trung phân tích
các mặt tích cực và tiêu cực của tư tưởng Phật giáo đối với đạo đức con người
Việt Nam, từ đó có các biện pháp để phát huy những ảnh hưởng tích cực trong tư
tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức người Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
Đề tài nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời
sống đạo đức người Việt Nam nhằm đề xuất các biện pháp để phát huy những
ảnh hưởng tích cực trong tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức người Việt
Nam hiện nay.

5


8. Kết cấu của đề tài.
Đề tài bao gồm 4 chương và 12 mục, cụ thể như sau:
Chương 1: Khái quát về sự ra đời của Triết học Phật giáo.
1.1. Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo.
1.2. Thân thế và sự nghiệp của đức phật Thích Ca.
Chương 2: Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo.
2.1. Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan.
2.2. Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan.
Chương 3: Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức
người Việt Nam hiện nay.
3.1. Sơ lược về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam.
3.2. Đời sống đạo đức và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới đời sống đạo
đức người Việt Nam hiện nay.
3.3. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức người
Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Biện pháp phát huy ảnh hưởng tích cực của tư tưởng Phật giáo
đối với đời sống đạo đức người Việt Nam hiện nay.
4.1. Tạo điều kiện và xây dựng môi trường xã hội thuận lợi.
4.2. Phát huy giá trị đạo đức tốt đẹp của Phật giáo trong nền kinh tế thị
trường.
4.3. Thực hiện phương châm tốt đời đẹp đạo.
4.4. Đấu tranh chống những hành vi lợi dụng Phật giáo gây ảnh hưởng xấu
đến đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay.
4.5. Phát huy truyền thống đạo đức dân tộc.

6


Như vậy, tất cả những đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nói trên
là cơ sở cho sự nảy sinh và phát triển những tư tưởng triết học của Ấn Độ thời cổ
- trung đại với các hình thức phong phú đa dạng. Và Phật giáo ra đời trong làn
sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn
nguyên nỗi khổ và tìm đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên,
đè nặng trong xã hội nô lệ Ấn Độ. Vì chống lại sự ngự trị của đạo Bàlamôn đặc
biệt là quan điểm của kinh Vêđa nên Phật giáo được xem là dòng triết học không
chính thống.
1.2. Thân thế và sự nghiệp của đức phật Thích Ca.
Người sáng lập ra Phật Giáo là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa
(Siddhattha), họ là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya. Tất Đạt Đa sinh
7


ngày 15 tháng 4 năm 563 trước công nguyên, là Thái tử của vua Tịnh Phạn, một
nước nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan). Mẹ là Hoàng hậu
Maha Maya , là công chúa của xứ Koli. Mặc dù sống trong cảnh cao sang quyền
quý, dòng dõi Đế Vương, vợ đẹp con ngoan. Nhưng trước bối cảnh xã hội phân
chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước khó khăn của cuộc
đời. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ con đường Vương giả xuất gia tu đạo.
Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác ngộ tìm ra chân chân lí “Tứ
diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho
chúng sinh. Từ đó Người đã đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình và ông
đã trở thành người sáng lập ra tôn giáo mới là Đạo Phật. Về sau ông được suy
tôn với nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích
Ca…
Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt Giáo lí khắp nước Ấn Độ. Năm
ông 80 tuổi thì qua đời, ông để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật
Giáo vô cùng quý báu. Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ
đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm

cái còn mà chẳng còn cái mất mà chẳng mất. Đức Phật dạy, “tất cả những gì
trong thế gian đó là biến đổi, hư hoại, đều là vô thường”. Vì vậy vô thường nghĩa
là không thường, không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay
đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã.
Vô thường của Đạo Phật là một phương pháp chỉ rõ mặt trái của đời, để bài trừ
những sự mê lầm, ngăn chặn người chạy theo vật dục, nó chưa phải là thuyết
tuyệt đối. Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật từ thân tâm cho đến
hoàn cảnh. Hiệu lý vô thường, con người dễ giữ được bình tĩnh, thản nhiên trước
cảnh đổi thay bất ngờ.
2.1.3. Duyên
Là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả. Phật Giáo cho rằng,
mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự
chi phối của luật nhân duyên. Trong đó duyên là điều kiện giúp cho nguyên nhân
trở thành kết quả. Kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nhân khác, nhân
khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới. Cứ như vậy mà tạo nên sự biến
đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật Nhân-Quả: nhân là cái mầm,
Qủa là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân và quả là hai trạng thái nối
tiếp nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có nhân thì không thể có quả, nếu
không có quả thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy. Nói cách khác
nhân với quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau, hể nhân đổi thì quả đổi.
9


