ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐINH THỊ NƯƠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGHÀNH
CÔNG NGHIỆP ĐƯỜNG MÍA VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ
MÃ SỐ : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM VĂN DŨ
Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp
đường mía Việt Nam
33
2.1
Khái quát tình hình ngành công nghiệp đường mía Việt Nam
33
2.2
Phân tích năng lực cạnh tranh của công nghiệp đường mía
Việt Nam những năm qua
48
2.3
Đánh giá năng lực cạnh tranh của công nghiệp đường mía
Việt Nam những năm qua
58
Chương 3
Quan điểm và giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh
tranh của công nghiệp đường mía Việt Nam
74
3.1
Bối cảnh mới và những yêu cầu đặt ra cho ngành công nghiệp
đường mía Việt Nam
74
3.2
Định hướng phát triển và quan điểm nâng cao năng lực cạnh
tranh của công nghiệp đường mía Việt Nam
87
3.3
Những giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của
công nghiệp đường mía Việt Nam
96
tranh trên thị trường trong đó có ngành công nghiệp đường mía.
Ngành công nghiệp đường mía Việt Nam đang đứng trước những thách thức rất
gay gắt trong qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy có rất nhiều nhà máy đường,
nhưng lại chỉ có rất ít nhà máy tầm cỡ có đủ năng lực cạnh tranh trong điều kiện mới,
phần lớn các nhà máy có qui mô nhỏ, thiết bị và công nghệ Trung Quốc, (năng suất
thiết bị, năng suất lao động, hiệu quả chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao). Vùng
nguyên liệu qui mô nhỏ bé, phân tán, năng suất nông nghiệp và năng suất công
nghiệp chế biến thấp, chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu sản xuất công
nghiệp, diện tích trồng mía ở nhiều đang có chiều hướng thu hẹp dần, các nhà máy
thiếu mía nguyên liệu để sản xuất. Công nghiệp đường mía Việt Nam đang phát triển
trong tình trạng mâu thuẫn: công suất sản xuất thừa đáp ứng nhu cầu trong nước
nhưng năm 2005 và năm 2006 nước ta lại luôn trong tình trạng thiếu đường. Hàng
năm, nhà nước phải chi ra một lượng ngoại tệ khá lớn để nhập khẩu đường (năm
2005 là 100.000 tấn, năm 2006 là 250.000 tấn). (Chưa kể đến lượng đường nhập lậu
ước tính vài trăm ngàn tấn /năm). Sự sa sút của công nghiệp đường mía đã tác động
xấu đến sự phát triển các vùng nông thôn.
Là một nước có tiềm năng đất đai, điều kiện tự nhiên, khí hậu phù hợp với sự
phát triển cây mía - cây mía đã được chọn là một trong những cây công nghiệp có vị 2
trí quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nhiều địa phương- Việt Nam
hoàn toàn có khả năng phát triển ngành công nghiệp đường mía. Việc phát triển và
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía được coi là một
trong những mũi nhọn chiến lược nhằm khai thác tiềm năng đất đai, giải quyết công
ăn việc làm và thu nhập cho hàng triệu người lao động và những người ăn theo, góp
phần xoá đói giảm nghèo nhiều vùng ở nông thôn Việt Nam; đồng thời có sản phẩm
đường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Thực tiễn đó là đang vấn đề cấp bách không chỉ trước mắt mà còn là vấn đề
lâu dài để phát triển ngành công nghiệp đường mía Việt Nam trong quá trình hội
triển Nông thôn: Các báo cáo tổng kết về các niên vụ sản xuất đường mía từ
năm 1994 đến nay.
- Cục Quản lý giá - Bộ Tài Chính “Báo cáo kết quả điều tra chi phí sản xuất và
giá thành mía, đường”. Năm 2005.
Những nghiên cứu trên đây hướng vào việc phân tích, đánh giá một số khía
cạnh trong năng lực cạnh tranh của sản phẩm Mía Đường Việt Nam trong điều kiện
hội nhập quốc tế, hoặc là những báo cáo đánh giá tình hình sản xuất và thị trường
mía đường nhằm phục vụ công tác quản lý ngành. Bên cạnh đó, trên các trang báo và
tạp chí cũng không ít các bài báo phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của các nhà
máy đường trong nước.
