Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
Chơng 1: Phơng pháp tính giá trị sản xuất, giá trị
tăng thêm của ngành công nghiệp
chế biến Việt Nam
I. Tổng quan về Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA),
giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm
1. Về Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)
1.1. Quá trình vận dụng vào Việt Nam
Trong xu thế hoà nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc giao lu giữa các
nớc ngày càng mở rộng, không gian ngày càng rút ngắn lại do tiến bộ của
vận tải, thông tin. Nhu cầu cấp thiết về thông tin ngày càng quan trọng trong
lĩnh vực quản lý tầm vĩ mô, cũng nh trong hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp. Mặt khác, đờng lối mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nớc của
Đảng và Nhà nớc đang tạo cơ sở khách quan cho các doanh nghiệp tiếp cận
với thông tin công nghệ trên thế giới.
Việc đổi mới từ nền kinh tế vận động theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã
hội chủ nghĩa đòi hỏi hoạt động của các doanh nghiệp trong tất cả các ngành
kinh tế quốc dân phải có sự chuyển đổi mạnh mẽ. Đồng thời, việc đánh giá
hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp cũng phải đợc tăng cờng và đổi
mới. Không thể chỉ dựa vào kế hoạch sản xuất đủ số lợng sản phẩm mà còn
phải chú ý đến chất lợng, mẫu mã của từng loại sản phẩm. Có nh vậy, nền
kinh tế nớc ta mới có thể hoà nhập đợc vào các nớc trong khu vực cũng nh
trên thế giới. Để đạt đợc điều này, đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của khoa học kỹ
thuật nhất là công nghệ thông tin.
Trong cơ chế thị trờng ngày nay, yêu cầu thông tin nhanh, chính xác lại
càng quan trọng đối với quản lý sản xuất kinh doanh ở tầm vĩ mô cũng nh
tầm vi mô. Thông tin thống kê có vai trò hết sức quan trọng đối với việc quản
lý của doanh nghiệp và đánh giá tổng hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Việc quyết định sự ra đời, phát triển hay phá sản của một
phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng các mối liên hệ cơ bản giữa các
mặt tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với các hiện tợng liên quan.
Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế mỗi nớc đợc xây dựng phù hợp với
yêu cầu của lý thuyết hệ thống, yêu cầu của so sánh quốc tế, tính hiện đại và
tính khả thi. Hệ thống chỉ tiêu thống kê có thể thay đổi bổ sung về mặt số l-
ợng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ hạch toán ở mỗi
thời kỳ.
Thống kê 4oA 2 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
Từ sau những năm 20 đến năm 1992, trên thế giới có 2 hệ thống thông
tin kinh tế - xã hội tổng hợp: Hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân (MPS)
và Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA).
Cả hai hệ thống thông tin kinh tế - xã hội tổng hợp trên có cùng mục
đích phản ánh quá trình tái sản xuất xã hội của mỗi quốc gia. Trên cơ sở thu
thập, xử lý và tổng hợp thông tin trên tầm vĩ mô để tính các chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp nhằm phản ánh điều kiện sản xuất, kết quả sản xuất, quá trình phân
phối thu nhập, mối quan hệ giữa các ngành kinh tế trong quá trình sản xuất
và sử dụng cuối cùng kết quả sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, áp
dụng hệ thống nào là phụ thuộc vào trình độ hạch toán ở quốc gia đó và tuỳ
thuộc vào từng thời kỳ.
