1
MỤC LỤC
Lời mở đầu.............................................................................................2
I.
Giới
thiệu
về
các
phương
thức
thanh
toán
quốc
tế................................................4
II.
Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến hiện nay và những ưu, nhược
điểm, biện pháp ngăn chặn rủi ro của các phương thức.............................................4
1.1. Phương thức chuyển tiền (Remittance)......................................................5
quá trình sản xuất và đẩy hanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Nếu
hoạt động TTQT được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến hoạt động lưu thông
hàng hóa tiền tệ giữa người mua, người bán diễn ra trôi chảy, an toàn hơn.Trong thời
đại toàn cầu hóa như hiện nay, khi hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra ngày càng nhiều
và các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng trở nên phổ biến, việc thanh
toán giữa người bán và người mua ở những vị trí địa lý cách xa nhau, với những rào
cản về ngôn ngữ, thói quen mua bán, luật lệ… không hề đơn giản. Dẫn đến nhu cầu
cần thiết phải có các phương tiện để thanh toán tiện lợi, ít rủi ro. Do đó các phương
thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phổ biến. Những phương thức
3
thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần được thay thế bằng những phương thức
thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn. Bạn thử hình dung nếu bạn có quan hệ đối
tác làm ăn với các thương nhân nước ngoài mà bạn không có các phương thức thanh
toán quốc tế thì sẽ như thế nào? Hẳn là không thể kinh doanh được rồi. Những phương
thức thanh toán quốc tế ngày nay ngày càng nhiều. Các doanh nhân sử dụng chúng
cũng một cách thông dụng hơn trong hoạt động giao thương của mình. Nhưng do tính
chất đặc biệt của nó nên rất dễ gặp rủi ro. Yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là
cần có kiến thức vững chắc về phương thức thanh toán quốc tế nhất định được áp dụng
trong từng lần giao thương. Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu điểm và nhược
điểm riêng, mỗi doanh nghiệp sẽ dựa vào khả năng của mình mà áp dụng loại phương
thức thanh toán phù hợp.
Bố cục của bài gồm có 2 phần:
I.
Giới thiệu về các phương thức thanh toán quốc tế
II. Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến hiện nay và những ưu, nhược
Phương thức nhờ thu( collection of payment)
Phương thức tín dụng chứng từ( documentary credit)
Hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được áp dụng phổ biến nhất
trong thanh toán quốc tế.
II. Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến hiện nay và những ưu, nhược
điểm, biện pháp ngăn chặn rủi ro của các phương thức
Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như
chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ...Mỗi phương thức thanh toán đều có
ưu điểm và nhược điểm, phù hợp với những quan hệ XNK khác nhau. Vì vậy việc lựa
chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên bàn bạc thống nhất, ghi
trong hợp đồng mua bán ngoại thương.
Đến nay, các phương thức thanh toán cơ bản và phổ biến thường được các
NHTM sử dụng là:
5
1.1. Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thức TTQT, trong đó một khách hàng của ngân hàng
(người có yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất
định cho người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định, trong một thời gian
nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Phương thức thanh toán chuyển tiền có thể được thực hiện bằng hai hình thức
chủ yếu sau:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer, M/T): là hình thức chuyển tiền trong đó
lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư
(1) Người xuất khẩu thực hiện giao hàng theo hợp đồng, lập bộ chứng từ hàng
hoá gửi cho người nhập khẩu để đi nhận hàng.
(2) Người nhập khẩu sau khi nhận hàng, kiểm tra hàng hoá và bộ chứng từ hàng
hoá, nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, lập giấy đề nghị
chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình.
(3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định, nếu
thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển
tiền và gửi giấy báo nợ cho nhà nhập khẩu.
(4) Ngân hàng chuyển tiền lập lệnh chuyển tiền gửi qua ngân hàng đại lý hoặc
chi nhánh của mình đến ngân hàng trả tiền.