Luận văn này kế thừa kết quả phân tích của các nghiên cứu và tài liệu trên
đây, kết hợp với việc phân tích tình hình hiện nay, đưa ra những đánh giá mới mang
tính tổng thể về thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía,
đồng thời đề xuất các quan điểm và giải pháp cho sự phát triển và nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía phù hợp với yêu cầu mới của hội nhập
kinh tế quốc tế.
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về cạnh tranh, phân tích thực trạng sản
xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía Việt
Nam, đưa ra quan điểm và những giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranh
của ngành công nghiệp đường mía Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một số lý luận chung về cạnh tranh để nhằm làm rõ một số vấn đề cơ bản của
cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp. Sự cần thiết phải
nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía Việt Nam.
- Khảo sát ngành công nghiệp đường mía ở một số quốc gia và rút ra bài học
kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp đường mía cho
Việt Nam.
6- Đóng góp mới của Luận văn
Thứ nhất: Làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành đường mía Việt
Nam, trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm, những tồn tại và hạn chế, những vấn đề
đặt ra trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía
Việt Nam.
Thứ hai: Đề xuất quan điểm và những giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía Việt Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phần Phụ lục,
luận văn cấu trúc thành 3 chương. 5
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành công nghiệp đường mía Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đường mía
Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngành công nghiệp đường mía Việt Nam. 6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐƢỜNG MÍA
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1 Một số khái niệm:
- Cạnh tranh.
Khái niệm về cạnh tranh đã được các nhà nghiên cứu của các trường phái kinh
mình"; "cạnh tranh quốc tế" được hiểu là "cạnh tranh giành nguồn nguyên liệu và thị
trường tiêu thụ của sản phẩm trên thế giới". Cũng về khái niệm này, Từ điển Thuật
ngữ Kinh tế cho rằng: "cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn
hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ
mà không phải ai cũng có thể giành được". Vì mục tiêu lợi nhuận, các nhà sản xuất
nhất thiết phải chiến thắng trong cạnh tranh hoặc chí ít là cùng phân chia một thị
trường có giới hạn với các đối thủ cạnh tranh của mình. Như vậy, rõ ràng là bản chất
của cạnh tranh là nhằm tới tối ưu hóa đầu vào (hạ thấp tối đa chi phí sản xuất) và tối
đa hoá đầu ra (thu lợi nhuận cao nhất có thể). Một số nhà nghiên cứu kinh tế Việt
Nam quan niệm rằng: Cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ
và đó là con đường, phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế
Tóm lại, còn có nhiều nhìn nhận chưa thật sự thống nhất về khái niệm cạnh
tranh, song, xét về bản chất của nó thì cạnh tranh luôn được phân tích, nhìn nhận,
đánh giá trong trạng thái động và được ràng buộc trong mối quan hệ so sánh một
cách tương đối. Theo cách nhìn nhận đó thì mọi nỗ lực mà các bên tham gia nhằm
tìm kiếm, dành giật những lợi thế về mình đều được thống nhất diễn tả trong các khái
niệm khác nhau về cạnh tranh. Cạnh tranh bao hàm hai mặt: Tích cực và tiêu cực. Về
mặt tích cực thì cạnh tranh đã tạo động lực để các chủ thể vươn tới, đạt tới trạng thái
tiến bộ hơn (năng suất cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, chất lượng tốt hơn ) nhằm mang
lại hiệu quả tốt nhất có thể. Tuy nhiên, nếu cạnh tranh được tiến hành bằng các động
thái tiêu cực thì sẽ trở nên kìm hãm sự hình thành và phát triển cái mới, mang lại một
thực trạng cực đoan hơn và kết quả lại trái ngược so với tích cực. Ngày nay, khái
niệm cạnh tranh đang ngày càng trở nên phổ biến và được nhìn nhận dưới khía cạnh
tích cực nhiều hơn. Mặc dù đã nói tới cạnh tranh là có người thắng, kẻ bại và mục
đích kích thích sự phát triển không phải là mục tiêu của các bên tham gia cạnh tranh
song bản thân nó đã khuyến khích sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
- Năng lực cạnh tranh.