ở Việt Nam từ 1954-1975, đất nớc bị chia cắt làm 2 miền Bắc - Nam
thuộc 2 chế độ chính trị khác nhau. Trình độ thống kê và phơng pháp thống
kê giữa 2 miền có sự khác nhau. ở miền Bắc, đợc sự giúp đỡ của các nớc Xã
hội chủ nghĩa trong đó chủ yếu là Liên Xô cho nên ngành thống kê trong giai
đoạn này đã chịu ảnh hởng của các nớc trên. Cụ thể, ngành thống kê Việt
Nam đã tiến hành tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nh: Sản phẩm xã hội,
tiêu hao vật chất, thu nhập quốc dân, quỹ tiêu dùng, quỹ tích luỹ, xuất nhập
khẩu hàng hoá... Trên cơ sở đó, lập bảng cân đối sản xuất và sử dụng sản
phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và một số bảng cân đối khác thuộc hệ thống
cố vấn trởng cùng các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm đến trực tiếp giúp
Việt Nam xây dựng cơ sở dữ liệu, nhằm nâng cao độ tin cậy của chỉ tiêu GDP
và hoàn thiện thêm một bớc Hệ thống tài khoản quốc gia đang thực hiện ở
Việt Nam. Đây cũng là một trong những đóng góp tích cực, to lớn có hiệu
quả thiết thực của các tổ chức quốc tế để thúc đẩy công tác thống kê tài
khoản quốc gia ở Việt Nam. Với sự giúp đỡ của chuyên gia ADB, các chuyên
viên thống kê tài khoản quốc gia Việt Nam đã đa ra những vấn đề cơ bản
nhất của Hệ thống tài khoản quốc gia, xác định nội dung, phơng pháp và
nguồn thông tin để tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp trong Hệ thống tài
khoản quốc gia do Thống kê Liên hợp quốc mới soạn thảo năm 1993 và đợc
vận dụng một phần vào Việt Nam. Căn cứ vào chế độ kế toán hiện hành đang
áp dụng cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh của tất cả các lĩnh vực, kết quả
báo cáo thống kê và điều tra thống kê... để giới thiệu cụ thể cơ sở thông tin
phục vụ cho việc tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp và lập các tài khoản chủ
yếu đang đợc thực hiện ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đã chính thức đa Hệ
thống tài khoản quốc gia vào sử dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp, các ngành
và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, cần phải hiểu rõ hơn về SNA để tiện
lợi cho việc quản lý cũng nh cho việc hoạch định sản xuất kinh doanh trong
những năm tiếp theo.
1.2. Bản chất của Hệ thống tài khoản quốc gia
Thống kê 4oA 4 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) là hệ thống thống kê phản ánh tầm
nhìn vĩ mô về kinh tế đợc phát triển trong nhiều thập kỷ. Là một hệ thống
thống kê kinh tế, SNA có tính tổng hợp cao nhất, hầu hết các thông tin kinh
tế nhằm mô tả quá trình sản xuất; quá trình tạo ra thu nhập, phân phối lần
đầu và phân phối lại thu nhập; việc sử dụng thu nhập cho mục đích tiêu dùng,
để dành và tích luỹ; các nguồn vốn huy động và hình thức vốn huy động (vốn
tự có, vốn đóng góp, vốn đi vay ngân hàng, bán trái phiếu...) và cuối cùng
cấu về giá trị thông qua các yếu tố chi phí: chi phí trung gian, chi trả cho ng-
ời sản xuất, chi nộp thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định, giá trị thặng d...
thông qua tài khoản sản xuất thể hiện nội dung các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
nh: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm, tiêu dùng cuối cùng,
tích luỹ tài sản, xuất nhập khẩu và phơng pháp tính các chỉ tiêu đó, đặc biệt
là chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Qua đó, chúng ta xác định đợc các
mối quan hệ tỷ lệ của nền kinh tế nh: giữa sản xuất và tiêu dùng cuối cùng,
giữa sản xuất và tích luỹ tài sản, giữa sản xuất trong nớc và xuất nhập khẩu...
* Tài khoản thu chi: phản ánh quá trình hình thành, phân phối và phân
phối lại các khoản thu nhập và chi tiêu thu nhập đó giữa các thành viên của
từng khu vực thể chế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất
định (thờng là một năm). Qua tài khoản thu chi, ta có thể tính đợc các chỉ
tiêu: tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia (NI), để dành của toàn
bộ nền kinh tế và từng khu vực thể chế.
* Tài khoản vốn tài chính: phản ánh tổng nguồn vốn cho tích luỹ tài sản
và mua sắm thêm đất, tài nguyên, tài sản vô hình, gồm có: nguồn vốn do để
dành từ nội bộ nền kinh tế và một phần do chuyển nhợng vốn dới hình thức
viện trợ, cho không, quà biếu phục vụ cho đầu t phát triển sản xuất.
* Tài khoản quan hệ kinh tế với nớc ngoài: phản ánh quá trình trao đổi
hàng hoá, dịch vụ với các nớc trên thế giới, vay nợ, chuyển nhợng hiện hành
và chuyển nhợng vốn, đầu t trực tiếp hay gián tiếp, mua bán ngoại tệ, vàng và
các chứng khoán... Tài khoản này phù hợp với yêu cầu quản lý của nền kinh
tế mở, giúp cho việc xem xét các mối quan hệ kinh tế giữa trong nớc với nớc
ngoài, thanh toán quốc tế.
