TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
THẢO LUẬN MÔN
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Tên đề tài:
Tìm hiểu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 2010 –
2012 và so sánh cơ cấu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
với Trung Quốc
Nhóm thực hiện (Nhóm 4) : HOÀNG TÙNG LÂM
VŨ THANH LỊCH
LÊ THỊ LIÊN
BÙI THỊ LUẬN
NGUYỄN THỊ LƯƠNG
NGUYỄN HẰNG LY
TRỊNH THỊ NGỌC MAI
Lớp : CH21H
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
2.2.Kết cấu theo chiều ngang: 4
II.HIỆU ỨNG TUYẾN J 7
1.Phá giá đồng tiền, tích cực và tiêu cực của việc phá giá đồng tiền 7
2.Tác động lên cán cân thanh toán quốc tế 8
3.Áp dụng vào những số liệu thực tế của Việt Nam từ năm 2010 – 2012 9
4.Áp dụng vào những số liệu thực tế của Trung Quốc từ năm 2010 – 2012 10
III.CÁC THỪA SỐ TRONG NỀN KINH TẾ MỞ 11
1.Chi tiêu chính phủ 12
2.Thừa số xuất khẩu 13
3.Ảnh hưởng lên cán cân vãng lai 13
3.1.Chi tiêu chính phủ 17
QUỐC TẾ (CCTTQT)
1. Khái niệm về CCTTQT:
The Balance of Payments (BP)
- Là bảng cân đối, so sánh và đối chiếu giữa các khoản tiền thu được từ ở nước
ngoài với các khoản tiền phải chi trả cho nước ngoài.
- Là một biểu tổng hợp phản ánh tất cả các giao dịch dưới hình thức tiền tệ của
một nước với các nước khác.
- Là một bản báo cáo thống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa
những người cư trú với người không cư trú trong 1 thời kỳ nhất định, thường
là 1 năm (IMF).
2. Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế:
2.1. Kết cấu theo chiều dọc:
Theo chiều dọc, BP gồm 4 cột chính là:
- Cột: “ Nội dung giao dịch”
- Cột: “ Doanh số thu” hay cột “Thu”
- Cột “Doanh số chi” hay cột “Chi”
- Cột “Cán cân ròng”
Bất kỳ 1 khoản thu nào, bất kỳ một đồng tiền nào, không kể nguyên nhân phát
sinh, đều được ghi vào cột “Thu” và có dấu (+)
Bất kỳ 1 khoản chi nào, bất kỳ một đồng tiền nào, không kể nguyên nhân phát
sinh, đều được ghi vào cột “Chi” và có dấu (-)
BP được lập lấy vị thế của nền kinh tế, trong đó không có NHTW, nên bất kỳ một
khoản ghi (+) hay (-) nào đều phản ánh luồng tiền vào (thu) và luồng tiền ra (chi) đối với
nền kinh tế.
Do BP được hạch toán theo nguyên tắc bút toán kép, nên tổng doanh số thu luôn
bằng tổng doanh số chi nhưng ngược dấu, nghĩa là BP luôn tự động cân bằng.
Chênh lệch giữa “doanhh số thu” và “doanh số chi” của từng cán cân bộ phận tạo
ra cán cân ròng của cán cân này.
2.2. Kết cấu theo chiều ngang:
Do có nhiều các giao dịch thu chi quốc tế, nên BP phải được kết cấu theo một số
- Vay (hay hợp đồng hoán đổi) IMF và các NHTW khác
- Tăng tài sản nợ tại các NHTW nước ngoà
e. Cán cân bù đắp chính thức (Official Financing Balance – OFB) bao gồm
các hạng mục:
- Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (∆R)
- Tín dụng với IMF và các NHTW khác (L)
- Thay đổi dự trữ của các NHTW khác bằng đồng tiền của quốc gia lập cán
cân thanh toán (≠)
OFB = ∆R + L + ≠
f. Nhầm lẫn và sai sót (OM)
OM = – (CA + K + OFB)
Đây là căn cứ tính nhầm lẫn và sai sót khi lập BOP trong thực tế.
Cho đến nay, khi nói đến thâm hụt hay thặng dư cán cân thanh toán (BOP) mà
không nói rõ đó là cán cân nào thì người ta hiểu đó là thặng dư hay thâm hụt cán cân tổng
thể (OB), hay còn gọi là cán cân thanh toán chính thức của quốc gia (Official Settlements
Balance).