Một nhân không sinh ra quả, sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của
nhiều nhân duyên. Cho nên không có nhân nào tự tạo thành quả được nếu không
có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác, trong nhân có quả, trong quả có nhân. Một
sự vật mà ta gọi là quả là khi nó biến chuyển hình thành ra trạng thái mà ta mong
đợi, ước muốn. Mỗi vật vì thế điều có thể gọi là nhân hay là quả đều được cả.
Đối với quá khứ thì nó là quả, đối với tương lai thì nó là nhân. Sự biến chuyển từ
nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, chứ không phải bao giờ cũng diễn tiến

Tóm lại, chữ nghiệp, theo Phật giáo, là những yếu tố do chính con người
tạo ra và dĩ nhiên, con người thừa hưởng đối với những hành động tốt, hoặc chịu
lấy đối với những hành động xấu, kết quả của nó. Tuy nhiên, con người không
10


hẳn phải gặt hái hết những gì mình đã tạo ra, bởi nghiệp mang tính chất duyên
sinh. Vì nghiệp mang tính chất duyên sinh cho nên ở nghiệp ta không thể tìm đâu
ra một nguyên lý định tính nào của nghiệp. Con người thay đổi thì nghiệp thay
đổi, cho nên, Phật giáo bảo tu là chuyển nghiệp là vì vậy.
2.2.2. Thuyết tứ Diệu đế
Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi
Ðức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần
Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây, nội dung bài thuyết giáo đầu
tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý
Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Ðức Phật nhiều lần xác định về tầm quan
trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán chánh
đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh
đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế".
2.2.2.1. Khổ đế: Khổ đau là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc
lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con
người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì
không hiểu rõ bản chất của khổ đau nên không tìm được lối thoát thực sự, đôi
khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc càng vướng vào khổ đau. Khổ đế là một
chân lý, một sự thực về bản chất cái khổ. Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, sanh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong
cầu mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ". Như vậy, Khổ có
thể chia làm 3 phương diện như sau:
Phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn.
Phương diện tâm lý: Là sự đau khổ do không vừa ý, không vừa lòng… tạo

chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.
2.2.2.3. Diệt đế: Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay
dập tắt phiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ và sự chấm dứt khổ đau, cũng
có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Diệt đế đồng nghĩa với Niết bàn.
Ðạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác
định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc. Vì vậy mà có sự tu tập để đạt
được hạnh phúc.
Chúng ta thường quan niệm Niết bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó
cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác, đó là một
sai lầm lớn. Niết bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết
bàn là không còn tạo nghiệp và không còn tái sinh.
2.2.2.4. Ðạo đế: Ðạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được
an lạc, hạnh phúc trong đời sống hàng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn.
Trong kinh Ðại Bát Niết Bàn Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, đây là
những pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực
chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc
cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Ðó là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần,
Bốn thần túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Tám thánh đạo phần".
Trong 37 pháp thì Tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất
của Ðạo đế. Tám thánh đạo, còn gọi là Bát chánh đạo - con đường chân chính:
Chánh kiến: Thấy và hiểu đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về đạo đức
của cuộc sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết đúng về bản chất của sự
vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên
nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ.
Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng để đầu óc của mình nghĩ
ngợi những vấn đề bất thiện như tham dục, tức tối giận hờn, bạo động hãm hại...
dẫn tư duy của mình hướng về tâm cao thượng như tư duy về sự buông thả, sự
12


cướp, không được tà dâm, không được nói dối, không được uống rượu.
Năm điều răn này dựa trên tâm niệm từ bi bác ái, bình đẳng trên phương
diện từ bỏ tội lỗi cái nhân và đem lại trật tự, an vui cho xã hội mà thành lập. Đức
Phật không bắt buộc chúng phải triệt để tôn theo và cũng không hâm dọa nếu
không tuân theo thì phải bị trừng phạt, việc giữ ngũ giới hay không là hoàn toàn
do chúng ta tự liệu lấy.
Bất sát: Không được giết hại. Đây là điều răn thứ nhất mà đức Phật
khuyên chúng ta không được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến loài vật.
Sinh mạng có một giá trị quý báu, nhất là sinh mạng người, giết hại sinh mạng
kia để tô điểm cho sinh mạng này là một điều ác, không hợp đạo lý.
13