* Bảng cân đối liên ngành kinh tế quốc dân (IO): phản ánh quá trình sản
xuất, phân phối kết quả sản xuất, sử dụng cuối cùng sản phẩm dịch vụ của
nền kinh tế trong mối liên hệ giữa số lớn các ngành kinh tế, ngành sản phẩm.
Bảng cân đối này vừa để mô tả chi tiết các mối quan hệ, vừa dùng để xem
xét, kiểm tra các mối liên kết giữa các bảng cân đối trong hệ thống. Nó là
Thống kê 4oA 6 Đại học KTQD
* Phân tích cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo ngành kinh tế, theo khu
vực thể chế.
* Phân tích chính sách tài chính quốc gia: để phân tích ta cần chia thu
chi ngân sách thành thu chi thờng xuyên và thu chi vốn. Việc mất cân đối trong
Thống kê 4oA 7 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
thu chi thờng xuyên là dấu hiệu báo động cho việc cần điều chỉnh lại ngân sách.
Phân tích chính sách tài chính quốc gia đòi hỏi thông tin cặn kẽ về các nhu cầu
chi tiêu từ ngân sách và các nguồn thu ngân sách. Những số liệu của SNA ở Việt
Nam và ở nớc khác cho phép ta đánh giá xem mức chi tiêu của Nhà nớc Việt
Nam là vừa phải hay quá lớn.
* Phân tích tình hình vay mợn nớc ngoài
* Phân tích chính sách tiền tệ: Muốn phân tích lạm phát hoặc giảm phát
có phải do chính sách tiền tệ thả nổi hoặc kiểm soát gây ra không, ta cần so
sánh tốc độ tăng khối lợng tiền và tốc độ tăng GDP. Nếu tốc độ tăng tiền cao
hơn tốc độ tăng GDP quá nhiều thì rõ ràng chính sách tiền tệ đã thả nổi.
Chính sách tiền thả nổi có thể do nguyên nhân thiếu hụt ngân sách nhà nớc,
lãi suất danh nghĩa quá thấp so với tốc độ lạm phát khiến số cầu tiền tệ quá
lớn, mức độ đầu t của ngoại quốc quá lớn so với khả năng của nền kinh tế.
* Giúp cho lãnh đạo các doanh nghiệp có căn cứ khoa học để quản lý có
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Là căn cứ để đánh giá, phân tích tình hình sử dụng yếu tố của quá
trình tái sản xuất của doanh nghiệp (lao động, vốn, vật t, tài sản), đánh giá,
phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp (thông qua chỉ tiêu các giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm,
lợi nhuận).
* Là căn cứ để lập kế hoạch phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp cả về quy mô và cơ cấu, giúp cho các nhà quản lý có
những thông tin cần thiết làm căn cứ khoa học để xây dựng chiến lợc sản
ích và cho phép hoạt động. Nh vậy giá trị sản phẩm là hàng giả hoặc sản phẩm
không nằm trong danh mục sản phẩm sản xuất theo quy định và pháp luật của
Nhà nớc sẽ không nằm trong tổng giá trị của sản xuất.
1.3. Nguyên tắc tính:
+ Tính theo lãnh thổ kinh tế (theo đơn vị thờng trú)
+ Tính theo thời điểm sản xuất
+ Tính theo giá trị trờng
+ Tính toàn bộ giá trị sản phẩm có nghĩa là tính cả giá trị nguyên vật
liệu của khách hàng.
+ Tính toàn bộ giá trị kết quả sản xuất. Theo nguyên tắc này cần tính
vào giá trị sản xuất không chỉ thành phẩm mà cả nửa thành phẩm và sản
phẩm dở dang.
1.4. Phơng pháp tính tổng giá trị sản xuất của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân:
Tổng giá trị sản xuất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân = GO
ngành j
Thống kê 4oA 9 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
2. Tính giá trị tăng thêm
2.1. Chi phí trung gian (IC)
2.1.1. Khái niệm: Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí sử dụng cho vào
quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm của xí nghiệp của một ngành hoặc của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định (thờng là một năm).
2.1.2. Nội dung kinh tế: Chi phí trung gian bao gồm toàn bộ chi phí về
sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng cho sản xuất.