(5) Ngân hàng trả tiền thực hiện ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi đồng thời
gửi báo có cho người hưởng lợi
1.2. Những ưu, nhược điểm và biện pháp ngăn chặn rủi ro của phương thức
chuyển tiền
Ưu điểm đối với các bên
- Với khách hàng: thủ tục chuyển tiền đơn giản, thuận lợi cho người chuyển
tiền; thời gian chuyển tiền ngắn nên người thụ hưởng có thể nhanh chóng nhận được
tiền.
- Với ngân hàng: ngân hàng chỉ tham gia với vai trò là trung gian thanh toán
thuần tuý để hưởng phí, không có trách nhiệm kiểm tra về sự hợp lý của thời gian
thanh toán và lượng tiền chuyển đi.
Nhược điểm
- Trong thanh toán chuyển tiền, chu chuyển hàng hoá dịch vụ có thể tách rời
khỏi chu chuyển tài chính trong thời gian tạo nên rủi ro cho cả hai bên (người chuyển
tiền và người thụ hưởng). Khi chuyển tiền trước (down payment), nhà nhập khẩu cứ lo
sợ mất tiền nếu nhà xuất khẩu không giao hàng hay giao hàng không đúng yêu cầu về
số lượng, chủng loại, chất lượng và thời gian làm vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của
8
Nhận xét: Phương thức thanh toán ghi sổ là phương thức thanh toán có lợi cho
nhà nhập khẩu được áp dụng khi nhà xuất khẩu muốn cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu
(bán hàng trả chậm) và thường sử dụng trong các trường hợp sau:
- Hai bên có quan hệ mua bán thường xuyên với số lượng không lớn và có sự tin
cậy lẫn nhau
- Nhà xuất khẩu gửi hàng cho nhà nhập khẩu/đại lý phân phối ở nước ngoài bán
- Thanh toán phí dịch vụ như cước phí vận tải, bảo hiểm, bưu điện, tiền hoa hồng, phí
ủy thác, lãi cho vay hoặc lợi tức đầu tư.
Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán ghi sổ
Giải thích quy trình:
(1)
(2)
(3)
Người bán giao hàng/ dịch vụ và gửi bộ chứng từ cho người mua.
Người bán ghi nợ vào tài khoản và gửi giấy báo nợ cho người mua.
Định kỳ thanh toán( tháng, quý , năm) người mua đến ngân hàng làm thủ
tục chuyển tiền trả cho người bán.
(4)
Ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền trả cho người xuất khẩu thông qua
ngân hàng dịch vụ người xuất khẩu.
(5)
Ngân hàng báo có cho người xuất khẩu
NHTH
(Collecting Bank)
(6)
(2)
(7)
(5)
(4)
(0)
Người uỷ thác
(Pricipal)
(1)
Người trả tiền
(Drawee)
Chú thích:
(0) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp dụng
phương thức “Nhờ thu phiếu trơn”
(1) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu theo quy định của hợp
đồng.
(2) Người xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng chứng từ tài chính tới
ngân hàng phục vụ mình.
(3) Ngân hàng gửi nhờ thu lập Lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính đến ngân
Người uỷ thác
(Exporter)
(6)
(0)
(5)
(4)
Người trả tiền
(Importer)
(1)
Chú thích:
(0) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp dụng
phương thức “Nhờ thu kèm chứng từ”
(1) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu theo quy định của hợp
đồng.
(2) Người xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng bộ chứng từ (bao gồm
chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính, nếu có) tới ngân hàng phục vụ mình.
12
(3) Ngân hàng gửi nhờ thu lập Lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ thanh
toán đến ngân hàng thu hộ.
Đối với ngân hàng nhờ thu và ngân hàng xuất trình:
- Có thu nhập từ phí nhờ thu, từ các giao dịch mua bán ngoại tệ và từ các giao
dịch khác có liên quan.
- Mở rộng được tín dụng tài trợ thương mại.
- Tăng cường được mối 0071uan hệ với ngân hàng đại lý, do đó tạo ra tiềm năng
về các giao dịch đối ứng.