Bất dâm: Không tà dâm. Nếu giữ được giới không tà dâm, thì gia đình
được hòa thuận an vui hạnh phúc, mọi nể trọng kính mến.
Bất vọng ngữ: Không nói dối. Nếu giữ giới không nói dối sẽ được mọi
người kính trọng, quý mến, tin cậy, dễ được gần gũi, việc làm thuận lợi uy tín
được nâng cao.
Bất ẩm tửu: không uống rượu. Nếu giữ được giới không uống rượu thì bảo
tòan được hạt giống trí tuệ, ngăn ngừa những nguyên nhân phát sinh tội ác trong
xã hội.
Bất đạo: Không trộm cướp. Nếu giữ được giới không trộm cướp là góp
phần đưa xã hội về bình đẳng, văn minh.

14


Chương 3
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
ĐẠO ĐỨC NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

giữ được vẻ tinh khiết vốn có của nó và dòng thiền Trúc Lâm đã được khôi phục
vào cuối thế kỷ thứ 20, tiếp nối mạng mạch của lịch sử Phật giáo Việt Nam.
3.2. Đời sống đạo đức và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới đời sống
đạo đức người Việt Nam hiện nay.
3.2.1. Đời sống đạo đức.
3.2.1.1. Khái niệm.
15


Theo từ điển tiếng Việt, đời sống được hiểu theo hai nghĩa: một là, thời
gian sống trên đời; hai là, cách sống, cách sinh hoạt của con người. Theo từ điển
từ và ngữ Việt Nam đưa ra bốn cách hiểu về đời sống, đó là: tình trạng tồn tại
của sự vật; sự hoạt động của người ta trong từng lĩnh vực; phương tiện để sống;
lối sống của cá nhân hay tập thể.
Có thể khái quát, đời sống là biểu hiện các hoạt động diễn ra trong cơ thể
một sự vật hay là các hoạt động của con người thể hiện ở lối sống, điều kiện
sống, sinh hoạt…trong lĩnh vực nào đó của xã hội.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, trên bình diện chung nhất, đời sống xã
hội bao gồm hai phương diện cơ bản: đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Đây là hai hình thức cơ bản nhất của hoạt động sống của con người, chúng có
quan hệ biện chứng với nhau, trong đó đời sống tinh thần được hình thành và
phát triển trên cả đời sống vật chất.
Đời sống vật chất được quyết định trực tiếp bởi bởi các điều kiện vật chất
và các quy luật khách quan của xã hội trong sự tồn tại và phát triển.Tuy không
phụ thuộc vào đời sống tinh thần nhưng các yếu tố tinh thần cũng tham gia vào
và tác động đến sự vận động, phát triển của đời sống vật chất.
Đời sống tinh thần là một bộ phận cấu thành đời sống xã hội, nó không chỉ
phản ánh phương diện nhận thức mà còn nói lên phương diện thực tiễn của đời
sống xã hội, bao gồm toàn bộ những hoạt động tinh thần cùng những quan hệ
tinh thần với tính liên tục về thời gian và tính rộng lớn về không gian của nó.

người được nảy sinh từ đời sống vật chất, phản ánh đời sống vật chất và bị quy
định bởi đời sống vật chất trong từng giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất
định” [1, tr. 59].
3.2.1.2. Cấu trúc.
Đời sống đạo đức có nhiều yếu tố cấu thành như: ý thức đạo đức, thực tiễn
đạo đức, quan hệ đạo đức… Nó ẩn chứa trong đó các thang bậc giá trị đạo đức
và được biểu hiện ra ở nhận thức, hành vi, lối sống, các quan hệ sinh hoạt của
con người trong đời sống hằng ngày. Do đó, muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp
thì xã hội phải quan tâm đến việc xây dựng đời sống đạo đức cho các cá nhân và
cho toàn xã hội, để mỗi thành viên trong xã hội đều có trách nhiệm với bản thân
mình, với cộng đồng và với xã hội.
Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, hành vi phù hợp với
những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao hàm cả những
cảm xúc, những tình cảm đạo đức con người.
Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành
vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những quy tắc
đạo đức xã hội đặt ra, nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn
thành một cách tự giác, tự nguyện những giá trị đạo đức. Như vậy, ý thức đạo
đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đao đức, tình cảm và ý chí đạo đức.
Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin,
ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức trong cuộc sống. Thực
tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành
động, nghĩa vụ… Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con
người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo đức.
Ý thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung
cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người của một giai cấp, của một chế độ
xã hội và của một thời đại lịch sử. Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành
động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác. Nếu không có
thực tiễn đạo đức, ý thức đạo đức không đạt tới giá trị.
Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và