+ Chi phí sản phẩm vật chất bao gồm:
- Nguyên vật liệu chính, phụ
- Nhiên liệu (xăng, dầu, mỡ)
- Điện, nớc, khí đốt
2.2. Giá trị tăng thêm (VA)
2.2.1. Khái niệm: Giá trị tăng thêm của toàn bộ hoạt động kinh tế của
một quốc gia là toàn bộ giá trị mới do lao động trong các ngành của nền kinh
tế quốc dân sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thờng là 1 năm) và khấu
hao tài sản cố định.
2.2.2. Nội dung kinh tế: Giá trị tăng thêm bao gồm: Khấu hao tài sản cố
định (C
1
), thù lao lao động (V), thặng d sản xuất (M) của một ngành kinh tế
(VA = C
1
+ V + M).
2.2.3. Nguyên tắc tính:
+ Tính theo đơn vị thờng trú (chỉ tính vào giá trị tăng thêm kết quả sản
xuất của các đơn vị thờng trú)
+ Tính theo thời điểm sản xuất (kết quả sản xuất của thời kỳ nào đợc
tính vào giá trị tăng thêm của thời kỳ đó)
+ Tính theo giá thị trờng.
2.2.4. Phơng pháp tính:
a) Phơng pháp sản xuất
Xác định giá trị tăng thêm theo phơng pháp sản xuất là xác định trực
tiếp từ ngời sản xuất qua các yếu tố chi phí và doanh thu đạt đợc trong kỳ
nghiên cứu (thờng là 1 năm).
Giá trị tăng thêm = Giá trị sản xuất - Chi phí trung gian (GO=VA - IC)
Thống kê 4oA 11 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
b) Phơng pháp phân phối
Giá trị tăng thêm = Thu nhập của ngời lao động + Thuế sản xuất và hàng
hoá + Khấu hao tài sản cố định + Giá trị thặng d = Tổng thu nhập lần đầu
Ngành công nghiệp chế biến bao gồm các hoạt động làm thay đổi về mặt
lý, hoá học của vật liệu hoặc thay đổi các thành phần kinh tế cấu thành của nó,
để tạo ra sản phẩm mới và các hoạt động lắp ráp, gia công sản phẩm, cho dù
các hoạt động đó đợc thực hiện bằng máy móc hay bằng thủ công trong nhà
máy hay tại nhà của ngời lao động.
Trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), nền kinh tế đợc phân chia thành
17 ngành (hoạt động) cấp I thuộc 3 nhóm (khu vực) lớn khác nhau theo quy
trình và hình thức hoạt động tự nhiên. ở Việt Nam dựa vào bảng phân loại tiêu
chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế (ISIC) của hệ thống tài khoản quốc gia
(SNA), ngày 27/10/1993 Chính phủ đã ra Nghị định số 75 CP ban hành hệ
thống ngành kinh tế quốc dân gồm 20 ngành cấp I (lớn hơn ISIC 3 ngành).
Nhóm I: gồm các ngành khai thác sản phẩm có từ tự nhiên: Cụ thể 3 ngành
là nông - lâm nghiệp; thuỷ sản; công nghiệp khai thác.
Nhóm II: gồm các ngành chế biến các sản phẩm khai thác từ nhóm I: Cụ
thể 3 ngành là: công nghiệp chế biến, xây dựng, sản xuất và phân phối điện, khí
đốt và nớc.
Nhóm III: gồm tất cả các ngành sản xuất ra sản phẩm dịch vụ (sản xuất và phi
sản xuất) nh là: ngành thơng nghiệp, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc...
Mỗi ngành cấp I lại chia thành các ngành cấp 2, ngành cấp 2 chia ra thành
ngành cấp 3...
Ngành công nghiệp chế biến là ngành tạo ra sản phẩm vật chất, thuộc
nhóm ngành II (D) trong hệ thống các ngành cấp I - ngành công nghiệp của hệ
thống ngành kinh tế quốc dân ở Việt Nam. Theo khái niệm trên, ngành công
nghiệp chế biến bao trùm một phạm vi rất rộng. Nó gồm một số ngành cấp 2
nh sau:
D - Ngành công nghiệp chế biến
Thống kê 4oA 13 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
15 - Ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống
khác với sản xuất nông nghiệp trên cả hai mặt: kỹ thuật của sản xuất và mặt
kinh tế - xã hội của sản xuất.