3. Trạng thái của BOP
3.1. Thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại
- Thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại thường quyết định đến tình trạng
của cán cân vãng lai.
- Để cân bằng cán cân thương mại, các biện pháp chủ yếu thường được áp
dụng sẽ tác động vào lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua các hình
thức thuế quan, quotas, v.v… và tác động vào tâm lý tiêu dùng hàng hoá
nhập khẩu của công chúng.
3.2. Thâm hụt và thặng dư cán cân vãng lai
- Cán cân vãng lai gồm cán cân thương mại (hữu hình), cán cân dịch vụ, thu
nhập và các chuyển giao vãng lai (vô hình).
- Phân tích cán cân vãng lai có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ
mô vì tình trạng của cán cân này tác động trực tiếp đến tỷ giá, lãi suất, tăng
trưởng kinh tế, lạm phát và cuối cùng tác động đến cán cân tổng thể.
môi trường
- Tăng xuất khẩu vốn ra nước ngoài để tận dụng hiệu quả sử dụng vốn và phát
huy ảnh hưởng, mở rộng thị trường
- Tăng dự trữ quốc tế, mua lại các khoản nợ.
3.6. Khi cán cân thanh toán ở tình trạng thâm hụt
- Vận hành chính sách thương mại quốc tế theo hướng tăng xuất khẩu, hạn chế
nhập khẩu: giới hạn kinh tế của chính sách bảo trợ
- Vận hành chính sách tài khoá theo hướng thắt chặt Ngân sách Nhà nước:
chính sách “thắt lưng buộc bụng”
- Vận hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt mức cung tiền tệ
- Phá giá tiền tệ để thúc đẩy lượng xuất khẩu đồng thời giảm lượng nhập khẩu:
giới hạn của phá giá tiền tệ
- Giảm dự trữ quốc tế thông qua bán các giấy tờ có giá và xuất khẩu vàng
- Vay nợ nước ngoài để thanh toán các khoản chi trả và đến hạn trả: đảo nợ và
sự gia tăng nợ (thâm hụt) trong dài hạn
- Tuyên bố tình trạng vỡ nợ hay mất khả năng trả nợ nước ngoài.
6
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
II. HIỆU ỨNG TUYẾN J
1. Phá giá đồng tiền, tích cực và tiêu cực của việc phá giá đồng tiền.
Nghiên cứu ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đến tình trạng Cán cân thanh toán quốc
tế là một điều hết sức cần thiết bởi tỷ giá là một công cụ điều tiết kinh tế khá phổ biến đối
với các nhà hoạch định chính sách.
Phá giá tiền tệ (devaluation) là việc một quốc gia làm giảm giá đồng nội tệ của
mình so với đồng ngoại tệ, khiến đồng nội tệ mất giá ở một mức nào đó. Phá giá tiền tệ
có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
* Tích cực:
Khi phân tích tác động của việc phá giá đồng nội tệ ai cũng nghĩ đến tác động tích
cực đó là giúp tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và cải thiện tình trạng của cán cân
thương mại. Khi đó, hàng hoá trong nước sẽ rẻ hơn tương đối so với hàng hoá nước
nội tệ bằng một tỷ lệ lạm phát cao.
Trong dài hạn, giá cả trong nước vẫn có nguy cơ tăng do các áp lực từ phía tổng
cung. Một là, giá cả hàng nhập khẩu đắt lên khiến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp
sử dụng đầu vào nhập khẩu tăng dẫn đến tăng giá. Hai là, người tiêu dùng sử dụng hàng
7
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
nhập khẩu giá cao hơn sẽ có nhu cầu tăng lương gây áp lực tiền lương tăng. Cuối cùng,
việc tăng giá và tiền lương sẽ triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của phá giá. Có thể nói, phá giá
đồng tiền danh nghĩa không thể ảnh hưởng đến các biến số thực tế của nền kinh tế trong
dài hạn.
Thứ ba, phá giá mạnh đồng nội tệ sẽ khiến gánh nặng nợ nước ngoài của quốc gia
đó tăng lên do cần nhiều nội tệ hơn để trả các khoản nợ nước ngoài.