tác động, xung đột, bổ sung lẫn nhau giữa các giá trị đó.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
việc giữa gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây
dựng hệ giá trị đạo đức mới đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết ở
Việt Nam. Trong đời sống xã hội nước ta hiện nay, đã có những biểu hiện coi
nhẹ những giá trị truyền thống, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ…
đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Những tác động tiêu cực này của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay đã ảnh hưởng không nhỏ tới các quan hệ đạo đức của người Việt Nam. Con
người trở nên lạnh lung hơn, sống vì bản thân, vì lợi ích cá nhân nhiều hơn, dần
bỏ quên đi những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc như lòng nhân ái, sự vị
tha, đặt lợi ích cộng đồng, tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Vì lợi nhuận trong
cạnh tranh của nền kinh tế thị trường mà nhiều người sẵn sang gạt bỏ tình thân,
18


làm những điều trái với luân thường đạo lý, tìm cách trốn thuế, kinh doanh trái
pháp luật… gây ra những tác động xấu tới các quan hệ đạo đức trong xã hội.
3.2.2.2. Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hóa là sự gia tăng mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng và tác
động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy mô, cường độ các hoạt động
giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt những biến đổi
mang tính toàn cầu mà từ đó có thể phát sinh hàng loạt những sự kiện mới. Toàn
cầu hóa là một quá trình tất yếu, khách quan, một xu thế phát triển hợp quy luật
và không thể đảo ngược, là sự phát triển tiếp nối lịch sử của quá trình quốc tế
hóa đã từng diễn ra trước đó. Ngày nay, chúng ta đã chủ động tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa. Trong quá trình đó chúng ta đã tận dụng được những thành
quả mà toàn cầu hóa đem lại. Nhờ quá trình toàn cầu hóa chúng ta có lợi thế của
nước đi sau để “đi tắt, đón đầu” trong một số lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, tạo
điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tác động tích cực đến sự phát triển văn

phải thông qua vai trò của nhân tố chủ quan. Hệ thống nhu cầu và lợi ích của con
người trong các hoạt động xã hội là nhân tố chủ quan tác động đến sự biến đổi
đạo đức nói chung. Sự định hướng nhu cầu và lợi ích đúng đắn, tích cực sẽ tác
động đến sự biến đổi đạo đức con người theo chiều tích cực và ngược lại. Nhận
thức và ý chí của chính bản thân mỗi người là hai nhân tố chủ quan giữ vai trò
quan trọng trong sự biến đổi đạo đức. Trên thực tế, sự nhận thức và ý chí của bản
thân mỗi người không giống nhau, không đồng nhất nên trước những tác động
của môi trường xã hội sự biến đổi đạo đức diễn ra theo hai khuynh hướng tích
cực và tiêu cực.
3.3. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức người
Việt Nam hiện nay.
3.3.1. Ảnh hưởng tích cực
Phật giáo đã thực sự đi vào đời sống đạo đức của người Việt thông qua
chức năng giáo dục, hướng con người tới các giá trị tốt đẹp, nhân văn. Người
Việt Nam tìm đến với đạo Phật không chỉ vì nhu cầu tâm linh, cảm thấy thư thái
an lạc nơi cửa Phật mà còn vì những nội dung đạo đức xã hội được ẩn chứa trong
đạo lý Phật giáo.
Đối tượng giáo dục mà Phật giáo hướng tới trong lĩnh vực đạo đức xã hội
chính là con người tới tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm đối với chính cuộc đời
của mình. Thuyết nhân quả của Phật giáo đã chỉ ra rằng: con người tự chịu trách
nhiệm về hạnh phúc hay khổ đau bằng hành vi của chính mình chứ không phải
do may rủi, định mệnh hay thần linh trừng phạt. Giá trị của thuyết này chính là
việc khẳng định con người làm chủ được cuộc sống của mình, đặt con người vào
đúng vị trí, vai trò của nó trong xã hội. Trên cơ sở đó, đạo đức Phật giáo giúp
con người phát huy hết những đặc tính ưu việt, giảm thiểu những nhân tố đưa tới
sự bất lợi cho bản thân, gia đình, xã hội. “Đạo đức còn là trách nhiệm của mỗi cá
nhân đối với tự thân cũng như đối với gia đình và xã hội. Vì lẽ đạo đức là hạnh
phúc và việc xây dựng hạnh phúc cho tự thân, gia đình và xã hội là trách nhiệm
của mỗi người. Sống nếp sống đạo đức tức là người có trách nhiệm cao trong các
mối quan hệ gia đình và xã hội. Thiếu một tinh thần trách nhiệm này nghĩa là

