Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. - Pdf 26

Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
Họ và tên: Nguyễn Văn Tiệp
Mã SV:CQ513039
Lớp: Quản trị kinh doanh tổng hợp 51A
GV hướng dẫn: ThS.Nguyễn Phương Lan.
ĐỀ ÁN MÔN HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
TỔNG HỢP
Đề tài nghiên cứu: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU.
Ngành công nghiệp ô tô không chỉ giữ một vị trí quan trọng trong việc thúc
đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua đáp ứng nhu cầu phát triển giao
thông vận tải, góp phần phát triển sản xuất và kinh doanh thương mại mà còn là một
ngành kinh tế mang lại lợi nhuận rất cao nhờ sản xuất ra những sản phẩm có giá trị
vượt trội. Ở nước ta vào những năm cuối thế kỷ 20, sau khi chuyển đổi cơ chế tập
trung bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng. Các ngành sản xuất trong
nước, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất công nghiệp trong đó có ngành công nghiệp sản
xuất ô tô bắt đầu phát triển, tạo động lực thúc đẩy cho ngành sản xuất công nghiệp
nặng nói chung và ngành công nghiệp sản xuất ô tô nói riêng. Chính phủ Việt Nam
đã luôn khẳng định vai trò chủ chốt của ngành công nghiệp ô tô trong sự nghiệp
phát triển kinh tế và luôn tạo điều kiện lợi thông qua việc đưa ra các chính sách ưu
đãi để khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào sản xuất ô tô
và phụ tùng. Nhưng sau gần 20 năm xây dựng và phát triển ngành, công nghiệp ô tô
Việt Nam dường như vẫn chưa có nhiều thành công lớn so với các nước trong khu
vực cũng như lượng vốn đã đầu tư. Bên cạnh đó, với việc gia nhập WTO đã thực sự
là một thử thách nữa đối với ngành công nghiệp ô tô cũng như các ngành công
nghiệp phụ trợ ở nước ta với việc mở cửa cho các xe ô tô từ các quốc gia khác theo
như các cam kết WTO. Do đó, việc nghiên cứu, cải thiện năng lực cạnh tranh của
các ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là một vấn đề cần thiết để ngành công nghiệp
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
1

Cạnh tranh nói chung đều có những đặc trưng sau đây:
- Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các
hình thức sở hữu khác nhau.
Cạnh
tranh chỉ thực sự trở
thành động
lực thúc đẩy
các
doanh nghiệp
kinh
doanh
tốt hơn
nếu
các
doanh nghiệp
thuộc về các
thành phần
kinh tế khác nhau với
những
lợi ích và
tính
toán khác
nhau
- Cạnh tranh
c
h

có thể tồn
t


a
nh n
g
h
i

p
có thể chủ
động
t
i
ế
n
hành các
cuộc
tranh
g
i
à
nh
để
t
ì
m

h

i
phát
t

3
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
quyết định của người tiêu
dùng.
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
4
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
1.2. Phân loại cạnh tranh.
1.2.1 .
Trên cơ sở vai trò điều tiết của nhà nước.
a. Cạnh tranh tự
do
:
cạnh
tranh mà ở đó các chủ thể tham
gia
cuộc
tranh đua
hoàn
toàn chủ
động
và tự do ý chí trong việc xây dựng và thực hiện
các
chiến lược, các kế
hoạch
kinh
doanh
của
mình.
Lý thuyết về

pháp
luật can thiệp vào
đời
sống
thị trường để điều tiết,
hướng
các
quan
hệ
cạnh
tranh vận
động
và phát
triển
trong một trật tự, đảm bảo sự phát
triển
công bằng
và lành
mạnh hạn chế một cách tối đa mặt trái của cạnh
tranh tự do.
1.2.2.
Dựa vào tính chất, mức độ biểu hiện.
a. Cạnh tranh hoàn
hảo
Cạnh tranh
hoàn
hảo là hình thức
cạnh
tranh mà ở đó người mua và
người bán

có thể chi phối các
quan
hệ trên thị
trường.