* Các đặc trng về mặt kỹ thuật - sản xuất của công nghiệp chế biến
đợc thể hiện ở các khía cạnh sau:
Đặc trng về công nghệ sản xuất: trong công nghiệp chế biến, chủ yếu là
các quá trình tác động trực tiếp bằng phơng pháp cơ lý hoá của con ngời, làm
thay đổi các đối tợng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của
con ngời; trong khi đó, sản xuất nông nghiệp bằng phơng pháp sinh học là
chủ yếu. Trong hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp, các phơng pháp cơ
lý hoá, (làm đất, chăm sóc, thuỷ lợi...) chỉ là tác động tạo điều kiện môi trờng
sinh thái để phơng pháp sinh học đợc thực hiện, làm biến đổi đối tợng lao
động là cây trông, vật nuôi, hình thành và phát triển, tạo ra các sản phẩm
thích ứng với nhu cầu con ngời. Nghiên cứu đặc trng về công nghệ sản xuất
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học -
công nghệ thích ứng với mỗi ngành. Trong công nghiệp chế biến ngày nay,
phơng pháp công nghệ sinh học cũng đợc ứng dụng ngày càng rộng rãi, đặc
biệt là công nghiệp thực phẩm.
Đặc trng về sự biến đổi của các đối tợng lao động sau mỗi chu kỳ sản
xuất: các đối tợng lao động của quá trình sản xuất công nghiệp chế biến sau
mỗi chu kỳ sản xuất, đợc thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này
chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể hoàn toàn khác. Hoặc mỗi
loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có
công dụng khác nhau. Trong khi đó, đối tợng lao động của sản xuất nông
nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự
thay đổi về lợng là chủ yếu. Nghiên cứu đặc trng này của sản xuất công
nghiệp chế biến có ý nghĩa thực tiến rất thiết thực trong việc tổ chức quá
trình sản xuất và chế biến.
Về công dụng kinh tế của sản phẩm: sản phẩm công nghiệp chế biến có
khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu ở các trình độ ngày càng cao của xã hội.
* Đặc trng kinh tế - xã hội của sản xuất
có đợc hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến. Sự phát triển về các hình thức
quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện nhanh về các mô hình tổ chức sản xuất đã
làm cho công nghiệp chế biến có khả năng định hớng cho các ngành kinh tế
khác tổ chức sản xuất đi lên nền sản xuất lớn theo "hình thức mẫu", theo
"kiểu mẫu" của công nghiệp.
* Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, trang bị cơ sở vật chất kỹ
thuật, và trình độ hoàn thiện về tổ chức sản xuất, hình thành một đội ngũ lao
Thống kê 4oA 16 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
động có tính tổ chức, tính kỷ luật, trí tuệ cao, cộng với tính đa dạng của hoạt
động sản xuất. Công nghiệp chế biến là một trong những ngành đóng góp
phần quan trọng vào việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹ vốn để phát triển
nền kinh tế, từ đó công nghiệp chế biến có vai trò quan trọng góp phần vào
giải quyết những nhiệm vụ có tính chiến lợc của nền kinh tế - xã hội nh: tạo
việc làm cho lực lợng lao động, xoá bỏ sự cách biệt thành thị - nông thôn,
giữa miền xuôi với miền núi...
* Công nghiệp chế biến nông lâm hải sản làm tăng giá trị của nông sản
thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
* Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả
mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngời. Trong quá trình sản xuất ra của cải
vật chất, công nghiệp chế biến là chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ đ-
ợc khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên khoáng sản, động thực vật thành
các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, nhằm thoả mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần cho con ngời.
* Sự phát triển của công nghiệp chế biến là một yếu tố có tính chất
quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn,
tuỳ theo trình độ phát triển của ngành công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế,
xuất phát từ những điều kiện và đặc điểm cụ thể của mỗi nớc, mỗi thời kỳ cần
1992 151782 22235 14,65
1993 164043 24353 14,85
1994 178534 26624 14,91
1995 195567 30231 15,46
1996 213833 34339 16,06
1997 231264 38743 16,75
1998 244595 42694 17,45
1999 256269 45888 17,91
2000 273582 52177 19,07
Qua số liệu bảng A cho thấy: cùng với sự tăng trởng của GDP thì giá trị
tăng thêm của ngành công nghiệp chế biến cũng tăng lên và chiếm tỷ trọng
ngày càng cao. Nếu nh năm 1991 ngành công nghiệp chế biến chỉ đóng góp
14% trong tổng GDP thì đến năm 2000 đã lên 19,07%. Điều này chứng tỏ
rằng ngành công nghiệp chế biến đã đóng góp một phần không nhỏ vào GDP
của cả nớc.