thống, gắn liền với tâm thức của mỗi người Việt Nam. Yêu nước đó còn là đặt
lợi ích của đất nước, của nhân dân lên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và
bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc. Đối với mỗi
người dân Việt Nam, tinh thần yêu nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một
tình cảm xã hội mà cốt lõi của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, lòng tự hào
cùng với ý chí bảo vệ lợi ích của Tổ quốc.
Do đó, khi Phật giáo hòa nhập vào đời sống văn hóa đạo đức của người
Việt, nhiều giá trị đạo đức của Phật giáo đã gắn kết, hài hòa với tinh thần yêu
nước tốt đẹp của người Việt. Tư tưởng “cứu khổ cứu nạn” xuất phát từ tâm từ bi,
hướng thiện của Phật giáo rất phù hợp với truyền thống giết giặc, trừ gian của
dân tộc Việt Nam. Giáo lý từ bi của nhà Phật khi gặp gỡ, giao thoa với tinh thần
yêu nước, lòng thương người của người Việt đã góp phần tạo dựng nên một nếp
nghĩ, một cách sống, một giá trị đạo đức trong đời sống của người Việt Nam.
Nguyên Trãi (1380-1442), một nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng Việt Nam
kiệt xuất, ông dã vận dụng đạo lý từ bi và biến nó thành đường lối chính trị, đem
lại thành công nổi tiếng trong lịch sử Nước Việt. Ông nói điều đó trong Bình
Ngô Đại Cáo rằng:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo”
Trong đối nhân xử thế hằng ngày, người Việt vẫn luôn tâm niệm “thương
người như thể thương thân” hay “Lá lành đùm lá rách”, “Nhiễu điều phủ lấy giá
21


gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Luôn trọng nghĩa tình,
xem nó lên trên hết “vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy”. Chữ “tình” chiếm một vị
trí quan trọng trong đời sống đạo đức của người dân Việt Nam… Không chỉ giới
hạn trong tình cảm gia đình, hàng xóm mà còn đối với cả kẻ thù. Trong lịch sử
đã không ít trường hợp với những tù binh chiến tranh, luôn được đối xử tử tế,
được mở đường hiếu sinh, được cấp đầy đủ quân lương khi về nước. Tiêu biểu,

bản địa chứa đựng nhiều yếu tố tích cực, đạo đức Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu
rộng đến đạo đức truyền thống của dân tộc. Phật giáo nói chung, đạo đức Phật
giáo nói riêng, trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, đời sống văn hóa
22


tinh thần dân tộc, đã thâm nhập sâu sắc vào tâm hồn người dân Việt Nam, khẳng
định sức sống lâu bền trong lịch sử.
Cuộc sống có đạo đức luôn là cuộc sống hạnh phúc. Cuộc sống ấy được
bảo vệ trong sự an tịnh của giáo dục. Giữ giới là hoàn thiện đạo đức nhanh nhất
và đúng nghĩa nhất. Khi giữ giới và tôn trọng giới cá nhân có một đời sống an
vui mà không phương hại người khác. “Kinh Đại Bát Niết Bàn số 16 Trường Bộ
nói lên 5 điều nguy hiểm của người gia chủ nếu phạm giới, sống trái giới luật.
Một là sẽ bị tiêu hao tiền bạc rất nhiều vì phóng dật, hai là bị tiếng dữ đồn xa. Đi
vào với hội chúng nào, đi vào với tâm bối rối. Bốn là khi mạng chung sẽ chết với
tinh thần rối loạn. Năm là sau khi mạng chung sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ địa ngục. Trái lại, người có giữ giới có được năm sự lợi ích, một là sự có tiền
của dồi dào vì không phóng dật, hai là tiếng tốt đồn xa, ba là đi vào hội chúng
nào tâm thần không có sợ hãi, không có bối rối, bốn là khi mạng chung chết với
tâm không rối loạn, năm là sau khi mạng chung sẽ sanh vào thiện thú thiên giới
cõi đời này” [3, 67].
Giới là phương tiện dẫn dắt con người vượt khỏi song mê, bể khổ, luân
hồi, tới chốn an lạc, giải thoát. Không chỉ vậy, giới còn là điều liện tối quan
trọng trong việc tu tập thiền định. Do vậy,giữ giới cũng đồng nghĩa với việc con
người tự rèn luyện, trau dồi đạo đức. Nghiên cứu Ngũ giới, chúng ta thấy đấy là
những nguyên tắc đạo đức cơ bản mà Phật đặt ra cho các Phật tử thực hành. Ngũ
giới góp phần hướng tới con người đi đến sự hoàn thiện trong tư tưởng, hành vi,
bồi dưỡng nhân cách theo nhân sinh quan Phật giáo. Một mặt, Ngũ giới có tác
dụng ngăn ngừa những mầm mống nguy hại đến tư cách đạo đức con người, mặt
khác, khơi gợi những hành vi tốt phát triển…Có thể thấy, Ngũ giới bao hàm đầy

Việt Nam, khẳng định sức sống lâu bền của nó đối với dân tộc Việt Nam.
3.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực
Tuy vậy Phật giáo cũng có những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực nhất định
đến đời sống của người Việt Nam chúng ta.
Trong nội tại tư tưởng Phật giáo cũng có những hạn chế nhất định, Phật
giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ thấy con
người nói chung mà không thấy con người của giai cấp đối kháng nhau trong xã
hội trước đây, không thừa nhận đấu tranh trong giai cấp xã hội, do đó không thấy
được nguyên nhân khổ ải của con người, không thấy được sự cần thiết phải
chống áp bức, bóc lột vì thế quan niệm từ bi bác ái trong một số trường hợp bất
lợi cho đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức. Phật giáo không bàn tới lĩnh
vực chính trị, vì thế mỗi khi nhà sư bước sang lĩnh vực chính trị – xã hội nhà sư
phải sử dụng các tư tưởng Nho hay Lão Trang. Hạn chế lớn nhất của Phật giáo
đối với tư duy của người Việt Nam là quan điểm duy tâm thần bí. Quan điểm
này không hướng người ta vào hiện thực mà hướng vào quả báo, hướng vào
nghiệp, vào thần linh để mong được phù hộ, độ trì. Và một khi tư duy như vậy
thì không cần khám phá tìm tòi, sáng tạo và hành động, đưa đến sự lạc hậu với
đất nước.
Song song đó, do tác động bên ngoài, hay sự hiểu biết chưa sâu về Phật
giáo, các tệ lậu mê tín dị đoan xuất hiện. Đạo Phật đề cao trí tuệ và sự giác ngộ,
Phật Thích Ca ngay trước khi nhập Niết Bàn từng căn dặn đệ tử không được bói
toán, xem sao, xem tướng, làm những điều dị lạ, mê hoặc quần chúng, cho nên
đứng về mặt lý thuyết mà nói, đạo Phật tất nhiên phải bài xích những tập tục mê
tín, dị đoan. Nhưng thực tế, cũng chính từ trong đạo Phật, từ trong các chùa
chiền, không phải bây giờ mà ngay từ rất lâu, ở nhiều nước khác, kể cả Ấn Độ và
ở nước ta, từ ngay thời Lý, đạo Phật rất thịnh đạt, đã nảy nở ra nhiều tập tục mê
tín, dị đoan, tốn tiền của và không có lợi đối với đời sống đạo đức xã hội.
Đạo Phật là đạo của trí tuệ, của giác ngộ và giải thoát, cho nên xa lạ với
mê tín dị đoan, Phật tử cầu được giác ngộ và giải thoát, chứ không cầu có quyền
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status