Ngoài ra, phá giá tiền tệ còn có thể khiến người dân mất lòng tin vào giá trị đồng
nội tệ và chính sách điều hành tỷ giá của Chính phủ. Kết quả là hiện tượng đầu cơ vào
các ngoại tệ mạnh (thường là USD) hay hiện tượng đô la hóa trở nên phổ biến gây mất ổn
định thị trưởng tiền tệ.
2. Tác động lên cán cân thanh toán quốc tế
Để làm rõ những tác động của phá giá tiền tệ đến cán cân thanh toán quốc tế có
nhiều hướng tiếp cận nghiên cứu. Phương pháp tiếp cận Marshall – Lerner hay còn gọi là
cách tiếp cận co giãn là một phương pháp tiếp cận được đánh giá cao.
Cán cân thương mại được biểu hiện bằng giá trị chứ không phải khối lượng hàng
hoá xuất và nhập khẩu.
Cán cân thương mại tính bằng nội tệ:
TB = P.Q
x
– E.P
*
.Q
m
Trong đó: P: mức giá trong nước
x
+ ŋ
m
)=1 Cán cân thương mại cân bằng
* Tương tự với cán cân thương mại tính bằng ngoại tệ
Từ đó cho thấy phá giá đồng tiền nội tệ tạo ra hiệu ứng tăng khối lượng xuất khẩu
và hạn chế khối lượng nhập khẩu, song xét về mặt giá trị thì cán cân thương mại không
nhất thiết được cải thiện.
Do các nguyên nhân:
- Cầu nhập khẩu không giảm ngay trong ngắn hạn
- Cung xuất khẩu không tăng ngay trong ngắn hạn
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Nên sau khi phá giá, hiệu ứng giá cả có tác dụng làm cho cho cán cân thương mại
trở nên xấu đi ngay lập tức, trong khi đó hiệu ứng khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu chỉ
cải thiện được cán cân thương mại trong dài hạn. Đặc điểm này được biểu diễn bằng
tuyến J như sau:
8
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
Đối với những nước công nghiệp phát triển, do nền kinh tế được đặc trưng bởi
những hàng hóa đủ tiêu chuẩn tham gia thương mại quốc tế (ITG), nên khi phá giá làm
cho khối lượng nhập khẩu giảm nhanh, khối lượng xuất khẩu tăng nhanh trong ngắn hạn,
do đó hiệu ứng khối lượng có tác dụng tích cực ngay trong ngắn hạn, dẫn đến cán cân
thương mại chỉ bị xấu đi tạm thời trong ngắn hạn, và sẽ được cải thiện rõ rệt trong dài
hạn.
Đối với những nước đang phát triển, khi phá giá làm cho khối lượng xuất khẩu
tăng chậm và khối lượng nhập khẩu giảm chậm, do đó, hiệu ứng khối lượng có tác dụng
mờ nhạt, dẫn đến cán cân thương mại bị xấu đi rõ rệt trong ngắn hạn. Các nước này cần
phải thi hành một số biện pháp để cái thiện tình trạng này, rút ngắn thời gian ảnh hưởng
tiêu cực:
- Tăng tỉ trọng hàng hóa ITG có sẵn trong nền kinh tế.
+ ŋ
m1
) = 4,13 => Cán cân thương mại Việt Nam được cải thiện
Tương tự:
(ŋ
x2
+ ŋ
m2
) = 8,69 + (-4,05) = 4,64
=> Cán cân thương mại Việt Nam được cải thiện hơn
9
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
Giả sử năm 2012 tổng lượng xuất nhập nhập của Việt Nam giữ nguyên trong khi
tỷ giá là 22.000VND/USD.
(ŋ
x3
+ ŋ
m3
) = 2,47 + (-1,15) = 1,32 => Cán cân thương mại Việt Nam được cải
thiện ít hơn.
Do đó, chính sách bình ổn tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn này là đúng đắn.
4. Áp dụng vào những số liệu thực tế của Trung Quốc từ năm 2010 – 2012
Bắt đầu từ tháng 6 năm 2012 tới quý I 2012, tỷ giá đồng nhân dân tệ luôn giảm
dần theo từng tháng trước sức ép tăng giá nhân dân tệ từ Mỹ. Việc làm này nhằm mục
đích giảm thặng dư thương mại của Trung Quốc đồng thời để bảo vệ vị thế đồng tiền
quốc tế của đô la Mỹ.