Phương thức nhờ thu được tiến hành trên cơ sở văn bản pháp lý quốc tế thông
dụng của nhờ thu. Đó là “Quy tắc thống nhất về nhờ thu" số 522 của Phòng Thương
mại quốc tế, bản sửa đổi 1995.
4.1. Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó, theo yêu cầu của
khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) một ngân hàng (ngân hàng phát hành thư
tín dụng) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of credit), theo đó, ngân hàng
phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người thụ
hưởng L/C) khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành một bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C.
Theo điều 2 UCP600: “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù
được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ
ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
Thư tín dụng (L/C) hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán, nhưng sau khi ra
đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. Trong nghiệp vụ L/C, các ngân hàng
chỉ giao dịch căn cứ vào chứng từ, không liên quan đến hàng hoá. Ngân hàng ngoài vai
trò là người trung gian còn là người cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu, là người
cam kết trả tiền cho người xuất khẩu.
14
Sơ đồ 1.5: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
(2) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ
mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.
(3) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng phát hành mở L/C cho người xuất
khẩu hưởng. Chuyển bản chính cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo.
(4) Ngân hàng thông báo thực hiện chỉ thị của ngân hàng phát hành, thông báo
L/C bằng văn bản cho người xuất khẩu.
15
(5) Căn cứ vào các nội dung, điều kiện và điều khoản của L/C, người xuất khẩu
tiến hành giao hàng.
(6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ hàng hoá, chứng từ
thanh toán gửi về ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng thông báo) để yêu cầu thanh
toán.
(7) Ngân hàng thông báo xác nhận kiểm tra kỹ các chứng từ nhận được phù hợp
theo đúng điều kiện và điều khoản đã ghi trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân
hàng phát hành L/C yêu cầu thanh toán.
(8) Ngân hàng phát hành kiểm tra kỹ các chứng từ nhận được nếu thấy phù hợp
với các điều kiện và điều khoản ghi trong L/C thì tiến hành thanh toán cho người xuất
khẩu thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu.
(9) Ngân hàng phát hành đòi tiền người nhập khẩu và giao bộ chứng từ cho
người nhập khẩu nếu được chấp nhập
(10) Nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
Các loại L/C:
Theo ủy ban kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng thuộc ICC (Commission on
Banking Technique and pratice) L/C được phân loại theo các cách sau:
Phân theo loại hình (hay căn cứ vào tính chất cam kết của NH mở)
+ Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): L/C có thể hủy ngang, ít
người hưởng lợi khi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. Trong L/C có thể yêu cầu người
hưởng lợi ký phát hối phiếu trả ngay để đòi tiền.
+ Deferred L/C - L/C trả chậm: là loại L/C trong đó quy định việc trả tiền cho
người bán sẽ được thực hiên sau một thời gian nhất định kể từ ngày giao hàng (date of
B/L) hoặc ngày xuất trình chứng từ. Theo L/C này, người bán giao hàng và xuất trình
chứng từ như L/C quy định. Khi bộ chứng từ được ngân hàng xác định là hợp lệ , ngân
hàng sẽ chấp nhận thanh toán và thực hiện việc trả tiền vào ngày đáo hạn như đã quy
định, có thể một lần và cũng có thể nhiều lần theo thỏa thuận. Người hưởng không bắt
buộc phải ký phát hối phiếu trả sau để yêu cầu ngân hàng chấp nhận. Nếu cần thiết
phải sử dụng hối phiếu, người hưởng có thể ký phát hối phiếu trả sau và xuất trình
cùng với bộ chứng từ hoặc trả ngay xuất trình vào ngày đến hạn trả tiền do L/C quy
định. Ở các nước khu vực châu Á, L/C thường quy định sử dụng hối phiếu và ngân
hàng sẽ chấp nhận hối phiếu khi bộ chứng từ của người hưởng được xuất trình hợp lệ,
việc trả tiền sẽ được thực hiện vào ngày hối phiếu đáo hạn.