b. Cạnh tranh không hoàn
hảo
Cạnh tranh
không hoàn
hảo là hình thức
cạnh
tranh chiếm ưu thế trong
các
ngành
sản xuất mà ở đó, các
doanh nghiệp phân
phối
hoặc
sản xuất có
đủ sức
mạnh

thế
lực để có thể chi phối giá cả các sản
phẩm
của mình
trên thị
trường.
Trong thực tế, hình thức
cạnh


doanh
khác. Khi có vị trí độc
quyền,
thị trường sẽ trao
cho
doanh nghiệp quyền
lực
của
mình, “khả
năng
tác
động
đến giá cả thị
trường của một loại
hàng
hoá, dịch vụ
nhất
định”
1.2.3
Dựa vào hành vi cạnh tranh.
Dựa vào tính lành
mạnh
và sự tác
động
của hành vi đối với thị trường,
các hành vi
cạnh
tranh được chia làm 3 loại là
cạnh

lành
mạnh là
hành vi: nhằm mục đích
cạnh
tranh
phát sinh trong kinh
doanh;
trái với
pháp
luật
cạnh
tranh
hoặc
tập
quán
kinh
doanh
thông
thường;
gây thiệt hại cho đối thủ
hoặc
cho
khách hàng.
1.2.4. Dựa vào chủ thể tham gia thị trường.
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại.
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá
của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với gái cao
nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành
sau quá trình thương lượng giữ hai bên
Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc

thì ở đó
có mặt các nhà kinh
doanh,
nhà kinh
doanh
luôn tìm đến để đáp ứng nhu cầu
của
người tiêu
dùng
một
cách
tốt
nhất,
các
doanh
nghiệp
có thể thoả mãn nhu cầu của
người tiêu
dùng
trong khả
năng
chi tiêu của
họ.
. Cạnh tranh có vai trò điều phối
các
hoạt động kinh
doanh
trên thị
trường.
Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên,

đảm bảo cho các giá trị kinh tế của thị
trường được sử
dụng
một
cách
tối
ưu.
Cạnh tranh đảm bảo cho
v
i
ệc

sử
dụng
các nguồn
l

c

k
i
n
h
tế một
cách
h
i

u


Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
7
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
.Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng
các
tiến bộ khoa học, kỹ
thuật
trong kinh
doanh
Nhu cầu tìm kiếm lợi
nhuận
đã thúc đẩy các
doanh nghiệp không
ngừng
áp
dụng
các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến
nhằm nâng
cao chất
lượng sản
phẩm,
giảm
chi
phí sản xuất để đáp ứng ngày
càng
tốt hơn đòi
hỏi của thị trường,
mong
giành
phần

động
của
doanh nghiệp.
Cạnh tranh còn là cơ sở của sự đổi mới.
Sự đổi
mới trong đời
sống
kinh tế được thể hiện
thông
qua
những
thay đổi trong cơ cấu thị trường, hình
thành những ngành nghề
mới
đáp
ứng
những
nhu cầu của đời
sống
hiện đại, sự phát triển liên tục của khoa
học kỹ
thuật,
là sự tiến bộ trong nhận thức của tư duy con người về các vấn
đề liên
quan
đến
kinh
tế - xã
hội.
2. Khái niệm năng lực cạnh tranh.