"Năng lực" được Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa là: "Những điều kiện đủ
hoặc vốn có để làm một việc gì" hay "khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc".
Cũng trong tài liệu này, "năng lực cạnh tranh" được hiểu là: "Khả năng giành thắng
giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được.
1.1.2. Các cấp độ cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh
- Cạnh tranh quốc gia.
Cạnh tranh ở cấp quốc gia được đánh giá chính là năng lực cạnh tranh của nó
và bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành từ các yếu tố vĩ mô đến năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp hoạt động trên quốc gia đó cũng như khả năng cạnh tranh của
các sản phẩm, dịch vụ có xuất xứ từ quốc gia đó trên thị trường quốc tế. Theo đó,
năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội và
nâng cao đời sống của người dân. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã đưa ra định
nghĩa về năng lực cạnh tranh quốc gia là "khả năng đạt và duy trì được mức tăng 9
trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng
kinh tế khác" (WEF, 1997). WEF cũng đưa ra tám nhóm yếu tố (bao gồm hơn 200
chỉ số) để xác định năng lực cạnh tranh tổng thể của một quốc gia (trọng số của mỗi
nhóm chỉ số có sự thay đổi nhất định qua các thời kỳ). Tám nhóm chỉ số đó là: (1)
Độ mở của nền kinh tế; (2) Các chỉ số liên quan đến vai trò và hoạt động của Chính
phủ; (3) Các yếu tố về tài chính; (4) Các yếu tố về công nghệ; (5) Các yếu tố về kết
cấu hạ tầng; (6) Quản trị; (7) Các yếu tố về lao động; (8) Và các yếu tố về thể chế.
Theo M.Porter "chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về năng lực
cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là nhân tố xác định cơ bản cho việc nâng cao sức sống
của một quốc gia xét về dài hạn" (M.Porter, 1990). Cũng theo ông, chỉ số năng suất
đến lượt mình lại phụ thuộc vào trình độ phát triển và tính năng động của các công
ty. Do vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia lại phụ thuộc vào các yếu tố trong nền kinh
tế quốc dân giữ vai trò quyết định cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế
cạnh tranh trong một lĩnh vực cụ thể. Ông đưa ra bốn nhóm các yếu tố tác động tới
năng lực cạnh tranh quốc gia là: (1) Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất (nguồn
lao động, tay nghề lao động, tài nguyên, vốn, tiềm năng về khoa học - công nghệ, hạ
cạnh tranh với các ngành sản xuất các sản phẩm thay thế khác. Các sản phẩm thay
thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt ngưỡng tối đa
cho mức giá mà các doanh nghiệp trong ngành có thể kinh doanh có lãi. Khả năng
lựa chọn về giá cả của các sản phẩm thay thế càng hấp dẫn thì ngưỡng chặn trên đối
với lợi nhuận của ngành càng cứng nhắc hơn. Người mua tranh đua với ngành bằng
cách bắt ép giá giảm xuống, chất lượng và các dịch vụ tốt hơn; làm cho các đối thủ
cạnh tranh chống lại nhau. Điều đó buộc các doanh nghiệp trong ngành phải coi các
yêu cầu của khách hàng là trên hết và phải tìm mọi cách để đáp ứng tối đa có thể nhu
cầu của họ thì mới thu được lợi nhuận. Vì vậy, nhu cầu đóng vai trò quan trọng trong
việc tạo ra động lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và toàn
ngành. Có thể khẳng định rằng, đặc tính của cầu giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc hình thành các đặc tính của sản phẩm và tạo ra những áp lực để nâng cao chất
lượng, gia tăng giá trị sử dụng và phát triển sản phẩm mới.
