1
Lời cảm ơn
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn cô giáo
……….đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn…….., các thầy cô
giảng dạy tại trường ………..đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận
được sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 - 2015
Tác giả luận văn
2
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “…………” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng
mình !
Hà Nội, ngày ………….
Người cam đoan
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Truyền hình là một loại hình báo chí đặc thù. Ngôn ngữ trên
sóng truyền hình có một vị trí quan trọng trong việc thể hiện, phản ánh đời
sống kinh tế, văn hoá - xã hội của con người. Vì vậy, việc sử dụng ngôn
ngữ trên truyền hình là vấn đề được xã hội rất quan tâm. Hiện nay, trước
thực tế việc sử dụng ngôn ngữ thiếu chọn lọc, thiếu sáng tạo, thậm chí chưa
tôn trọng sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng Việt trên các thể loại báo chí đã
và đang thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn, các nhà ngôn ngữ học
và đông đảo các tầng lớp nhân dân.
1.2. Đài PTTH Thanh Hóa được thành lập vào ngày 26/9/1956, là cơ
quan ngôn luận của lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá. Trải qua 58 năm hoạt
động và phát triển nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách căn bản, toàn diện về đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong các chương
trình của Đài, đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ trong thể loại phóng sự xã
hội - một thể loại được nhiều khán giả quan tâm và được coi là “điểm
nhấn” của các đài PT - TH nói chung, Đài PT - TH Thanh Hoá nói riêng.
1.3. Thực tế cho thấy, phóng sự xã hội là thể loại để khẳng định tài
năng, bản lĩnh của người làm báo; đồng thời là thể loại giúp người làm báo
bộc lộ cái “tôi” của mình, phản ánh đúng người thật, việc thật diễn ra trong
cuộc sống thường ngày. Tuy nhiên, nhiều năm qua việc đánh giá những ưu
5
điểm để phát huy và hạn chế để khắc phục, hoặc từ đó lựa chọn phương án
sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong các chương trình của Đài PT TH Thanh Hóa, trong đó có phóng sự xã hội của đài thực sự còn bỏ ngỏ.
Với những lý do trên, là phóng viên đang công tác tại Đài PT - TH
cứu về ngôn ngữ truyền hình chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi thể
loại báo chí truyền hình được đánh giá là thành tựu to lớn của khoa học
công nghệ hiện đại, là loại hình báo chí hiện đại nhất của thời đại việc chú
ý đến nội dung trong đó có ngôn ngữ trong các chương truyền hình sao cho
tương xứng với vị trí vai trò của truyền hình là việc làm đáng kể. Tuy nhiên
các cuốn sách đều không bàn về đặc điểm sử dụng ngôn ngữ phóng sự xã
hội trên truyền hình mà chỉ nói đến ngôn ngữ báo chí nói chung.
Bên cạnh đó, có một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp của một số
học viên, sinh viên, tác giả Nguyễn Thu An trong “ngôn ngữ báo chí
Intenet” trong luận văn này chỉ nêu ra những đặc điểm chung về ngôn ngữ
của loại hình báo chí này. Và một số khóa luận có nghiên cứu chuyên sâu
về từng thể loại như phóng sự báo chí trực tuyến của tác giả Lê Minh
Thanh, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội.
Qua việc nghiên cứu các tài liệu tham khảo trên, chúng tôi thấy chưa
có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của phóng sự xã hội
truyền hình nói chung, đặc biệt là phóng sự xã hội của một đài địa phương
như Đài PT-TH Thanh Hóa. Vì vậy, tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đặc điểm sử dụng
ngôn ngữ của phóng sự xã hội trên truyền hình qua tư liệu Đài PTTH
Thanh Hóa, nhằm đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ
phát thanh truyền hình nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng tới giải quyết những nhiệm vụ
sau:
hình.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể giúp ích cho việc nâng
cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ của tờ báo hình, một thể loại báo chí
đang được đánh giá cao hiện nay, cụ thể là nâng cao chất lượng các phóng
sự xã hội trên Đài phát thanh và truyền hìnhThanh Hóa.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm
có 4 chương:
Chương I. Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Chương II. Đặc điểm vể từ ngữ trong phóng sự xã hội
Chương III. Đặc điểm về câu trong phóng sự xã hội
Chương IV: Đặc điểm văn bản trong phóng sự xã hội
9
NỘI DUNG
Chương I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
1.1.