- Khả năng thu hút nguồn lực: Nhờ việc thu hút các đầu vào có chất lượng
cao như nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề cao, công nghệ hiện đại, vật tư-
nguyên liệu, nguồn vốn…. mà doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng, năng suất
và hiệu quả sản xuất- kinh doanh.
- Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp: là tiền đề cho hoạt động kinh
doanh hiệu quả, đồng thời đây cũng là một tiêu chí định tính của năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, thể hiện qua số lượng và chất lượng các mối quan hệ với
các đối tác, các liên doanh, hệ thống mạng lưới kinh doanh theo lãnh thổ.
- Chỉ tiêu tổng hợp về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: để có thể so sánh
năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, người ta thường tính chỉ tiêu tổng hợp
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng nhiều cách khác nhau
3. Những nhân tố ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh của ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam.
3.1 Trình độ lao động.
Lao động là một yếu tố có tính chất quyết định của lực lượng sản xuất, có vai
trò rất quan trọng trong sản xuất xã hội nói chung và trong cạnh tranh kinh tế hiện
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
9
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
nay. Đặc biệt với một ngành sản xuất đòi hỏi công nghệ cao như ngành công nghiệp
ô tô thì yếu tố lao động là một yếu tố rất quan trọng. Lao động còn là lực lượng
tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quy trình sản xuất lắp
ráp và thậm chí góp sức vào những sáng chế, phát kiến….Cho đến nay, cùng với
việc ra đời của các liên doanh sản xuất và lắp ráp ô tô, những cán bộ, công nhân
viên công tác tại các công ty liên doanh đã phần nào nắm được quy trình công nghệ
lắp ráp ô tô các loại và được đào tạo cơ bản để có thể đảm trách được những công
đoạn lắp ráp. Một điều quan trọng là một số cán bộ, nhân viên đã được tiếp xúc với
phương pháp quản lý khoa hoc có trình độ tiên tiến, là những nhân tố quan trọng
trong việc xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của công nghiệp ô
tô Việt Nam.

như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất
quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp
nói chung và nâng cao sức cạnh tranh nói riêng. Một điều dễ nhận thấy là sự ảnh
hưởng của các chính sách của Nhà nước đối với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp
sản xuất lắp ráp ô tô là rất lớn trong đó vấn đề dễ nhận thấy hơn cả là chính sách
bảo hộ các liên doanh trong nước được điều tiết thông qua chính sách thuế. Trong
ngành sản xuất ô tô hiện nay, chính sách thuế của nhà nước vẫn còn nhiều bất cập
nhưng trên thực tế diễn biến thị trường ô tô thời gian qua cho thấy, thuế luôn là biện
pháp được nghĩ đến đầu tiên khi cơ quan quản lý nỗ lực điều tiết thị trường này.
3.5 . Các ngành công nghiệp dịch vụ hỗ trợ.
Việt Nam đang trên con đường tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một
trong những mắt xích không thể thiếu trong hành trình này, đó là phải phát triển
công nghiệp hỗ trợ. Nếu không có ngành công nghiệp hỗ trợ, các nhà sản xuất tại
Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì giá trị và chất lượng. Đây là
một nhiệm vụ rất khẩn thiết đối với Việt Nam để phát triển các ngành công nghiệp
trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Trong mỗi sản phẩm ô tô đều có rất nhiều chi
tiết, bộ phận trong khi đó để có được những sản phẩm có giá thành thấp, dễ tiếp cận
tới người tiêu dùng đòi hỏi các doanh nghiệp lắp ráp cần hạn chế nhập khẩu linh
kiện, phụ tùng, thay vào đó là sử dụng các linh kiện do các nhà sản xuất trong nước
cung cấp. Điều này không chỉ giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung linh kiện từ nước
ngoài mà mặt khác còn thúc đẩy ngành công nghiệp phụ trợ phát triển, thuận lợi cho
việc mở rộng sản xuất sau này. Các ngành công nghiệp phụ trợ không những có tác
động đến thời gian sản xuất, năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng đến gia thành
sản phẩm của nhiều doanh nghiệp, tạo ra mối liên kết bền vững hơn giữa các doanh
nghiệp sản xuất lắp ráp với nhau.
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
11
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM.