(3) Các ngành công nghiệp liên quan và phụ trợ: Với mỗi ngành sản xuất, sự
hình thành và phát triển cũng như năng lực cạnh tranh của nó luôn có sự phụ thuộc
rất lớn vào các ngành công nghiệp liên quan và phụ trợ; không có ngành nào phát
triển một cách độc lập, riêng biệt hoàn toàn (nông nghiệp phụ thuộc vào các ngành
sản xuất hoá học, thuốc bảo vệ thực vật ; công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự
phát triển của các ngành như: nguồn nguyên, nhiên liệu, công nghiệp chế tạo máy
móc ). Nếu những ngành liên quan và phụ trợ này phát triển mạnh mẽ thì sự phát
triển của ngành cũng thuận lợi; khả năng cạnh tranh mới cao; nếu ngược lại sẽ có tác
động tiêu cực tới khả năng cạnh tranh cũng như sự phát triển của ngành. Như vậy, sự
phát triển của một ngành còn bị tác động của rất nhiều ngành khác; giữa các ngành
có sự liên quan tới nhau, sản phẩm của ngành này là yếu tố đầu vào của ngành kia và
ngược lại.
Bên cạnh các nhóm yếu tố trên, cấu trúc thị trường, mức độ cạnh tranh, chiến
lược của các chủ thể trong nội bộ ngành, của đối thủ cạnh tranh và đặc biệt là vai trò 11
tư cách là tế bào cấu thành nên nền kinh tế thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
tạo sở sỡ vững chắc và hình thành nên năng lực cạnh tranh của quốc gia và năng lực
cạnh tranh quốc gia cũng chi phối tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ưu thế cạnh tranh của một doanh nghiệp sản xuất so với đối thủ cạnh tranh của
mình được thể hiện qua lợi thế về chi phí và lợi thế về sự khác biệt. Trong đó, lợi thế 12
về chi phí thể hiện qua việc doanh nghiệp có khả năng tạo ra sản phẩm với chi phí
thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Lợi thế về sự khác biệt lại phụ thuộc vào mức độ khác
biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng
sản phẩm hay nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép
thị trường có thể chấp nhận mức giá cao hơn của đối thủ
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của một sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được hiểu là
tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó có thể duy
trì và phát triển vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài và có ý
nghĩa.
Tuy có sự phân biệt tương đối về khái niệm song, giữa các cấp độ cạnh tranh
nêu trên có sự liên hệ mất thiết, gắn bó với nhau; giữa chúng tác có động qua lại, phụ
thuộc, chế định nhau và có mối quan hệ nhân quả với nhau. Một nền kinh tế có năng
lực cạnh tranh quốc gia cao buộc phải bao gồm những doanh nghiệp, các sản phẩm
dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao và tới lượt nó môi trường kinh tế vĩ mô, môi
trường kinh doanh đối với các sản phẩm dịch vụ phải thuận lợi thì các doanh nghiệp
và các sản phẩm dịch vụ mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm của ngành
- Các yếu tố thuộc về sản phẩm:
+ Giá cả hàng hoá.
Giá cả hàng hóa đóng một vai trò rất quan trọng trong cạnh tranh thường được
sử dụng trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vào một thị
trường mới. Nếu các loại hàng hoá có cùng giá trị sử dụng, chất lượng giống nhau
đòi hỏi người bán hàng phải thật sự tôn trọng khách hàng Giai đoạn sau bán hàng
chính là yêu cầu phải có các dịch vụ hỗ trợ khách hàng. Những dịch vụ này sẽ tạo sự
tin tưởng, uy tín của nhà cung cấp đối với người tiêu dùng. Bên cạnh đó, phương
thức thanh toán cũng được sử dụng như một công cụ cạnh tranh hữu hiệu, như: Trả
góp. trả chậm và các dịch vụ thanh toán ủy thác khác
Khả năng cạnh tranh về phân phối và bán hàng của một nhà cung cấp thường
được thể hiện qua các nội dung chủ yếu như: (1) Khả năng đa dạng hoá các kênh
phân phối và chọn được các kênh chủ lực. (2) Khả năng tuyển chọn được những
người điều khiển đủ mạnh. (3) Khả năng có được hệ thống bán hàng phong phú và
hiện đại. (4) Khả năng có thể kết dính các kênh phân phối lại với nhau. (5) Khả năng
hợp tác những người bán trên thị trường nhất là trên các thị trường lớn. (6) Khả năng
cung cấp các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý (phương thức bán hàng và
phương thức thanh toán).