Mặt khác tốc độ tăng VA của ngành công nghiệp chế biến cũng nhanh
hơn tốc độ tăng GDP của cả nớc đợc thể hiện ở bảng sau:
Thống kê 4oA 18 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
Bảng B: Biến động GDP và VA của ngành công nghiệp chế biến
(Đơn vị %)
Chỉ tiêu
Năm
Tốc độ phát triển liên hoàn Tốc độ tăng
GDP
(Tỷ đồng)
VA
CNCB
(Tỷ đồng)
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (gọi là chỉ tiêu phục vụ quản lý
kinh tế).
Các chỉ tiêu theo quan điểm vi mô phản ánh sâu về từng mặt nào đó của
kết quả sản xuất kinh doanh song mức độ tổng hợp còn hạn chế (gọi là chỉ
tiêu phục vụ quản trị kinh doanh).
3.1. Các chỉ tiêu phục vụ quản lý kinh tế
a) Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output)
Tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến là chỉ tiêu tổng
hợp phản ánh toàn bộ giá trị sản xuất của khối lợng sản phẩm do các cơ sở
sản xuất thuộc tất cả các thành phần kinh tế hoạt động trong ngành công
nghiệp chế biến đạt đợc trong một thời kỳ nhất định (thờng là một năm).
Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến phản ánh
quy mô kết quả hoạt động sản xuất của ngành trong thời kỳ nghiên cứu. Nó
bao gồm toàn bộ thành quả lao động hữu ích của doanh nghiệp sản xuất ra
của cải vật chất và sản phẩm không vật chất.
Chỉ tiêu giá trị sản xuất gồm: C
1
+ C
2
+ V + M
Trong đó: C
1
: Khấu hao tài sản cố định
C
2
: Giá trị nguyên vật liệu, chi phí vật chất khác, chi phí dịch vụ...
V: Thu nhập của ngời lao động
M: Lợi nhuận của doanh nghiệp.
b) Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost)
Chi phí trung gian của hoạt động công nghiệp chế biến là một bộ phận
mặt giá trị, giá trị gia tăng thuần (NVA) bao gồm V cộng với M.
Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất những cố gắng của
doanh nghiệp trong quản lý và tổ chức sản xuất. Đối với mọi doanh nghiệp,
điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển là giá trị gia tăng thuần phải
không ngừng tăng lên. Giá trị gia tăng thuần là nguồn gốc cho việc cải thiện
mức sống cho ngời lao động. Một phần của nó đóng góp cho xã hội, phần
còn lại đợc sử dụng cho việc mở rộng các quỹ của doanh nghiệp nh quỹ mở
rộng sản xuất, quỹ công ích...
3.2. Các chỉ tiêu phục vụ quản trị kinh doanh
a) Tổng doanh thu bán hàng (Giá trị sản lợng hàng hoá tiêu thụ)
Là tổng giá trị hàng hoá tiêu thụ của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ giá
trị hàng hoá mà doanh nghiệp đã bán và thu đợc tiền trong kỳ báo cáo.
Thống kê 4oA 21 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
b) Chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị thặng d, hoặc hiệu quả kinh
tế mà doanh nghiệp thu đợc từ các hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu đ-
ợc theo công thức chung:
Lợi nhuận kinh doanh = Doanh thu kinh doanh - Chi phí kinh doanh
Việc xây dựng và tính toán các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng nh của ngành
công nghiệp chế biến có tác dụng vô cùng quan trọng đối với công tác quản lý
của các doanh nghiệp, bộ, ngành và của Đảng, Nhà nớc. Cụ thể:
* Giúp cho lãnh đạo các doanh nghiệp có căn cứ khoa học để tổ chức và
quản lý có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Là căn cứ để đánh giá, phân tích tình hình sử dụng các yếu tố của quá
trình tái sản xuất của doanh nghiệp; đánh giá, phân tích tình hình sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp (thông qua
giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, lợi nhuận của doanh nghiệp).
lao động, ngời thợ.