Phóng sự trên truyền hình
1.1.1. Phóng sự
1.1.1.1. Khái niệm
Có nhiều quan niệm về phóng sự như quan niệm coi phóng sự là kể lại
một câu chuện có thật một cách ngắn gọn, chính xác, các chi tiết tập trung
nguyên nhân “tại sao” lại xảy ra. Vì thế nó đi sâu khám phá số phận một
con người, một tập thể người có tính chất điển hình trong hoàn cảnh điển
hình. Nó luôn bám sát vào một nhân vật hoặc một sự việc cụ thể để từ đó
xây dựng nên cấu trúc riêng của mình.
b. Phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình vận động biện chứng
phát sinh – phát triển; nguyên nhân – kết quả, lượng – chất.
Thể loại phóng sự có khả năng phản ánh cuộc sống với các sự vật,
hiện tượng khác nhau nằm trong quy luật của sự vận động, quy luật thống
nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập. Để làm được vậy, phóng sự sắp xếp,
ngăn ô các dữ kiện, dồn nén thông tin của cả quá trình biến đổi từ lượng
sang chất, vận động theo nhiều chiều, nhiều tầng, diễn ra trong một chu kì
thời gian nhất định.
c. Phóng sự sử dụng kết cấu, ngôn ngữ và bút pháp tạo ra sự uyển
chuyển trong quá trình tiếp cận thông tin.
11
Đây được cho là sự kế thừa các tinh hoa của văn học và các thể loại
khác. Nó được thể hiện ở một số mặt cụ thể sau:
• Kết cấu: Kết cấu được sử dụng thường chặt chẽ và logic, hoàn chỉnh
và rõ ràng, chất phác và bình dị. Thời gian luôn được sắp xếp theo những
trật tự tuyến tính nhất định do tác giả sắp xếp linh hoạt. Nó phụ thuộc vào
đối tượng phản ánh và ý đồ riêng của tác giả đồng thời nó chi phối nội
dung và sự sáng tạo của tác giả.
• Ngôn ngữ: Ngôn ngữ phóng sự phải chính xác, hàm xúc và biểu
cảm; phải là ngôn ngữ của nhân dân, đa diện, đa góc độ để tạo sự sinh động
cho bài phóng sự và biểu cảm tốt chủ đề cũng như nội dung của phóng sự.
• Các bút pháp thường được sử dụng nhiều nhất đó là mô tả, thuật, kết
hợp với bút pháp nghị luận. Biện pháp tu từ trong thể loại phóng sự đa
Do đó, đòi hỏi cấp thiết là các chương trình truyền hình phải có tính
định hướng, tính chính xác, tính chuẩn mực và tính văn hóa để phục vụ
đông đảo quần chúng, xứng đáng là tiếng nói của nhân dân.
1.1.2.2. Đặc trưng của phóng sự truyền hình
Phóng sự truyền hình là một phần của chương trình truyền hình. Kênh
nào, đài nào cũng phải có phóng sự. Nó chỉ linh hồn của chương trình
truyền hình. Nó cũng như các thể ký truyền hình khác, đều thông tin về
người thật, việc thật trong một quá trình phát sinh và phát triển. Đặc biệt,
nó đi sâu vào và giải quyết rõ những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình
diễn biến, bối cảnh của sự kiện và cách giải quyết các mâu thuẫn để làm
cho người xem có khả năng hình dung khá đầy đủ những biến cố xảy ra
như chính họ chứng kiến. Phóng sự luôn cố gắng thẩm định hiện thực, trả
lời những câu hỏi mà hiện thực đặt ra.
Qua những điều trên có thể đưa ra một khái niệm chung về phóng sự
truyền hình như sau: Phóng sự truyền hình là một thể loại báo truyền hình
thuộc nhóm chính luận nghệ thuật, phản ánh các sự kiện, con người, tình
huống, hoàn cảnh điển hình trong quá trình phát sinh , phát triển, đồng thời
thẩm định hiện thực đó qua cái tôi trần thuật vừa tỉnh táo lý trí, vừa cảm
xúc với bút pháp giàu chất văn học bằng phương tiện kỹ thuật truyền hình.