+ Uy tín của doanh nghiệp và thương hiệu hàng hóa:
Uy tín của doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở chất lượng sản phẩm, giá trị
sử dụng của các loại sản phẩm mà doanh nghiệp đó cung ứng ra thị trường, các dịch
vụ trong và sau bán hàng và tất nhiên là giá cả sản phẩm phải hợp lý. Điều đáng đề
cập đến hơn thế nữa là uy tín của doanh nghiệp chỉ có thể có được khi doanh nghiệp
đó đáp ứng được những đòi hỏi nêu trên trong một thời gian đủ để khách hàng đưa ra
những đánh giá chín muồi về doanh nghiệp. Nói cách khác, xây dựng thương hiệu 14
sản phẩm, tạo dựng uy tín doanh nghiệp là một hoạt động cần được triển khai thường
xuyên trong suốt quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
Bên cạnh các yếu tố nêu trên, còn có một số yếu tố khác mà các nhà cung cấp
cần nghiên cứu để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình như: Tăng cường áp dụng
khoa học, công nghệ mới vào sản xuất; xây dựng và phát triển thương hiệu; đầu tư
cho nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng, mức sống dân cư để có thể thu được những thông
tin sát thực giúp đưa ra những dự báo và quyết định chính xác, quản trị rủi ro
15
các yếu tố như: Năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao
động và sự sáng tạo
+ Hoạt động marketing và xúc tiến thương mại:
Ngày nay, khi nói tới xúc tiến thương mại người ta thường muốn đề cập tới các
hoạt động giúp các doanh nghiệp có thể giới thiệu các sản phẩm phẩm, hàng hóa,
dịch vụ mà họ muốn cung cấp cho khách hàng. Một doanh nghiệp dù có sản phẩm,
dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao đến đâu nhưng không có các biện pháp thích hợp
và không triển khai đồng bộ các hoạt động xúc tiến thương mại để giúp khách hàng
nhận thức đầy đủ về tính ưu việt cũng như lợi thế so sánh của sản phẩm, dịch vụ
mình cung cấp thì không thể thành công trong kinh doanh do khách hàng không chủ
động tìm tới các nhà cung cấp khi họ không có thông tin về sản phẩm dịch vụ của họ.
Vì vậy, hoạt động xúc tiến thương mại là một khâu quan trọng mà doanh nghiệp cần
triển khai đồng bộ trước khi tiến hành cung cấp một loại sản phẩm, hàng hóa dịch vụ
ra thị trường. Tóm lại, hoạt động xúc tiến thương mại là yếu tố có tác động, ảnh
hưởng mạnh mẽ tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm mặc dù nó không thuộc quá
trình sản xuất công nghiệp.
+ Yếu tố trang thiết bị, công nghệ:
Như đã phân tích ở trên về các yếu tố tác động tới năng suất, chất lượng và giá
thành sản phẩm thì yếu tố trang thiết bị công nghệ đóng vai trò chủ chốt trong việc
nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Với một dây
chuyền máy móc thiết bị, công nghệ phù hợp, chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo,
năng suất lao động được nâng cao, giá thành sản phẩm sẽ hạ và tất yếu năng lực cạnh
tranh của sản phẩm dịch vụ sẽ nâng cao. Vì vậy, yếu tố thiết bị công nghệ có tác
động mạnh tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Thông thường, yếu tố trang thiết bị, công nghệ thể hiện ở hai mặt sau đây: (1)
Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng có được các công
nghệ tiên tiến. (2) Quy mô và năng lực sản xuất: Để đạt hiệu quả cao trong sản xuất
kinh doanh, khai thác hiệu quả các nguồn đầu tư; giảm thiểu chi phí cố định trong giá
thành sản phẩm thì doanh nghiệp phải có quy mô sản xuất và mức sử dụng công suất
cho vai trò của yếu tố này là việc các quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời
thường có lợi thế so sánh tương đối khi tiến hành xuất khẩu các chủng loại hàng hóa
mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống (không thể nhầm lẫn với các
quốc gia khác), như: Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành xuất khẩu các loại thảm dệt thủ công,
Trung Quốc thương mại hóa rượu Mao Đài và Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm dệt
may từ chất liệu thổ cẩm, đũi, tơ tằm
+ Môi trường công nghệ:
Môi trường công nghệ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với năng
lực cạnh tranh của hàng hóa của mỗi quốc gia vì môi trường công nghệ sẽ chi phối
tới khả năng, chi phí cho việc đổi mới công nghệ sản xuất ở quốc gia đó. Hơn thế
nữa, với tốc độ phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ như hiện nay thì vòng
đời của một dây chuyền công nghệ sản xuất đang ngày càng được rút ngắn. Như vậy,
một dây chuyền công nghệ hiện nay đang được đánh giá là hiện đại (tất yếu cho ra 17
đời những sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng cao và giá thành chấp nhận được) sẽ
trở thành công nghệ trung bình trong một, vài năm sau đó.