Việt Nam
Veam
15 Tập đoàn than Việt Nam Kamaz, Kraz
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
12
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
16 Doanh nghiệp tư nhân Xuân Kiên Vinaxuki
17 Công ty Honda Việt Nam Honda Vietnam
18 Tổng Công ty ô tô Việt Nam Vinamotor
( Nguồn: VnExpress. Ghi chú: các đơn vị có số thứ tự từ 12 đến 16 là doanh
nghệp nội địa)
Phải nói rằng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam thực sự hình thành và phát
triển kể từ sau năm 1991 gắn liền với sự ra đời rầm rộ của các liên doanh của hầu
hết các hãng xe nổi tiếng trên thế giới như Ford, Toyota, Mercedes-Benz Như
vậy, vai trò quan trọng trong bước đầu tạo dựng nên ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam thuộc về các liên doanh trong khi đó vai trò của các doanh nghiệp ô tô trong
nước của Việt Nam là hết sức mờ nhạt. Bên cạnh đó, điều này cũng cho thấy chính
sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển ngành công nghiệp ô
tô nước nhà thông qua việc liên doanh, liên kết với nước ngoài. Đây có thể nói là
những cột mốc quan trọng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
2.2. Thực trạng cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
2.2.1. Thị trường ô tô Việt Nam.
Hiện nay,có khoảng 1,6 triệu ô tô và 30 triệu xem máy lưu thông tại Việt Nam
(số liệu năm 2010). Và đến năm 2020, nhu cầu đi lại tăng hơn 1,5 lần so với năm
2005. Nếu như cách đây khoảng hơn 10 năm, quy mô thị trường ước tính vào
khoảng 5-7 nghìn xe hơi thì đến nay, quy mô thị trường đã lên đến hơn 100 nghìn
xe lắp ráp, nhập khẩu được tiêu thụ trong nước Dự báo dung lượng thị trường đặc
biệt xe du lịch sẽ bùng nổ với mức tăng trưởng ít nhất 300 ngàn xe/năm từ giai đoạn
2012-2015. Năm 2010, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi đáp ứng gần
40% thị trường cả nước. Thống kê của Bộ Công thương cho hay, trong 5 tháng đầu

5.387 chiếc, trị giá 168,44 triệu USD. Thứ ba là xe nhập từ Đài Loan: 5.144 chiếc,
trị giá gần 51,41 triệu USD. Kế đến là xe Trung Quốc (4.191 chiếc) và Mỹ (3.798
chiếc). Trên thị trường ôtô nhập khẩu Việt Nam hiện nay nguồn xe ôtô nhập khẩu từ
các doanh nghiệp thương mại chiếm một lượng không nhỏ nhờ lợi thế linh hoạt về
giá cũng như thời gian giao hàng, chủng loại hàng… Với quy định mới, ngoài một
số nhà phân phối chính hãng của các thương hiệu Hyundai, Audi, BMW…, thị
trường nhập khẩu ôtô sẽ rơi vào tay các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam như
Honda, Toyota, Ford, Mercedes Với lợi thế độc quyền có được từ chính sách quản
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
14
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
lý của Việt Nam, các nhà sản xuất này chẳng dại gì mà không chuyển sang nhập
khẩu.
Trong thời gian tới, thị trường ô tô Việt Nam sẽ có thêm một số thương hiệu
nổi tiếng thế giới như việc trở lại thị trường Việt Nam của Mazda hay các kế hoạch
nâng cao năng lực sản xuất của Kia, Huyndai…. Những chuyển dịch mới trong
ngành ô tô Việt Nam chắc chắn cũng hứa hẹn cuộc cạnh tranh quyết liệt trong tương
lai không xa.
2.2.2. Sức cạnh tranh của ô tô thương hiệu Việt.
Dù đã từng theo đuổi giấc mơ làm ra chiếc ôtô mang thương hiệu Việt chính
cống từ năm 2004, nhưng tới nay vẫn chưa có sản phẩm nào được ra mắt thị trường.
Đầu tư rất nhiều tiền vào khuôn mẫu, hệ thống máy dập hiện đại, dây chuyền sơn,
hàn đồng bộ… song cho đến nay, những mẫu xe 4 chỗ và 7 chỗ của Vinaxuki vẫn
đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm . Công ty Ô tô Xuân Kiên (Vinaxuki), cho
biết, Công ty vừa bảo vệ xong một phần đề tài cấp Nhà nước về dự án “Nghiên cứu,
thiết kế và chế tạo thân vỏ ô tô chở người từ 5-7 chỗ ngồi theo tiêu chuẩn công
nghiệp Nhật”. Vinaxuki nhập nhiều dây chuyền dập khuôn thân vỏ xe từ nước ngoài
và dự kiến từ tháng 11.2011 sẽ cho ra đời chiếc xe 4 chỗ với giá cạnh tranh.
Vinaxuki lên kế hoạch từ 2011-2014 sẽ nâng tỉ lệ nội địa hóa lên tới 60% và sau
năm 2015 sẽ lên trên 80%. Còn Trường Hải ngoài việc đầu tư sản xuất những phụ