13
Ngoài đặc điểm chung của thể loại phóng sự, phóng sự truyền hình
cũng mang những đặc điểm riêng góp phần tạo nên thế mạnh của nó. Đó là
ngôn ngữ hình ảnh- âm thanh, thủ pháp Montage, phỏng vấn và phóng viên
trước ống kính. Tất cả những yếu tố trên góp phần làm nên đặc trưng riêng
của phóng sự truyền hình, đồng thời cũng cho ta thấy sự phức tạp khi tiến
hành thực hiện một phóng sự truyền hình. Do vậy, điều quan trọng là phải
có một kịch bản tốt, trong đó chứa đựng nội dung, hình thức thể hiện tác
cũng là sức mạnh của phóng sự truyền hình.
Âm thanh trong phóng sự truyền hình gồm ba yếu tố: tiếng động hiện
trường, lời bình, âm nhạc.
-Tiếng động hiện trường : Tiếng động sẽ làm tăng sự gợi cảm , tính chân
thực của phóng sự truyền hình, tác động vào nhận thức, tình cảm của công
chúng. Nó bao gồm âm thanh của thiên nhiên, âm thanh do sinh hoat của
con người tạo nên. Việc sử dụng tiếng động hiện trường từ cương độ, cao
độ đúng lúc cũng phải được dự kiến trong kịch bản.
- Lời bình: giúp người xem tổng hợp, khái quát được ý nghĩa của sự kiện
được phản ánh trong tác phẩm truyền hình. Nó là sự bổ sung cho những gì
mà người xem nhìn thấy trên màn hình và được tiến hành song song với
hình ảnh. Ý đồ lời bình hình thành ngay từ ttrong giai đoạn xây dựng kịch
bản .
-Âm nhạc: Là một trong ba yếu tố quan trọng của phóng sự truyền hình.
Âm nhạc có tác dụng làm tôn vinh thêm sự kiện. Mỗi bản nhạc khi sử
dụng phải phù hợp với kết cấu, ý đồ cũng như chủ đề tư tưởng của phóng
sự truyền hình .
Tuy mối quan hệ hình ảnh và âm thanh có thể khác nhau, nhưng điều
cốt yếu nhất là chúng bổ sung cho nhau, nâng đỡ nhau để truyền đạt ý đồ tư
tưởng của tác giả phóng sự truyền hình. Đúng như có ý kiến cho rằng. Theo
tác giả G. V. Cudơnhetxốp – X.L Xvich – A. Ia. Iurốpxki: “Ngôn ngữ
phóng sự truyền hình là ngôn ngữ tổng hợp của hình ảnh và âm thanh. Hai
15
yếu tố này luôn hỗ trợ và bổ sung cho nhau, cùng tạo nên hiệu quả thông
tin của phóng sự. Nếu như hình ảnh thuyết phục người xem bằng người
thật, việc thật thì lời bình giúp họ tổng hợp, khái quát và hiểu được bản
chất của sự việc, sự kiện phản ánh trong tác phẩm phóng sự. Lời bình có ưu
pháp này thường mang ít tính sống động.
Các phương pháp phỏng vấn khác như qua điện thoại, hộp thư
truyền hình, toạ đàm… cũng trở thành công cụ đắc lực bổ sung cho hai
phương pháp trên.
Phỏng vấn xuất hiện trong phóng sự truyền hình dưới các dạng:
Thứ nhất, là phóng viên đặt câu hỏi và người được phỏng vấn trả lời.
Phóng viên chất vấn những người có trách nhiệm khi vấn đề nảy sinh. Tuy
nhiên nêu phóng viên sử dụng nhiều dạng phóng sự nhiều dạng phỏng vấn
này, hiệu quả phóng sự sẽ giảm xuống vì kết cấu ý đồ tác phẩm bị loãng,
không chặt chẽ. Dạng này được sử dụng trong phóng sự điều tra, phóng sự
ngắn.
Thứ hai, ý kiến của người được phỏng vấn được xen vào lời bình
một cách khéo léo, nhằm thuyết phục cho những luận điểm mà phóng viên
nêu ra trong phóng sự truyền hình. Người xem không có ý thức phân biệt
rạch ròi giữa lời bình và phỏng vấn mà cảm giác đó là chỉnh thể nhuần
nhuyễn. Ưu điểm của dạng phỏng vấn này là ý đồ, chủ thể của phóng sự
truyền hình được thể hiện rõ nét, tập trung hơn, tiết kiệm thời gian phát
sóng, do đó dung lượng của phóng sự truyền hình loại này ngắn gọn nhưng
thông tin vẫn cao.
c. Phóng viên trước ống kính
Trong phóng sự truyền hình, việc phóng viên xuất hiện trước ống
kính để lại dấu ấn chủ quan về sự kiện một cách rõ nét, nó sử dụng sức
mạnh của cảm xúc tác động tới độc giả. Trong nhiều trường hợp, cảm xúc
17
thẩm mỹ trở thành một động lực đưa tác phẩm đạt tới những phẩm chất
khác lạ.