+ Môi trường quốc tế:
Ngày nay, trong điều kiện của toàn cầu hoá kinh tế, mọi quốc gia chỉ có thể tồn
tại và phát triển trong sự phụ thuộc tương đối lẫn nhau, cùng chịu sự chi phối nhất
định của một môi trường chung - môi trường quốc tế. Sự biến động của môi trường
quốc tế sẽ có những tác động tới một số hay toàn bộ các quốc gia trên thế giới. Sự
phụ thuộc tương đối và những tác động theo kiểu hiệu ứng đominô này đã thể hiện
khá rõ ở các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á và Mỹ La tinh trong thập niên
1990 vừa qua Khi nói đến môi trường quốc tế - đặc biệt là đối với các sản phẩm
xuất khẩu - tức là đề cập đến các biến động kinh tế trên thị trường thế giới và các
nhân tố chính trị của các quốc gia. Trong đó, (1) Những biến động kinh tế trên thị
trường thế giới (sự xuất hiện hay mất đi của các liên minh kinh tế, liên minh thuế
quan; các thỏa thuận thương mại đa và song phương ) nhất định sẽ tác động tới năng
quốc gia khác mà có thể tận dụng để sản xuất ra những sản phẩm có khả năng cạnh
tranh cao. Những lợi thế này rất đa dạng tuy nhiên hiện nay nó ít được sử dụng để
đánh giá vì nó nhìn nhận các lợi thế và năng lực cạnh tranh trong trạng thái tĩnh,
không có sự di chuyển tự do của các nguồn lực từ nơi này sang nới khác (không thật
sự phù hợp với xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế hiện nay).
+ Khả năng chiếm lĩnh thị trường được thể hiện trên hai góc độ: Thứ nhất, đối
với sản phẩm sản xuất thay thế nhập khẩu và tiêu thụ nội địa được thể hiện ở khả
năng chiếm lĩnh thị phần trong nước. Thứ hai, đối với sản phẩm xuất khẩu là khả
năng chiếm lĩnh thị phần ngoài nước. Đây là một tiêu chí được sử dụng tương đối
phổ biến vì không quá phức tạp trong cách lượng hóa, phân tích (thể hiện qua: Thị
phần, kim ngạch xuất khẩu ) và nó phù hợp với xu thế tự do hóa thương mại hiện
nay. Tuy nhiên, tiêu chí này chỉ thể hiện được năng lực cạnh tranh của một sản phẩm
trong thời điểm hiện tại mà chưa phản ánh được xu thế phát triển và tiềm năng trong
tương lai.