Sau Mỹ, đến lượt những nước đang phát triển như Brazil và Ấn Độ cũng cho rằng
Trung Quốc nên bắt đầu thay đổi chính sách đối với đồng nhân dân tệ. Sự tăng giá của
đồng nhân dân tệ rất cần thiết đối với sự cân bằng của kinh tế thế giới. Nếu Trung Quốc
tăng giá đồng nhân dân tệ, tác động tích cực sẽ sớm xuất hiện. Nếu một số nước kiểm
Q1 2012 6.2943 411.045 389.855 21.190
Q2 2012 6.3249 504.804 414.337 90.466
Với các chính sách phát triển kinh tế hợp lý, khi tỷ giá đồng nhân dân tệ giảm,
Trung Quốc kéo dài được thời gian ảnh hưởng tích cực, cán cân thương mại năm 2011
vẫn giữ ở mức tương đương năm 2010 mặc dù, tỉ giá đã giảm đi xấp xỉ 5%.
Tuy nhiên, do là nước có nền công nghiệp khá phát triển, trong dài hạn, ảnh hưởng
của hiệu ứng tuyến J là rất rõ ràng, cán cân thương mại bị xấu đi rõ rệt, cụ thể theo số liệu
Quý I 2012.
Rất may mắn cho Trung Quốc, sau thời điểm đó, vào quý II 2012, IMF thay đổi
quan điểm về chính sách tỷ giá của Trung Quốc: thặng dư cán cân vãng lai của Trung
Quốc đã giảm mạnh và đồng Nhân dân tệ đã tăng giá. Nhân cơ hội này, Trung Quốc chủ
động phá giá đồng nhân dân tệ 0.8% trong quý II. Nhờ tận dụng tốt các ưu thế kinh tế,
Trung Quốc rút ngắn được thời gian ảnh hưởng xấu theo hiệu ứng tuyến J, cán cân
thương mại được cải thiện rõ rệt với sự tăng trưởng rất nhanh của thặng dư thương mại
quý II.
III. CÁC THỪA SỐ TRONG NỀN KINH TẾ MỞ
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự cân
bằng của cán cân thanh toán. Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố
khác nhau trong đó có cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư
thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại. Sự cân
bằng của cán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguồn cung và cầu ngoại tệ
cấu thành nên cán cân thanh toán quốc tế. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định
nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh
toán hàng nhập khẩu tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì
các hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung
ngoại tệ giảm đi. Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnh trong ngắn
hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao.
Phương trình tổng thu nhập Y = C + I + G + X - M
Trong đó C = C
a
Ví dụ: Trong năm 2008 tỷ lệ lạm phát của Việt Nam rất cao so với các năm trước đó
trong khi tỷ lệ lạm phát của Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan… và một số nước vẫn ở mức
bình thường, do đó trong năm 2008 nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam tăng cao dẫn tới
nhu cầu USD tăng làm cho tỷ giá USD/VND tăng cao.
Sự tác động của lạm phát đến tỷ giá là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tình hình
của cán cân thương mại, cán cân thanh toán, cơ cấu nợ nước ngoài… lý thuyết về ngang
giá sức mua sẽ phân tích rõ những tác động này.
Lý thuyết ngang giá sức mua tập trung vào mối quan hệ giữa lạm phát-tỷ giá hối
đoái. Có nhiều hình thức khác nhau của lý thuyết này. Theo hình thức tuyệt đối còn được
gọi là luật một giá cho rằng giá cả của các sản phẫm giống nhau của các quốc gia khác
nhau sẽ bằng nhau khi được tính bằng một đồng tiền chung.
Để thấy rõ sự ảnh hưởng của nó đến cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam ta
sẽ phân tích chi tiết từng thừa số.