Phân loại theo việc xác nhận L/C
17
+ L/C có xác nhận (confirmed L/C): là loại L/C không hủy ngang do một NH
mở và được một NH khác xác nhận, tức là đảm bảo trả tiền theo yêu cầu hoặc theo sự
ủy nhiệm của NH mở. Sự xác nhận của NH này là một cam kết chắc chắn cộng thêm
vào cam kết chắc chắn của NH mở. Việc xác nhận L/C thường do người hưởng lợi đề
nghị khi họ lkhông tin tưởng vào khả năng trả tiền của ngân hàng mở hoặc không đánh
giá được khả năng tài chính của ngân hàng mở L/C hoặc không chấp nhận những rủi ro
chính trị tồn tại hay tiềm ẩn ở nước của ngân hàng mở. Việc xác nhận L/C được thể
hiện ngay trên L/C hoặc bằng một văn thư riêng. NH xác nhận có nghĩa vụ trả tiền,
chấp nhận hoặc chiết khấu không bảo lưu khi người hưởng xuất trình bộ chứng từ hợp
lệ. Trách nhiệm của NH xác nhận cũng tương tự như trách nhiệm của NH phát hành.
Phân loại theo đặc điểm sử dụng
+ L/C có thể chuyển nhượng (transferable L/c): là một L/C mà theo đó, người
hưởng lợi đầu tiên (First beneficiary) có quyền chuyển nhượng toàn bộ hay từng phần
L/C đó cho một hay nhiều người hưởng lợi thứ hai (second ben).
Trừ khi L/C có quy định khác (ví dụ: transferable without restritive), một L/C
chuyển nhượng chỉ có thể chuyển nhượng một lần từ người hưởng đầu tiên tới một hay
nhiều người hưởng thứ hai. Tuy nhiên việc người hưởng thứ hai tái chuyển nhượng cho
người hưởng đầu lại không bị cấm và người hưởng đầu vẫn có thể tiếp tục chuyển
nhượng L/C cho một người khác. Những phần của L/C chuyển nhượng cho nhiều
người không được vượt quá tổng số tiền của L/C và có thể chuyển nhượng riêng rẽ
miễn là trong L/C không ngăn cấm giao hàng và thanh toán từng phần.
L/C được chuyển nhượng theo các điều khoản, điều kiện đã quy định trong L/C,
ngoại trừ:
*Số tiền (thường ít hơn)
*Đơn giá (thấp hơn)
*Thời hạn hiệu lực (ngắn hơn).
*Thời hạn xuất trình chứng từ (sớm hơn).
*Thời hạn gửi hàng (có thể sớm hơn).
Ngoài ra tên của người hưởng lợi thứ nhất có thể thay thế cho tên của người yêu
cầu mở L/C.
+ L/C giáp lưng back to back L/C: là loại L/C không thể hủy ngang được mở
trên cơ sở một L/C khác. L/C giáp lưng là một L/C biệt lập được mở trên cơ sở của và
cùng với điều kiện như của một L/C gốc đã co (còn gọi là L/C thứ hai trên cơ sở một
L/C thứ nhất).
L/C giáp lưng cũng được dùng trong mua bán qua trung gian như L/C chuyển
nhượng. Điều khác nhau cơ bản và quan trọng nhất của hai loại L/C này là ngân hàng
19
20
+ Bán tự động (part automatic): sau khi sử dụng L/C, trong một thời hạn nhất
định, nếu không có thông báo gì từ phía ngân hàng mở L/C thì một L/C mới với những
điều kiện tương tự lại tiếp tục có hiệu lực. Trong L/C ghi: this will be operative for the
second &third shipment unless otherwise noticed by us.
+ Hạn chế (restrictive): phải có thông báo của ngân hàng mở về hiệu lực của
một L/C mới được tái lập thì L/C đó mới có giá trị. L/C ghi: reinstatement by us by
way of amendment.
L/C có thể tuần hoàn theo số tiền hoặc theo thời gian. Khi tuần hoàn theo thời
gian, L/C phải ghi rõ ngày hết hiệu lực của mỗi lần tuần hoàn, đồng thời phải quy định
rõ L/C đó là tuần hoàn tích lũy hay không tích luỹ.