- Các hệ số RCA và DRC:
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của thương mại quốc tế, các chỉ tiêu kinh
tế đang ngày càng mang tính phổ quát và được áp dụng tương đối rộng rãi trong các
báo cáo đánh giá của các tổ chức kinh tế quốc tế. Nó đang trở thành những thước đo
tương đối đầy đủ về mức độ phát triển, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, doanh
nghiệp, ngành và các quốc gia trong tổng thể nền kinh tế thế giới thông qua các yếu
tố then chốt với trọng số của mỗi chỉ số có thể thay đổi theo từng lính vực, giai đoạn
cụ thể. Sau đây xin đưa ra một số chỉ số đánh giá về khả năng cạnh tranh:
+ Hệ số cạnh tranh RCA (Revealed Comparetive Advantage)- Hệ số lợi thế so
sánh hiển thị:
Một quốc gia được coi là có lợi thế so sánh cao hơn một quốc gia khác trong
sản xuất, cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó khi chi phí để sản xuất ra nó
thấp hơn tương đối so với các đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, các nhà nghiên cứu kinh tế
luôn tìm cách để có thể lượng hóa lợi thế so sánh (hay lợi thế cạnh tranh) của quốc
gia này về một loại sản phẩn, hàng hóa, dịch vụ nhất định so với một quốc gia khác
ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới.
Với cách tính như vậy, hệ số so sánh RCA cho phép loại trừ các ảnh hưởng
biến động giá cả, phản ánh lợi thế so sánh tạo được cho một sản phẩm cụ thể trên thị
trường toàn cầu do khai thác và phát huy có hiệu quả các nhân tố nguồn lực, tài
nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ
+ Hệ số lợi thế so sánh nội sinh DRC (Domestic Resource Cost):
Phương pháp tính hệ số so sánh nội sinh DRC dựa trên cơ sở tính hệ số tỷ lệ
tổng chi phí nội địa của một đơn vị sản phẩm với mức giá xuất khẩu trung bình của
một đơn vị sản phẩm đó trên thị trường quốc tế. Hệ số thu được cho mỗi sản phẩm
dịch vụ được gọi là hệ số so sánh nội sinh của sản phẩm, dịch vụ ấy. 20
Hệ số DRC nếu được tính toán cho từng thời kỳ sẽ phản ánh khả năng kinh tế
(hay lợi thế kinh tế, lợi thế so sánh) của quá trình đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm trên thị trường thế giới. Một quốc gia có lợi thế tương đối trong sản xuất, xuất
khẩu sản phẩm đó khi có hệ số DRC nhỏ hơn 1. Trái lại, nếu hệ số DRC lớn hơn 1
thì có nghĩa là sản phẩm, dịch vụ đó không có lợi thế so sánh tương đối trong thị
trường xuất khẩu thế giới.
Hệ số DRC cần thiết cho hoạch định chiến lược hướng tới xuất khẩu; nó cho
phép các chiến lược gia định hướng, lựa chọn những sản phẩm chủ yếu có tiềm năng
nội sinh về hiệu quả kinh tế và có dung lượng lớn (quy mô lớn) trên thị trường thế
giới; đồng thời định hướng điều chuyển các nhân tố đầu vào để giảm tổng chi phí nội
địa và kiểm soát hệ số DRC trước các biến động về giá cả trên từng thị trường tiêu
thụ sản phẩm.
+ Chi phí đơn vị (UC):
Mặc dù DRC là một thước đo hữu ích và thường được sử dụng trong các
nghiên cứu về khả năng cạnh tranh, nhưng đối với nhà hoạch định chính sách thì đôi
lúc cũng khó nắm bắt khái niệm này. Thêm nữa, việc ứơc tính DRC trong nhiều
trường hợp là không dễ dàng. Vì vậy, ở Việt Nam, nhiều nhà kinh tế sử dụng thước
nhỏ hơn 1. Vì vậy, thước đo khả năng cạnh tranh này thể hiện khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp/sản phẩm - Chi phí đơn vị càng thấp thì khả năng mở rộng doanh
nghiệp và/hoặc khả năng đương đầu với những biến động không thuận lợi bên ngoài
sẽ lớn hơn, chi phí đơn vị thấp hơn có thể được coi là dấu hiệu của khả năng cạnh
tranh cao hơn. So sánh chi phí đơn vị giữa các doanh nghiệp hay sản phẩm vì vậy có
thể mang lại những thông tin cần thiết về khả năng cạnh tranh tương đối của các
doanh nghiệp và sản phẩm.