1. Chi tiêu chính phủ
Chính phủ của bất kỳ một nước nào cũng có thể thực hiện các chính sách thuế
khoá và tiền tệ riêng của mình để kiểm soát nền kinh tế. Xét trên góc độ chính sách tiền
tệ, chính phủ có thể cố gắng tác động đến giá trị của đồng nội tệ để cải thiện kinh tế, hạ
giá đồng tiền của mình trong vài trường hợp và tăng giá trong vài trường hợp khác. Về cơ
bản, tỷ giá hối đoái trở thành một công cụ, giống như các luật lệ về thuế và mức cung
tiền, qua đó có thể giúp chính phủ đạt được các mục tiêu kinh tế mong muốn. Mỗi nước
có một cơ quan chính phủ có thể can thiệp thị trường ngoại hối để khống chế giá trị của
một đồng tiền, thông thường là ngân hàng trung ương (NHTW). Các NHTW hoạt động
dựa trên lý thuyết là tiền tệ sẽ có thể biến động nhiều hơn nếu không có can thiệp. Các
ngân hàng này cố gắng kiểm soát tăng trưởng của mức cung tiền tệ ở các nước tương ứng
theo cách thức sẽ tác động thuận lợi đến các điều kiện kinh tế.
Yếu tố chí tiêu chính phủ được xác định độc lập với các quyết định về chính trị.
Thừa số chi tiêu chính phủ biểu diễn mức tăng thêm của thu nhập quốc dân khi chi tiêu
chính phủ tăng thêm 1 đơn vị.
Để có được thừa số này ta lấy đạo hàm của Y theo G
dG
mức cung tiền tệ, NHTW sẽ sử dụng can thiệp vô hiệu hoá bằng cách áp dụng các giao
dịch trên thị trường ngoại hối đồng thời với các hoạt động trên thị trường mở.
● Can thiệp gián tiếp: NHTW có thể tác động đến đồng nội tệ một cách gián tiếp
bằng cách tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến đồng nội tệ; như lãi suất, các biện pháp
kiềm chế lạm phát… Một chính phủ cũng có thể tác động đến đến các tỷ giá hối đoái
bằng cách áp đặt các hàng rào đối với tài chính và mậu dịch quốc tế; như thuế nhập khẩu,
hạn ngạch nhập khẩu, thuế đánh trên bất cứ thu nhập nào do đầu tư ở nước đó của các
nhà đầu tư ngoại quốc.
2. Thừa số xuất khẩu
Thừa số xuất khẩu là do chi tiêu của nước ngoài và mức thu nhập của nước ngoài
quyết định. Thừa số này biểu diễn mức tăng thêm của 1 đơn vị của thu nhập quốc dân khi
xuất khẩu tăng thêm 1 đơn vị. Để có được thừa số này ta lấy đạo hàm của Y theo X, ta có
dX
dY
=
ms +
1
>1
Như vậy thừa số xuất khẩu giống thừa số chi tiêu chính phủ. Trong thực tế thường
có quan điểm thiên vị cho rằng chi tiêu chính phủ kích thích tăng thu nhập quốc dân
mạnh hơn chi tiêu tư nhân. Điều này hàm ý rằng giá trị của m trong thừa số chi tiêu chính
phủ nhỏ hơn gái trị m của thừa số xuất khẩu. Nếu điều này xảy tra ra trong thực tế thì
tăng chi tiêu chính phủ sẽ kích thích tăng thu nhập quốc dân nhiều hơn so với xuất khẩu
Ví dụ: s = 0.25 và m = 0.2 khi xuất khẩu tăng thêm 100$ ta sẽ có thu nhâp quốc
dân được tính như sau:
dY =
2.025.0
1
+
. 100 = 222$
Thu 2.889 1.881
Chi 2.755 3.258
3. Thu nhập đầu tư -1.084 -1.119
Thu 134 208
Chi 1.218 1.327
4. Chuyển tiền 2.132 1.966
Khu vực tư nhân 2.072 1.879
Khu vực Chính phủ 60 87
B. Cán cân vốn và tài chính
(5+6+7+8+9)
1.339 1.442
5. Đầu tư trực tiếp 1.630 1.770
FDI vào Việt Nam 1.780 1.970
FDI ra nước ngoài 150 200
6. Vay trung-dài hạn 81 310
Vay 1.191 1.031
Vay của CP 650 612
Vay của DN (trừ DN FDI) 541 419
Trả nợ gốc 1.110 721
Trả nợ của CP 297 132
Trả nợ của DN (trừ DN FDI) 813 589
7. Vay ngắn hạn 474 863
Vay 3.336 4.572
Trả nợ gốc 2.862 3.709
8. Đầu tư vào GTCG 774 397
Đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam 774 299
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài 0 -98
9. Tiền và tiền gửi 439 -104
10. Tài sản khác -2.059 -1.794
C. Lỗi và sai sót (D-A-B) -430 -673
lai được duy trì ở mức khá cân bằng, thặng dư 200 triệu USD, và chỉ chiếm 0,1% GDP,
con số thặng dư thấp nhất trong số các nền kinh tế được báo cáo.