Bên cạnh đó, phóng viên xuất hiện như cái tôi nhân chứng khách
Ngôn ngữ phóng sự trên truyền hình
1.2.1. Ngôn ngữ
1.2.1.1.
Định nghĩa
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người.
Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn
ngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được tất cả các nhu cầu của con
người. Chính ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh
hoạt và lao động, giúp con người có thể diễn đạt và làm cho người khác
hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình. Hơn
nữa ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp vạn năng, vừa phục vụ số đông
đảo các thành viên trong cộng đồng vừa giúp các thành viên trong cộng
đồng có thể bộc lộ hết các nhu cầu giao tiếp.
Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Chức năng giao tiếp của ngôn
ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của nó bởi chức năng thể hiện
tư duy của ngôn ngữ biểu hiện ở hai khía cạnh: ngôn ngữ là hiện thực trực
tiếp của tư tưởng, ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tư
tưởng.
Cuối cùng, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt. Theo tác giả
Diệp Quang Ban: “Ngôn ngữ là sự hợp nhất của cái biểu hiện (vỏ âm
thanh) và cái được biểu hiện (khái niệm về sự vật, hiện tượng được phản
ánh, gọi tên)” [1,79]. Hai mặt này không bao giờ tách nhau nhưng lại có
quan hệ võ đoán với nhau. Mặt biểu hiện của ngôn ngữ mang tính hình
tuyến. Ngay từ đầu, ngôn ngữ đã đồng thời là tín hiệu, mang bản chất tín
hiệu. Chính bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, với tất cả những đặc trưng
riêng biệt và tính phức tạp trong hệ thống tổ chức của mình, là một nhân tố
theo những nguyên tắc nhất định để cấu tạo nên các ngữ.
Xét theo cấu tạo có thể chia ra từ đơn âm tiết và từ đa âm tiết. Từ
đa âm tiết lại có thể chia tiếp là từ ghép và láy. Nó thể hiện trong sơ đồ sau:
Từ
(Xét về đặc điểm cấu tạo)
20
Từ đơn
Từ phức
Từ ghép
Từ ghép
chính phụ
Từ láy
Từ ghép
đẳng lập
Từ láy
toàn phần
Từ láy phụ âm đầu
Từ láy
Dựa trên cấu tạo ngữ pháp, có thể chia thành:
Câu đơn: Là câu chỉ có một vế câu.Cần phân biệt câu đơn với câu
ghép và câu mở rộng thành phần. Câu đơn thường có một chủ ngữ, một vị
ngữ và có thể có một hoặc nhiều trạng ngữ nhưng có một số trường hợp
câu đơn không xác định được chủ ngữ vị ngữ. Đó là trường hợp của câu
đơn đặc biệt. VD: Câu đơn: Trời mưa. (C-V)
Câu ghép: là câu do nhiều vế câu ghép lại (thường là hai vế), mỗi vế
câu thường có cấu tạo giống câu đơn (có đủ cụm Chủ - Vị) và thể hiện một
ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những câu khác. Các câu ghép bắt buộc
phải có hai cụm chủ - vị trở lên. Hai vế của câu ghép được nối với nhau
bằng nhiều cách. Nhưng cách cơ bản nhất là nối trực tiếp, nối bằng quan hệ
từ và cặp từ hô ứng.
Dựa theo mục đích nói, có thể phân chia thành:
22
Câu nghi vấn là câu dùng để hỏi. Nó có từ nghi vấn như ai, gì, nào,
đâu, mấy, sao, bao giờ, bao lâu, bao nhiêu; à, ư, hả, chăng, chứ, (có)…
không, (đã)…chưa, v.v. hoặc từ hay nối các vế có mối quan hệ lựa chọn.
Câu cầu khiến là câu để yêu cầu, đề nghị, ra lệnh. Nó có từ cầu
khiến như hãy / đừng / chớ và chủ thể của hãy / đừng / chớ.
Câu cảm thán là câu có những từ ngữ như ôi, than ôi, hỡi ơi, chao ơi
(ôi), trời ơi; thay, biết bao, xiết bao để biểu lộ cảm xúc.
Câu trần thuật dùng để kể. Đó là kiểu câu không có dấu hiệu hình
thức của những kiểu câu khác (câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán).
c. Văn bản
Khái niệm về văn bản:
Văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của một hành vi tạo lời (hay hành vi
phát ngôn), mang một nội dung giao tiếp cụ thể, gắn liền với một đối tượng
tính liên kết là hai đặc trưng cơ bản.
1.2.2.
Ngôn ngữ phóng sự trên truyền hình
1.1.2.1. Định nghĩa
Ngôn ngữ là cách sử dụng từ ngữ, câu văn, văn bản trong một bài
phóng sự phát trên truyền hình. Cái cốt lõi để lại cho người xem, nghe bài
phóng sự vẫn là ngôn ngữ. Nó có thể ở dạng nói hoặc viết song nó là
phương tiện chiếm vai trò lớn trong biểu cảm và biểu đạt cụ thể chủ đề, chủ
đề tư tưởng của tác phẩm phóng sự. Để lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ cho
đúng, trúng và hay trong tác phẩm phóng sự, nhà báo phải xem xét tính
chất, quy mô của đối tượng phản ánh, trình độ của đối tượng tiếp nhận
thông tin và loại hình phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải bài phóng
sự đó.
1.2.2.3.
Đặc điểm ngôn ngữ phóng sự truyền hình
a. Phong cách ngôn ngữ
24
Đầu tiên, ngôn ngữ phóng sự trên truyền hình cũng phải mang
những đặc điểm chung nhất của ngôn ngữ báo chí. Đầu tiên đó là: cô đọng
nhưng biểu cảm, đặc biệt là tính ngắn gọn. Nó xuất phát từ chức năng cơ
bản của báo chí là thông tin nhanh. Muốn thông tin nhanh, nhiều làm cho
báo đa dạng phong phú, những nét rườm trong báo chí phải bị loại bỏ. Thứ
hai, nó phải hấp dẫn nhưng thuyết phục. Về nội dung, thông tin luôn phải
Thứ nhất, ngôn ngữ phải mang tính chính xác. Phóng sự là phản ánh
hiện thực một cách chân thật, khách quan, cho nên, các phương tiện ngôn
ngữ được sử dụng trong phóng sự thường chính xác và khách quan. Tính
chính xác thể hiện ở chỗ: ngôn ngữ phóng sự phải biểu đạt đúng bản chất
sự vật, hiện tượng trong từng thời khắc nhất định, trong từng bối cảnh cụ
thể, nhằm tạo ra một văn bản đơn nghĩa, dễ hiểu.
Thứ hai, ngôn ngữ phải hàm súc. Phóng sự phải miêu tả, kể lại câu
chuyện một cách cô đọng, logic và hàm súc. Tính hàm súc của ngôn ngữ
phóng sự nảy sinh từ yêu cầu: phải cung cấp một lượng thông tin cao,
không có dư thừa về con người và sự kiện trong một diện tích ngôn ngữ
hạn hẹp trên trang báo, trên sóng… cho nên cần phải dùng từ sao cho đắt
nhất, có giá trị biểu đạt cao nhất. Cung cấp thông tin một cách chính xác và
hàm súc, có nghĩa là ngôn ngữ đã thực hiện được chức năng giao tiếp lý trí
có hiệu quả cao nhất.
Thứ ba, ngôn ngữ phải biểu cảm. Biểu cảm là trong phóng sự ngôn
ngữ còn có giá thể biểu đạt chân thực những trạng thái tình cảm, cảm xúc
tâm lý, thái độ, ý kiếm của đối tượng được miêu tả và của chính tác giả, có
thể tác động đến nhận thức, tình cảm của đối tượng tiếp nhận thông tin,
khiến cho đối tượng tiếp nhận thông tin cũng nảy sinh cảm xúc, tình cảm,
thái độ như “đối tượng được miêu tả” và tác giả. Như vậy, người tiếp nhận
thông tin không chỉ được nhận thông tin mà còn như được chứng kiến,
tham gia vào sự kiện (vui, buồn, lo âu…) với tư cách của “người trong
cuộc”, có nghĩa là, ngôn ngữ đã thực hiện tốt chức năng tác động vào tâm
lý tiếp nhận thông tin của người đọc, thông qua tình cảm mà hướng dẫn