Phân tích năng lực cạnh tranh dựa trên chi phí là giải pháp tốt trong việc đánh
giá khả năng cạnh tranh tổng thể của các doanh nghiệp và được các chuyên gia gọi là
khả năng cạnh tranh chi phí. Khái niệm khả năng cạnh tranh chi phí có thể được sử
dụng để phân tích khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cả ở thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
1.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH ĐƢỜNG MÍA
1.2.1. Tình hình ngành đƣờng của một số quốc gia và khu vực
1.2.1.1. Trung quốc:
Do tác động của cải cách kinh tế, sản lượng đường Trung Quốc trong nhiều
năm liên tục tăng trưởng, cụ thể năm 1994 đạt 4,15 triệu tấn, năm 1995 đạt 5,65
triệu tấn, năm 1996 đạt 6,53, đến nay đạt 6,8 triệu tấn, trong khi đó tiêu thụ đường
hàng năm vào khoảng 8,5 triệu tấn, thấp hơn nhu cầu nội địa gần 2 triệu tấn. Trung
Quốc còn có dự trữ đường trên 1 triệu tấn. Tuy nhiên, sản lượng đường bình quân
đầu người của Trung Quốc còn thấp, khoảng 6,5 kg/người/năm (trong khi đó trên thế
giới là 20 kg/người). Hàng năm Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu và cũng bị ảnh
hưởng của việc nhập lậu đường từ Thái Lan với giá rẻ hơn nhiều so với giá thành
đường sản xuất trong nước vào khoảng 4000-4200 NDT/T (tương đương 500-514 22
USD/T). Quảng Tây là khu vực sản xuất đường mía lớn nhất Trung Quốc với giá
đường trắng xuất xưởng thấp hơn song cũng ở mức là 373 USD/T (đầu năm 2000).
nhưng chỉ bán được 2000 tệ. Ở nước ngoài, chỉ cần 2-3 mẫu mía có thể sản xuất
được 1 tấn đường, trong khi Trung Quốc cần ít nhất 4-5 mẫu, thậm chí một số vùng
lên tới 7-8 mẫu do năng suất mía thấp và hàm lượng đường trong mía thấp. 23
Dự báo được những ngành hàng kém hiệu quả sẽ chịu nhiều rủi ro trong hội
nhập, chính phủ Trung Quốc đã đề ra một số biện pháp cải cách quyết liệt. Kể từ
năm 2000, một loạt biện pháp được áp dụng như cắt giảm 10% diện tích trồng
nguyên liệu cho sản xuất đường, giảm bớt khoảng 2,43 triệu tấn, sản lượng còn
khoảng 8,5-9 triệu tấn, đóng cửa các nhà máy đường kém hiệu quả. Năm 2000, sau 2
năm liên tục sản xuất mía đường thất bát do sương muối, nhưng Trung Quốc vẫn
quyết định đóng cửa 143 nhà máy thua lỗ trong tổng số 539 nhà máy chế biến
đường để giảm mạnh thua lỗ, riêng tỉnh Quảng Đông đóng cửa một loạt nhà máy,
giảm số nhà máy từ 79 xuống 37. Năm 2001 Trung Quốc tiếp tục đóng cửa 45-50
nhà máy đường hoạt động kém hiệu quả. Với biện pháp này Trung quốc hy vọng các
nhà máy đường trong nước còn lại sẽ cạnh tranh được với đường nhập khẩu. Sản
lượng đường vụ 2000/2001 chỉ ở mức 7,2 triệu tấn, vẫn thấp hơn nhu cầu 1,3-1,5
triệu tấn, và nhập khẩu đường năm 2001 lên tới 1,6 triệu tấn.
Bất chấp các cố gắng to lớn này, một khi hướng đầu tư to lớn của Chính phủ
và nhân dân đã đổ vào ngành đường trong nhiều năm, việc điều chỉnh không thể diễn
ra một sớm một chiều. Số liệu cho thấy diện tích củ cải đường của Trung Quốc giảm
khoảng 300 ngàn hecta trong khi diện tích mía vẫn tăng lên khoảng gần 400 ngàn
hecta. Nguyên nhân cơ bản của tình hình là do: