GIỚI THIỆU NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH
CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (IIP)
VÀ LỘ TRÌNH CÔNG BỐ CHỈ SỐ IIP
LỜI MỞ ĐẦU :
Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế về số liệu thống kê công
nghiệp, thời gian qua Tổng Cục Thống Kê đã phối hợp với cơ quan Hợp tác Quốc
tế Nhật bản ( JICA) và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật bản (METI)
nghiên cứu thử nghiệm phương pháp thống kê công nghiệp mới đặt cơ sở cho việc
từng bước thay thế phương pháp hiện hành. Phương pháp mới đó là phương pháp
chỉ số sản xuất công nghiệp ( Index-Industry Products ) gọi tắt là chỉ số IIP.
Để giúp người dùng tin hiểu rỏ hơn về chỉ số này khi sử dụng nghiên cứu
đánh giá sự phát triển của ngành công nghiệp trong thời gian tới, Cục Thống kê
Quảng Ngãi xin giới thiệu nội dung và phương pháp tính chỉ số IIP để tất cả đối
tượng dùng tin tham khảo
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP THỐNG KÊ CÔNG
NGHIỆP HÀNG THÁNG
Trong nhiều năm qua, để đánh giá tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp
hàng tháng, Tổng cục Thống kê chủ yếu dựa vào chỉ tiêu “Giá trị sản xuẩt công
nghiệp theo giá cố định” và đã đạt được kết quả nhất định trong việc cung cấp các
thông tin nhanh giúp Đảng, Nhà nước, các nhà nghiên cứu hoạch định các chủ
trương, chính sách phát triển ngành công nghiệp một cách kịp thời và hiệu quả.
Về lý thuyết, phương pháp này được tính theo công thức:
Giá trị sản xuất theo giá
Khối lượng SP
Đơn giá
=
x
CĐ 1994
SX trong kỳ
CĐ 1994
Cơ sở của phương pháp đánh giá tăng trưởng công nghiệp bằng chỉ tiêu “Giá
tính trùng kết quả của các ngành công nghiệp. Khi sản xuất công nghiệp càng phát triển,
mức độ chuyên môn hóa sản xuất càng cao thì mức độ tính trùng càng lớn. Trong khi đó,
chỉ số IIP sử dụng quyền số là giá trị tăng thêm nên đã giảm thiểu mức độ tính trùng kết
quả sản xuất giữa các ngành công nghiệp.
(2) Trong nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm mới xuất hiện, không có
trong bảng giá cố định nên không thể tính chính xác giá trị sản xuất theo giá cố
định cho các sản phẩm mới này. Hơn nữa, trong điều kiện cạnh tranh, các doanh
nghiệp cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, trong khi giá bán lại giảm hơn
trước, dẫn đến việc áp dụng bảng giá cố định không chính xác.
Hơn nữa, chỉ tiêu GTSXCN đƣợc tính bằng cách lấy khối lƣợng sản phẩm sản xuất
của thời kỳ tính toán nhân với đơn giá của sản phẩm đó của năm gốc (năm 1994). Với cách
tính này, nhiều sản phẩm mới xuất hiện nhƣng không có giá trị của năm gốc, vì vậy việc
tính toán không loại trừ hết đƣợc yếu tố tăng giá, dẫn tới GTSXCN thƣờng tính cao hơn so
với thực tế. Điều này cho thấy, chỉ số tăng trƣởng công nghiệp tính theo GTSXCN giá CĐ
kém sát thực hơn so với chỉ số IIP
(3) Qui trình tính giá trị sản xuất theo giá cố định phải từ cơ sở, nhưng các cơ
sở khó có thể thực hiện tính theo giá cố định một cách chính xác.
2
(4) Theo nguyên tắc, bảng giá cố định phải được thay đổi, chậm nhất là 5
năm một lần, tuy nhiên cho đến nay, bảng giá cố định 1994 đã tồn tại trên 14 năm.
Tuy nhiên, việc biên soạn bảng giá cố định mới trong điều kiện hiện nay với hàng
chục nghìn sản phẩm/mặt hàng đa dạng, phong phú là hết sức phức tạp, khó khăn
và tốn kém, không có tính khả thi.
(5) Hiện nay trên thế giới không còn quốc gia nào tính chỉ tiêu giá trị sản
xuất công nghiệp theo giá cố định.
(6) Phương pháp thống kê công nghiệp hàng tháng hiện hành không đảm bảo
- Có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Một phương pháp được cân nhắc kỹ lưỡng, khắc phục nhược điểm của
phương pháp cũ và phù hợp với điều kiện, tình hình mới là phương pháp chỉ số sản
xuất công nghiệp ( Index-Industry Products ) gọi tắt là chỉ số IIP
II. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH IIP
Công thức chung của phương pháp IIP là:
Iq
iW
W
q
q0
q0
- Iq: tốc độ phát triển sản xuất một ngành, một tỉnh, TP, một khu vực
- iq: tốc độ phát triển của sản phẩm hoặc ngành cấp dưới liền kề
- Wqo : quyền số được tính bằng giá trị tăng thêm kỳ gốc
Bản chất của phương pháp này là xác định tốc độ tăng trưởng của nền sản
xuất công ghiệp dựa vào khối lượng sản phẩm sản xuất. Toàn bộ doanh nghiệp lớn,
vừa và một phần các doanh nghiệp nhỏ cùng các sản phẩm chủ yếu do tỉnh sản xuất
đều được tham gia vào tính toán tốc độ tăng trưởng. Với phương pháp IIP, ta có thể
đánh giá được tốc độ tăng trưởng của một sản phẩm, một ngành cụ thể hay toàn bộ
ngành công nghiệp một cách chính xác, kịp thời. Đáp ứng nhu cầu điều hành nhanh,
linh hoạt của các cấp quản lý.