Các thông tin trên là một dấu hiệu tốt khi khu vực châu Á đang đóng góp vào công
cuộc thu hẹp sự mất cân bằng toàn cầu, tuy nhiên lý do ẩn dưới sự cải thiện này có thực
sự tích cực?
15
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
Nếu tiếp cận cán cân thanh toán từ phía tiết kiệm – đầu tư, thặng dư tài khoản
vãng lai có thể giảm nhờ 2 lý do: tiêu dùng tăng cao (điều cần thiết cho hầu hết các nền
kinh tế châu Á) hoặc tăng đầu tư ra nước ngoài (một kịch bản ít được mong đợi hơn).
Biểu đồ trên cho thấy 5 quốc gia đang ở những góc phần tư hợp lý là: Hồng Kông
(tài khoản vãng lai giảm và tiêu dùng nhiều hơn), Indonesia và Philippines (tài khoản
vãng lai ổn định, đầu tư nhiều hơn), Hàn Quốc (cả tài khoản vãng lai, tiêu dùng và đầu tư
đều ổn định), Việt Nam (cả tài khoản vãng lai lẫn đầu tư đều tăng, chứng tỏ tiết kiệm
trong nước vẫn tăng mạnh hơn mức tăng đầu tư ra nước ngoài).
Trung Quốc và Ấn Độ tuy đều có thặng dự thương mại, song đầu tư ra nước
ngoài lại tăng mạnh hơn tiêu dùng trong nước, cho thấy ngày càng ít cơ hội đầu tư và
tạo lợi nhuận tại 2 nước này. Báo cáo của ANZ chỉ ra rằng việc có những lệch lạc trong
thay đổi tài khoản vãng lai của hai nền kinh tế lớn của khu vực cho thấy còn rất nhiều
điều cần làm để đưa tăng trưởng kinh tế khu vực theo hướng ổn định, an toàn và bớt phụ
thuộc hơn, dựa trên cơ sở tiêu dùng nội địa.
Trong báo cáo, ANZ cũng dự báo lãi suất tái cấp vốn của Việt Nam sẽ được Ngân
hàng Nhà nước duy trì ở mức 14% trong tháng này, sau khi vừa cắt giảm 1% vào giữa
tháng Ba, sau đó giảm dần xuống 11% vào cuối năm và duy trì ở 10% trong nửa đầu năm
2013.
ANZ dự báo mặc dù tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn khi GDP quý I/2012 chỉ
tăng 4%, Việt Nam vẫn sẽ đảm bảo tăng trưởng GDP từ 5,5-6% cho cả năm.
16
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
Nhập khẩu trong tháng 3/2012 chỉ tăng 5,0% trong khi xuất khẩu tăng 22,9%, đem lại
xấu đi tương ứng một lượng là 37.5$
3.2. Xuất khẩu
Để do được ảnh hưởng của xuất khẩu lên cán cân vãng lai ta lấy đạo hàm của CA
theo X
17
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
dX
dCA
= 1-
ms
m
+
=
ms
s
+
> 0
thừa số này lớn hơn 0 có nghĩa là khi xuất khẩu tăng sẽ làm ảnh hưởng tốt đến cán
cân vãng lai. Nhưng do s/(s+m) <1 nên khi xuất khẩu tăng thêm 1 đơn vị thì cán cân vãng
lai tăng nhỏ hơn 1 đơn vị. Lý do là một phần tăng do xuất khẩu đã dùng để nhập khẩu.
Ví dụ s = 0.25, m = 0.15, khi xuất khẩu tăng thêm 100 $ thì cán cân vãng lai sẽ
tăng thêm là
dCA =
ms
s
+
. dX = 62,5$.