suốt thời gian qua của chính phủ đã góp phần làm chậm quá trình phát triển và
trưởng thành của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Mới đây, ngày 29/6/2011, Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 36/2011/QĐ-TTg ban hành các mức
thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ôtô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống
đã qua sử dụng.
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
16
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
.
Tỷ lệ bảo hộ của chính phủ Việt Nam đối với xe nguyên chiếc nhập khẩu là
rất cao - đây được coi là tỷ lệ bảo hộ tuyệt đối. Việc áp dụng đánh cả thuế nhập
khẩu, VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt làm cho giá bán xe nhập khẩu cao hơn so với
giá bán xe lắp ráp trong nước rất nhiều. Hơn nữa, các thủ tục để được cấp phép mua
xe nhập khẩu rất phiền hà, gây không ít khó khăn cho các tổ chức muốn mua xe
nhập. Đây cũng chính là một biện pháp phi thuế quan rất hiệu quả tăng năng lực cạnh
tranh của các xe lắp ráp trong nước.
Chính sách về huy động vốn và đầu tư: đã cải thiện rất lớn năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam
- Khuyến khích cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, phụ tùng ô tô, kể
cả bán cổ phần cho người nước ngoài để tạo vốn đầu tư mới và đa dạng hóa nguồn vốn.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực sản xuất phụ tùng,
linh kiện ô tô.
- Khuyến khích sự hợp tác, phân công sản xuất giữa các doanh nghiệp trong
nước với nhau và với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tận dụng các
công nghệ và thiết bị đã đầu tư, giảm chi phí đầu tư mới và tránh đầu tư trùng lắp.
- Đầu tư mới từng bước nhưng tập trung, có trọng điểm và đầu tư nhanh ở
những khâu công nghệ cơ bản, quyết định chất lượng sản phẩm, phù hợp với nhu
cầu thị trường.
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
17

ráp ôtô từ năm 2008 cho thấy, tỉ lệ NĐH đạt rất thấp. Cụ thể, tỉ lệ NĐH bình quân
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
18
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
của Toyota VN chỉ đạt 7%, trong khi theo trong giấy phép cấp lần đầu yêu cầu phải
đạt ít nhất 30% sau mười năm - bắt đầu từ năm 1996; Suzuki VN chỉ đạt 3%, trong
khi yêu cầu trong giấy phép là 38,2%; Ford VN chỉ đạt 2% Nguyên nhân của sự
“thất hứa” này được chỉ ra là do không có ràng buộc pháp lý chặt chẽ đối với nhà
đầu tư. Về sau, chính sách thuế theo tỉ lệ NĐH đối với ngành sản xuất ôtô trong
nước bị bãi bỏ, vì thế ràng buộc tỉ lệ NĐH đối với nhà đầu tư cũng không còn hiệu
lực. Trong khi đó, ở Việt Nam, nhà sản xuất lắp ráp ôtô lớn nhất hiện nay là liên
doanh Toyota Việt Nam mới chỉ có 11 doanh nghiệp cung cấp các phụ tùng đơn
giản như ắcquy, dây điện, tấm che nắng, linh kiện nhựa, linh kiện cao su…
Ví dụ như, mỗi chiếc xe hoàn chỉnh cần ít nhất 20.000 - 30.000 chi tiết với
hàng nghìn linh kiện, trong khi đó, số doanh nghiệp sản xuất linh kiện hiện còn quá
ít, chỉ khoảng 60 doanh nghiệp, chưa kể là các doanh nghiệp đó chỉ làm được một
số loại sản phẩm như săm, lốp, dây điện.
Nhìn sang nước láng giềng Thái Lan, mặc dù cái tên chưa thể hiện rõ trên bản
đồ công nghiệp ôtô thế giới (nước này hầu hết chỉ làm xe Pick-up), nhưng cũng đã
có đến trên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ. Trong khi ở Việt Nam, con số vài chục
doanh nghiệp phụ trợ là quá nhỏ bé so với 11 liên doanh doanh và hơn 40 doanh
nghiệp trong nước đang sản xuất lắp ráp ô tô hiện nay.
2.2.5. Marketting và phân phối sản phẩm.
Trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay, các nhà sản xuất đã và đang
chú trọng hơn tới việc kích thích tiêu thụ, đưa sản phẩm tới gần hơn với khách
hàng. Việc mở rộng các showroom giới thiệu và bán sản phảm của các liên doanh
trong nước như Ford, Toyota, Thaco,…. Tác động một cách đáng kể đến hoạt động
kinh doanh ô tô trong nước, với lợi thế là dịch vụ chăm sóc khách hàng, cơ sở vật
chất tốt, các showroom chính thức này đang gây sức ép rất lớn tới việc kinh doanh
của các đại lý nhập khẩu xe ở Việt Nam.