1.Khái niệm và phƣơng pháp tính quyền số
5
mẫu đủ mức độ đại diện; Theo lý thuyết thống kê, nó phải đạt tỷ trọng 75% (theo
đơn vị tính) trở lên.
3. Các bƣớc tính toán chỉ số
Các bước tính chỉ số có qui trình ngược lại với tính quyền số và chọn mẫu,
nghĩa là tính lần lượt từ sản phẩm lên đến ngành chi tiết rồi đến ngành cấp trên liền
kề và kết thúc ở chỉ số toàn ngành công nghiệp.
- Bước 1 tính chỉ số ngành cấp 4:
q1
q W
W
q0
I q4
0
q0
q
q0
W
q4
q0 4
q0 4
Iq1
: Tốc độ phát triển SX ngành cấp 1
Iq4
:
Tốc độ phát triển SX ngành cấp 4
Wqo4
:
Quyền số ngành cấp 4, được tính bằng GTTT ngành cấp 4 kỳ gốc
6
- Bước 3 tính chỉ số toàn ngành CN tỉnh:
Iq
III. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ CHỈ SỐ IIP VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC
THÔNG TIN TỪ CHỈ SỐ IIP
- Số liệu tổng hợp phong phú, chi tiết và đa dạng: hàng tháng, IIP được tính
toán đến từng ngành cấp 4, từng sản phẩm hoặc mặt hàng
- Toàn bộ những ngành chủ đạo, sản phẩm chủ yếu, doanh nghiệp lớn, vừa
và một phần doanh nghiệp nhỏ của tỉnh đều được điều tra, tổng hợp vào chỉ số IIP.
Những sản phẩm không có trong bảng giá cố định cũng được tính đến.
- Cơ sở dữ liệu đầy đủ, hoàn chỉnh, dễ khai thác. Toàn bộ số liệu về sản xuất,
tiêu thụ, tồn kho của từng cơ sở sản xuất sản phẩm được cập nhật hàng tháng, đáp
ứng kịp thời nhu cầu số liệu của mọi đối tượng dùng tin một cách nhanh chóng,
thuận tiện.
7
- Dãy số liệu ổn định, tương đối sát với tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm
ngành công nghiệp, độ tin cậy cao, có thể sử dụng làm căn cứ tính GDP
- Phản ánh chính xác xu hướng phát triển ngành công nghiệp trong phạm vi
tỉnh, TP. Không bị trùng với số liệu tỉnh khác vì đã loại trừ sản lượng của doanh
nghiệp có trụ sở đặt tại tỉnh nhà, và không bị bỏ sót vì tính đủ cho những cơ sở SX
có trụ sở chính đặt tại tỉnh khác.
- Chương trình phần mềm và phương pháp tính đảm bảo tính khách quan của
số liệu thống kê
- Kết quả tổng hợp của tỉnh và trung ương thống nhất một nguồn số liệu gốc
từ cơ sở, do vậy khắc phục sự khác biệt về số liệu giữa trung ương và địa phương
IV. CÔNG BỐ SỐ LIỆU
1. Nội dung công bố hàng tháng
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): được tính bằng khối lượng SX các SP
chủ yếu kỳ báo cáo qua điều tra mẫu so với khối lượng sản xuất kỳ gốc. Chỉ số IIP
- Từ năm 2011, hàng quí công bố chỉ số về tiêu thụ và tồn kho sản phẩm
ngành CN;
3. Hình thức công bố
Các chỉ tiêu thống kê công nghiệp hàng tháng của tỉnh được công bố bằng
văn bản báo cáo định kỳ thường xuyên của Cục Thống kê tỉnh
CỤC THỐNG KÊ QUẢNG NGÃI
9
Giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) là tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ
cuối cùng được sản xuất ra của một nền kinh tế trong một thời gian nhất
định, thường được tính trong một năm; Thuật ngữ “hàng hoá dịch vụ cuối
cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hoá và dịch vụ sử dụng
ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm.