Như vậy khi xuất khẩu tăng 100$ thì cán cân vãng lai tăng 62,5 $
18
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
- Nhập khẩu hàng hóa (FOB)
Cán cân dịch vụ
- Thu từ xuất khẩu dịch vụ
- Chi cho nhập khẩu dịch vụ
Cán cân thu nhập
- Thu
- Chi
Chuyển giao vãng lai 1 chiều
- Thu
- Chi
+72.237
+7.460
+456
+7.885
+96.906
+8.879
+395
+8.685
+114.550
+9.170
+370
+8.081
-77.373
-9.921
-5.020
4.276
-97.356
-11.859
-5.414
-236
-3.689 -5.474 -3.816 -3.689
OB
Cán cân tổng thể
OFB
ΔR
L
≠
Cán cân bù đắp chính thức
Thay đổi dự trữ
Vay IMF và các NHTW khác
Các nguồn tài trợ khác
Tổng
doanh
số
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế khi dự trữ
ngoại hối của Việt Nam có xu hướng thu hẹp.
1.1. Cán cân thương mại
Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 72,2 tỷ USD tăng 26,4%
so với năm 2009, về giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 15,4 tỷ USD. Năm 2010 là năm
thành công của các doanh nghiệp xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,1 tỷ USD
(tính cả dầu thô) tăng 27,8% so với năm 2009 và chiếm 54,2% tổng kim ngạch của cả
nước, xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước đạt 33,1 tỷ USD tăng 22,7% so với
năm 2009.
Cán cân thương mại theo khu vực kinh tế
ĐVT: triệu USD
Khu vực kinh tế
2010 2011 Ước 2012
XK NK NS XK NK NS XK NK NS
Tổng số
Nhập siêu hàng hóa năm 2011 được kiềm chế ở mức khoảng 450 triệu USD, tương
ứng với tỷ lệ 0,46% của kim ngạch xuất khẩu. Đây là con số thấp nhất trong nhiều năm
trở lại đây của Việt Nam.
Biểu đồ cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001- 2011
Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá đều đạt và vượt các chỉ tiêu đặt
ra. Mặc dù trong năm, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn về thị trường và các rào cản thương
mại, song nhờ thích ứng tốt, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã đạt kim ngạch xuất
khẩu cao.
Sự giảm xuống và còn ở mức thấp của nhập siêu được các chuyên gia lý giải bằng
nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân quan trọng nhất là do xuất khẩu đạt được nhiều sự vượt
trội cả về quy mô xuất khẩu; cả về tốc độ tăng so với năm trước; cả về tỷ lệ xuất khẩu so
với GDP; cả ở khu vực kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; cả ở
lượng và giá cả các mặt hàng chủ yếu; ở cả các thị trường xuất khẩu như đã phân tích ở
trên.
Trong khi đó, nhập khẩu thời gian qua tăng thấp hơn xuất khẩu do nhiều yếu tố.
Có yếu tố do tỷ giá VND/USD tăng như đã nêu ở trên, có yếu tố do sự hưởng ứng cuộc
vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, có yếu tố do tốc độ tăng tổng
mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (đã loại trừ yếu tố giá) tăng thấp so
với tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước (tăng 4,1% so với tăng 14,7%)…
Vì vậy, trong điều hành vĩ mô cần ưu tiên vốn cả về lượng, cả về lãi suất cho sản
xuất, đặc biệt là sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ để vừa tăng trưởng kinh tế,
vừa giảm nhập siêu một cách bền vững.
Mặc dù kết quả kiềm chế nhập siêu năm 2011 đạt được con số khá ấn tượng nhưng
các chuyên gia cũng cảnh báo, các giải pháp thời gian qua mới chỉ tập trung vào giải
pháp thương mại, có tính chất ngắn hạn, để nhập siêu giảm mang tính bền vững cần tập
22
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
trung phát triển công nghiệp hỗ trợ để tăng khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu
cũng như chủ động được nguyên liệu cho các mặt hàng chủ lực như dệt may, chế biến.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/11/2012, tổng kim
tổng hợp ở bảng trên cho thấy khu vực kinh tế trong nước luôn ở trạng thái nhập siêu.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn ở trạng thái xuất siêu. Năm 2007 khu vực kinh tế
trong nước nhập siêu 41,052 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu là 97,4%; năm 2009 tỷ lệ này là
64,2%. Đến năm 2010 nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước là 14,72 tỷ USD với tỷ
lệ nhập siêu là 44,5%. Xu hướng nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước có giảm
23
Môn Tài chính Quốc tế Nhóm 4
nhưng còn rất cao so với tỷ lệ nhập siêu chung của cả nước. Đây là hậu quả của một nền
kinh tế gia công xuất khẩu và phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. Khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài thường có tỷ trọng nhập khẩu lớn nhưng chủ yếu đề xuất
và kim ngạch xuất khẩu luôn lớn hơn kim ngạch nhập khẩu.