Như vậy, ngoài một số nhà phân phối xe Hyundai, Audi, BMW đã có được
uỷ quyền chính hãng từ trước, thị trường ôtô nhập khẩu chủ yếu sẽ rơi vào tay các
liên doanh ôtô tại Việt Nam như Honda, Toyota, Ford, Mitsubishi, Isuzu,
Mercedes Các DN Việt Nam khó có thể cạnh tranh với những liên doanh này để
giành được quyền nhập khẩu và phân phối những thương hiệu như Toyota, Honda,
Ford, Mercedes
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
20
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
Tại thị trường Việt Nam các thương hiệu như Hyundai, Kia, Toyota, Honda,
Ford, chiếm gần 80% tổng lượng xe tiêu thụ. Các DN Việt Nam có chăng chỉ giành
được quyền nhập khẩu và phân phối những mẫu xe ít tên tuổi như xe Trung Quốc
hay có số lượng tiêu thụ không nhiều như Land Rover, Citroen, Chrysler
Mặc dù kinh tế năm 2011 gặp nhiều khó khăn do lạm phát cao gây ra, người
tiêu dùng phải thắt chặt chi tiêu, nhưng tiêu thụ xe nhập khẩu hạng sang vẫn có sự
tăng trưởng mạnh mẽ.
Công ty Euro Auto, nhà phân phối chính thức xe BMW tại Việt Nam - cho
biết, năm 2011 mức tăng trưởng tiêu thụ xe BMW đạt 35% so với cùng kỳ 2010.
Công ty cổ phần Liên Á Quốc tế, nhà phân phối chính hãng của Audi tại Việt Nam,
cũng cho biết, tính đến hết tháng 7 năm 2011, Audi đã bán được bằng tổng doanh số
xe bán ra trong năm 2010 và đạt được sự tăng trưởng 169% so với cùng kỳ năm
ngoái. World Auto, nhà phân phối chính thức thương hiệu Volkswagen tại Việt
Nam cũng đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng. Trong 8 tháng đầu năm 2011, số
lượng xe Volkswagen bán ra tăng 159% so với cùng kỳ năm ngoái.
Triễn lãm Viet Nam Motor Show.
Triển lãm Ô tô Việt Nam là sự kiện lớn nhất trong ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam hiện nay và được khách tham quan trong nước và nuớc ngoài mong đợi
nhiều nhất. Triển lãm ô tô Việt Nam được tổ chức dưới sự phối hợp của Hiệp Hội
các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) và Công ty cổ phần Hội chợ và xúc tiến
thương mại Á Châu (AFTA) tổ chức.Bắt đầu từ năm 2002, triển lãm đã mang đến