Dựa vào phân tích luồng chu chuyển thu nhập và chi tiêu của nền kinh tế,
các nhà kinh tế đã chứng minh trong nền kinh tế luôn tồn tại một đồng nhất
thức mô tả mối liên hệ giữa Tổng thu nhập (từ sản xuất), Tổng chi tiêu và
Tổng sản phẩm trong nước như sau:
Tổng thu nhập = Tổng chi tiêu = Tổng sản phẩm trong nước
Tổng thu nhập gồm thu nhập từ các yếu tố tham gia trực tiếp vào quá
trình sản xuất: thu nhập từ cung cấp dịch vụ lao động được thể hiện qua
chỉ tiêu tiền lương và các khoản thu nhập có tính chất lương; thu nhập từ
máy móc, thiết bị tham gia vào sản xuất được thể hiện qua chỉ tiêu khấu
hao tài sản cố định; thuế sản xuất và giá trị thặng dư.
Tổng chi tiêu của nền kinh tế gồm những khoản chi tiêu đáp ứng cho nhu
cầu sử dụng cuối cùng gồm: chi cho đầu tư (tích luỹ tài sản); chi cho tiêu
dùng cuối cùng; chi cho xuất khẩu.
kinh tế. Phân ngành kinh tế càng chi tiết, mức độ tính trùng của chỉ tiêu giá
trị sản xuất càng lớn.
Chi phí trung gian bao gồm toàn bộ chi phí về sản xuất vật chất, dịch vụ
cho sản xuất vật chất và không bao gồm khấu hao tài sản cố định. Những
sản phẩm vật chất và dịch vụ tính vào chi phí trung gian phải là chi phí sản
xuất, được hạch toán vào giá thành sản phẩm, phải là kết quả sản xuất do
các ngành sản xuất ra trong năm hoặc sản xuất từ năm trước chuyển sang
cho sản xuất hoặc nhập khẩu từ nước ngoài. Những sản phẩm không phải
là kết quả của sản xuất mà sử dụng từ tự nhiên như ánh sáng mặt trời,
nước tự nhiên không tính vào chi phí trung gian. Chẳng hạn, nước mưa
sử dụng trong sản xuất nông nghiệp không tính vào chi phí trung gian của
ngành nông nghiệp. Ranh giới giữa chi phí trung gian và tích luỹ tài sản:
chi phí trung gian gồm những chi phí về hàng hoá và dịch vụ sử dụng hết
trong quá trình sản xuất. Tích luỹ tài sản gồm hàng hoá sử dụng nhiều lần
trong sản xuất và có giá trị lớn.
Chi phí trung gian luôn được tính theo giá sử dụng, nghĩa là bao gồm cả
phí vận tải và cả các loại chi phí khác do đơn vị sản xuất phải trả để đưa
nguyên, nhiên vật liệu,v.v… vào sản xuất. Trong khi đó chỉ tiêu giá trị sản
xuất có thể được tính theo 3 loại giá (giá cơ bản, giá bán của người sản
xuất, giá sử dụng).
Giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế bằng hiệu giữa giá trị sản xuất và chi
phí trung gian. Giá trị sản xuất tính theo giá nào thì chỉ tiêu giá trị tăng
thêm cũng tính theo giá đó. Giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế được biểu
thị theo công thức sau:
11
Giá trị tăng thêm = Giá trị sản xuất – Chi phí trung gian
Tổng sản phẩm trong nước tính theo phương pháp sản xuất bằng tổng
giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế nhập khẩu
khẩu hàng hoá và dịch vụ
Tiêu dùng cuối cùng là một phần của tổng sản phẩm trong nước sử dụng
để thoả mãn nhu cầu cho đời sống, sinh hoạt của cá nhân, dân cư, hộ gia
đình và nhu cầu tiêu dùng chung của xã hội. Tiêu dùng cuối cùng gồm 2
phần:
- Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình
- Tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước.
12
Chỉ tiêu GDP là một chỉ báo kinh tế tổng hợp, phản ánh một cách khá toàn
diện sức mạnh kinh tế của một quốc gia hay vùng lãnh thổ, vì vậy các nhà
kinh tế thường sử dụng chỉ tiêu này để so sánh trình độ phát triển kinh tế
với nhau thông qua chỉ tiêu GDP.
Để so sánh chỉ tiêu GDP giữa các nước, GDP được tính chuyển sang 1
đơn vị tiền tệ quốc tế thống nhất (USD) theo hai cách:
-Tính theo tỷ giá hối đoái thực tế
-Tính theo sức mua tương đương.
Các nước càng có mức giá phản ánh đúng quan hệ cung - cầu trên thị
trường thì kết quả tính toán giữa 2 phương pháp này càng ít có chênh lệch
Khi xếp hạng theo 2 cách tính này (tính theo đầu người) có khác nhau:
- Trung Quốc: 117 (theo tỷ giá hối đoái) và 85 (theo sức mua tương
đương)
- Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: 4 (theo tỷ giá hối đoái) và 3 (theo sức mua tương
đương)
- Việt Nam: 142 (theo tỷ giá hối đoái) và 113 (theo sức mua tương đương)
Số liệu năm 2002, theo phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Qua đó, ta thấy mức sống thực tế trong nước của 3 nước này cao hơn so
với thông thường bằng giá trị tiền; mặt bằng giá cả trong nước của họ
tương đối thấp so với thị trường quốc tế. Trái lại tình hình lại khác đi đối