Nếu xét theo khu vực thị trường thì Việt Nam lại nhập siêu chủ yếu từ các nước
ASEAN và APEC trong khi đó lại xuất siêu sang EU. Năm 2010 Việt Nam nhập siêu từ
ASEAN là 6,056 tỷ USD. Trung Quốc là quốc gia Việt Nam nhập siêu lớn nhất, xu
hướng nhập siêu tăng mạnh và sự lệ thuộc ngày càng nhiều, năm 2010 nhập siêu từ
Trung Quốc đạt con số kỷ lục là 12,71 tỷ USD bằng 101% mức nhập siêu cả nước cả
năm. Nhập siêu 8 tháng đầu năm 2012 từ Trung Quốc là ước 10,3 tỷ USD, gấp 5 lần nhập
siêu cả nước ước thực hiện trong năm 2012. Điều này cũng dẫn đến sự lệ thuộc quá mức
của nền kinh tế nước ta vào Trung Quốc và bất lợi cả khía cạnh kinh tế, tài chính và xã
hội. Trung Quốc đã cung cấp tới ¼ đầu vào cho nền kinh tế Việt Nam và chất lượng của
đầu vào này sẽ ảnh hưởng to lớn đến khả năng cạnh tranh của chúng ta. Sự phụ thuộc quá
nhiều vào một nền kinh tế luôn tiềm ẩn các rủi ro và bất trắc khó lường.
1.2. Cán cân dịch vụ
Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 7,46 tỷ USD, tăng 29,4% so
với năm 2009, Nhập siêu dịch vụ cả năm là 2,46 tỷ USD, bằng 32,9% so với tổng kim
ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2010.
Qua bảng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam do IMF công bố thì Việt Nam
liên tục nhập siêu dịch vụ và tỷ lệ nhập siêu trên xuất khẩu còn lớn. Năm 2012, nhập siêu
dịch vụ là 3,1 tỷ USD, bằng 33% xuất khẩu dịch vụ. Duy nhất dịch vụ du lịch xuất siêu,
còn lại đều nhập siêu, kể cả những dịch vụ quan trọng như vận tải, viễn thông, tài chính,
làm ăn mới; nhiều lao động đi xuất khẩu lao động đã có một lượng vốn kha khá, học tập
được tác phong công nghiệp,… và đầu tư lập lên trang trại, cửa hàng, tổ sản xuất, góp
phần ổn định xã hội.
Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam có quy mô lớn và gia tăng do nguyên nhân.
Có nguyên nhân Việt Nam có số lượng kiều bào ở nước ngoài khá đông đảo (hơn
3 triệu người), một bộ phận nhờ cần cù và có trí tuệ làm ăn phát đạt và nặng lòng với
người thân, với quê hương đất nước, bên cạnh đó là lượng người Việt Nam đi lao động ở
nước ngoài.
Có nguyên nhân quan trọng là sự đổi mới đất nước và sự thông thoáng, cởi mở về
chính sách đối với kiều hối. Cán cân vãng lai năm 2010 thâm hụt 4,27 tỷ USD trong đó
thâm hụt cán cân thương mại chiếm tỷ trọng cao nhất. Điều này được cải thiện khi sang
năm 2011 Việt Nam có cán cân vãng lai thặng dư 236 triệu USD, đây là tín hiệu tích cực
cho nền kinh tế.
1.4. Cán cân thu nhập
Cán cân thu nhập của Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt, trong các năm gần
đây thì mức thâm hụt cán cân thu nhập gia tăng. Năm 2010 theo số liệu dự báo của IMF
thì cán cân thu nhập của Việt Nam thâm hụt cao hơn năm 2009. Do tác động của khủng
25