+ Red clause L/C (anticipatory )- L/C có điều khoản đỏ : là loại L/C có điều
kiện cho phép người hưởng được nhận một khoản tiền trước khi giao hàng trên cơ sở
hối phiếu trơn hoặc hối phiếu kèm theo chứng từ chứng minh rằng đã có hàng để giao
như biên lai kho hàng (warrant hay warehouse’receipt), biên lai của người giao nhận
(forwarder’receipt)…Thông thường khi nhận khoản tiền ứng trước này, người hưởng
lợi có thể viết cam kết cho ngân hàng là sẽ xuất trình một bộ chứng từ theo quy định
của L/C sau đó. Khoản ứng trước sẽ được khấu trừ vào tiền thanh toán bộ chứng từ.
+ Stand-by L/C – L/C dự phòng: là một L/C không thể hủy ngang trong đó ngân
hàng mở cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu có sự vi phạm hợp đồng hay thỏa
thuận từ phía người xin mở L/C.
Trong L/C dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực hiện khi
có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C, ngược lại nếu không có sự vi phạm ấy,
L/C dự phòng sẽ không được thực hiện. L/C dự phòng được sử dụng như một hình
thức bảo lãnh trong một phạm vi rất rộng bao gồm các hoạt động thương mại, tài
chính…
Vai trò của ngân hàng trong phương thức tín dụng chứng từ:
Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng đơn thuần chỉ thực hiện chức năng
chuyển tiền trên danh nghĩa người mua và nhận tiền trên danh nghĩa người bán .
ngay cả trong trường hợp người mua gặp rủi ro và có dấu hiệu không thanh toán được.
Hơn hẳn các phương thức thanh toán khác như chuyển tiền (sau khi nhận hàng), ghi sổ,
22
nhờ thu việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của người mua thì ở phương
thức này, người xuất khẩu đã có được một đảm bảo từ phía ngân hàng. Khi sử dụng
phương thức thanh toán này, người xuất khẩu có thể được ngân hàng tài trợ bằng cách
xin chiết khấu bộ chứng từ (đối với L/C trả ngay) hoặc bán trước hạn các hối phiếu đã
được chấp nhận (đối với L/C trả chậm), do đó có thể nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư
tái sản xuất. Ngoài ra, khi sử dụng phương thức này, người xuất khẩu còn có thể tránh
rủi ro về quản lý ngoại hối của nước người nhập khẩu, vì khi L/C đã được mở thì người
nhập khẩu đã phải có giấy phép chuyển ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối. Đối
với các phương thức thanh toán chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tại thời điểm thanh toán
nếu nước người nhập khẩu có sự thay đổi về quản lý ngoại hối liên quan đến loại ngoại
tệ hai bên đã thoả thuận thanh toán thì rủi ro này sẽ hoàn toàn thuộc về phía người xuất
khẩu.
4.2. Những ưu, nhược điểm và biện pháp ngăn chặn rủi ro của phương thức tín
dụng chứng từ
Đây là một phương thức thanh toán khá an toàn, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vẫn
có thể có một số rủi ro xảy ra. Chẳng hạn như một trong hai bên không xem xét kĩ nội
dung của L/C trong trường hợp nội dung của L/C không phù hợp với hợp đồng cơ sở
(Cơ sở để kiểm tra L/C là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng cơ sở) hoặc
có một số điều trái pháp luật không được xem xét kĩ. Hoặc, Đặc biệt lưu ý đối với nhà
xuất khẩu (người thụ hưởng trong L/C), cần phải kiểm tra kỹ lưỡng thư tín dụng. Bởi
vì nếu có sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nhà
xuất khẩu không phát hiện ra được mà cứ tiếp tục giao hàng thì nhà xuất khẩu sẽ khó
đòi được tiền hoặc ngược lại nếu từ chối giao hàng thì vi phạm hợp đồng….