Ngoài ra ngành công nghiệp chế biến còn bao gồm các hoạt động nh lắp
ráp sản phẩm, gia công phần việc nh: sơn mạ, đánh bóng, khắc... các sản
phẩm.
Hoạt động lắp ráp đợc coi là chế biến là những hoạt động sau khi lắp ráp
làm thay đổi hình thái ban đầu của sản phẩm.
Các hoạt động sau không thuộc ngành công nghiệp chế biến:
Lắp ráp đờng ray, xây cầu, nhà kho, thang máy và lắp ráp các thiết bị
máy móc vào dây chuyền sản xuất.
Hoạt động lắp ráp ở các đơn vị bán buôn, bán lẻ.
Sửa chữa mô tô, ô tô, xe máy và các xe có động cơ khác gắn với việc
bán phụ tùng là chính.
Bảo dỡng và sửa chữa vật phẩm tiêu dùng cá nhân và đồ dùng gia đình.
2. Đặc điểm tính giá trị sản xuất (GO), giá trị tăng thêm (VA) của
ngành công nghiệp chế biến.
2.1. Cụ thể hoá các nguyên tắc tính GO, VA của ngành công nghiệp
chế biến
- Nguyên tắc 1: Nguyên tắc thờng trú (tính theo lãnh thổ kinh tế)
Thống kê 4oA 23 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
Phải tính đầy đủ kết quả sản xuất của các đơn vị, tổ chức và cá nhân th-
ờng trú của Việt Nam có hoạt động công nghiệp chế biến trong tất cả các
ngành, các thành phần kinh tế.
- Nguyên tắc 2: Tính theo thời điểm sản xuất
Kết quả sản xuất của thời kỳ nào thì tính vào thời kỳ đó, không đợc đem
kết quả sản xuất của thời kỳ này tính cho thời kỳ khác và ngợc lại. Nghĩa là
khi xác định giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến ngoài phần sản
phẩm và công việc có tính chất công nghiệp hoàn thành và bán ra ngoài trong
kỳ còn kể cả chênh lệch sản phẩm dở dang cuối kỳ trừ đầu kỳ, chênh lệch
của các ngành khác. Ngợc lại những đơn vị sản xuất của ngành khác có hoạt
Thống kê 4oA 24 Đại học KTQD
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Yến
động chế biến sản phẩm thì phải tính vào giá trị sản xuất của ngành công
nghiệp chế biến.
Chỉ đợc tính kết quả trực tiếp và có ích của hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nghĩa là chỉ tính vào giá trị sản xuất những sản
phẩm thoả mãn đợc những nhu cầu nhất định nào đó của con ngời. Không
tính vào giá trị sản xuất số sản phẩm hỏng, mặc dù số sản phẩm hỏng này
cũng đã làm hao phí một số nguyên vật liệu và nhân công. Song giá trị sử
dụng của nó lại không thoả mãn đợc nhu cầu nhất định của con ngời, đó là
phế phẩm.
2.2. Đặc điểm phơng pháp tính các chỉ tiêu GO, IC, VA của ngành
công nghiệp chế biến theo SNA
2.2.1. Đặc điểm phơng pháp tính cho toàn ngành công nghiệp chế biến
Giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị tăng thêm (VA)
cho toàn ngành công nghiệp chế biến đợc tính bằng cách tổng hợp tất cả các
chỉ tiêu GO, IC, VA của toàn bộ các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
có hoạt động chế biến và giá trị sản phẩm chế biến do các ngành khác làm.
2.2.2. Đặc điểm phơng pháp tính cho các thành phần kinh tế trong
ngành công nghiệp chế biến
a) Nội dung giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến bao gồm:
- Giá trị thành phẩm sản xuất bằng nguyên vật liệu của đơn vị sản xuất.
- Giá trị chế biến sản phẩm sản xuất bằng nguyên vật liệu của ngời đặt
hàng đem đến.
- Giá trị nguyên vật liệu của ngời đặt hàng đem gia công chế biến
- Giá trị công việc có tính chất công nghiệp làm cho bên ngoài.
- Chênh lệch giá trị cuối kỳ trừ (-) đầu kỳ của nửa thành phẩm tồn kho,
hàng gửi đi bán, sản phẩm dở dang, công cụ, mô hình tự chế và các chi phí