tăng trưởng 169% so với cùng kỳ năm ngoái. World Auto, nhà phân phối chính thức
thương hiệu Volkswagen tại Việt Nam cũng đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng.
Trong 8 tháng đầu năm 2011, số lượng xe Volkswagen bán ra tăng 159% so với
cùng kỳ năm ngoái. đối với dòng xe du lịch, cuộc cạnh tranh này khó khăn hơn
nhiều. Bởi xe ôtô (du lịch) là tài sản có giá trị, được coi là thể hiện "đẳng cấp" của
người sử dụng. Chính vì thế mà những chiếc xe mang thương hiệu Vinaxuki có chất
lượng tốt, giá rẻ vẫn chưa hấp dẫn được nhiều người tiêu dùng. Tương tự, chiếc Kia
Morning mới, sản phẩm lắp ráp trong nước của Thaco cũng rất chật vật khi cạnh
tranh với sản phẩm cùng thương hiệu nhập khẩu nguyên chiếc, dù giá rẻ hơn, phụ
kiện trang bị trên xe đầy đủ hơn
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
22
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
Một thực tế nữa trong xu hướng tiêu dùng ô tô hiện nay đó là việc mua
những chiếc ô tô đắt tiền hay còn gọi là “siêu xe” tại Việt Nam. Trong khi Việt Nam
vừa thoát ra khỏi những nước có thu nhập thấp thì việc nhìn thấy những chiếc siêu
xe chạy trên đường giờ đây không còn là chuyện hiếm thấy. Lamboghini, Ferrari,
Bentley, Roll-Royce… hầu hết là những thương hiệu lớn, và việc sở hữu những
chiếc xe của những thương hiệu này là một niềm ước ao của nhiều người trên thế
giới thì ở VIệt Nam, thông tin về những chiếc siêu xe mới được nhập khảu xảy ra
như cơm bữa. Điều này cũng là biểu hiện của sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
VIệt Nam cũng như tâm lý thích thể hiện, chơi trội của một bộ phận người tiêu
dùng Trong thời gian tới đây, rất có thể một số nhà sản xuất ô tô lớn trên thế giới
sẽ có kế hoạch xâm nhập thị trường và hứa hẹn sẽ có những cạnh tranh khốc liệt đối
với những doanh nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam trong thời gian tới.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng cạnh tranh củangành công nghiệp ô tô
Việt Nam.
Hạn chế.
- Sự thiếu thống nhất trong việc chọn dòng xe chiến lược của các thành viên
VAMA mới đây cho thấy một thực tế là các doanh nghiệp hiện đang mạnh ai người

tiện đi lại thông thường.
Nguyễn Văn Tiệp Lớp: QTKD Tổng hợp 51A
24
Đề án môn học chuyên ngành QTKD Tổng hợp
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH Ô TÔ VIỆT NAM.
I. Định hướng phát triển cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến
2015.
1. Quyết định của thủ tướng chính phủ về việc duyện qui hoạch phát
triển ngành công nghiệp ô to Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020
1.1.Quan điểm phát triển
a) Công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát
triển để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước.
b) Phát triển nhanh ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở thị trường và hội nhập
với nền kinh tế thế giới; lựa chọn các bước phát triển thích hợp, khuyến khích
chuyên môn hoá - hợp tác hoá nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của đất nước; đồng
thời tích cực tham gia quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế trong ngành
công nghiệp ô tô.
c) Phát triển ngành công nghiệp ô tô phải gắn kết với tổng thể phát triển công
nghiệp chung cả nước và các Chiến lược phát triển các ngành liên quan đã được phê
duyệt, nhằm huy động và phát huy tối đa các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế,
trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt.
d) Phát triển ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở tiếp thu công nghệ tiên tiến của
thế giới, kết hợp với việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu - phát triển trong nước và
tận dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có, nhằm nhanh chóng đáp
ứng nhu cầu trong nước về các loại xe thông dụng với giá cả cạnh tranh, tạo động
lực thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển nhằm đẩy nhanh
quá trình sản xuất linh kiện, phụ tùng trong nước.
đ) Phát triển ngành công nghiệp ô tô phải phù hợp với chính sách tiêu dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status