ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THÀNH TRUNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VIỆT NAM Chuyên ngành:
Kinh tế chính trị
Mã số:
60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM QUANG VINH
3.2. Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển Châu Á 34
4. Bài học tham khảo dành cho Việt Nam trong việc đổi mới quản lý nhà
nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ nhân 37
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 40
1. Thực trạng phát triển của kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam. 40 1.1. Sự phát triển về số lượng kinh tế tư nhân ở Việt Nam 40
1.2. Sự phát triển về quy mô vốn đầu tư 41
1.3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế 43
2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ nhân 44
2.1. Khái quát đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc
quản lý, phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta 44
2.2. Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân thông qua Luật Doanh nghiệp 53
2.2.1. Những kết quả đạt được 53
2.2.2. Những bất cập còn tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện Luật
Doanh nghiệp năm 2005 60
2.2.3. Thực trạng công tác ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện
các văn bản pháp luật về doanh nghiệp 67
2.3. Thực trạng việc xây dựng, ban hành cơ chế chính sách kinh tế nhằm phát
triển kinh tế tư nhân 69
3. Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập trong quản lý nhà nƣớc đối
với khu vực kinh tế tƣ nhân 84
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN
LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƢ NHÂN 87
1. Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế
tƣ nhân 87
1.1. Phát triển kinh tế tư nhân phải xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất
nước đồng thời phù hợp với chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện của Đảng,
1
LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước
ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ
chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng. Đại hội X của Đảng
khẳng định kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản
tư nhân là một động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện nay, kinh tế tư nhân chiếm khoảng 39% GDP, các doanh nghiệp
kinh tế tư nhân chiếm khoảng 80% trong tổng số doanh nghiệp trên cả nước.
Điều đó đã mở ra những khả năng mới thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và giải
quyết những vấn đề xã hội bức xúc của đất nước, như giải phóng sức sản
xuất, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, giải quyết việc làm, thúc
đẩy phân công lao động xã hội, phát triển thị trường vốn, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những
đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kinh tế - xã
hội đất nước trong công cuộc đổi mới, một lần nữa khẳng định tính đúng đắn
của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp
sang xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên việc đa dạng các hình thức sở hữu.
Tuy nhiên, ngoài những đóng góp quan trọng và những ưu điểm nêu
trên, khu vực kinh tế tư nhân còn có những yếu kém và hạn chế như quy mô
còn nhỏ bé, khả năng cạnh tranh thấp trước yêu cầu của quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Nguyên nhân của thực trạng đó là từ sự chậm trễ trong việc
kinh tế tư nhân.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân. 3
- Đề xuất các quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ
thống Luật pháp - Hệ thống cơ chế, chính sách và Biện pháp tổ chức thực
hiện nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân
Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước đối với kinh tế
tư nhân ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân giai
đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay.
- Phân tích những kết quả đạt được, chỉ ra những bất cập cùng những
nguyên nhân tồn tại để có định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với kinh tế tư nhân.
- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đề xuất phương hướng và hệ
thống các giải pháp hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: dưới góc độ kinh tế chính trị, vai trò quản lý
nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân ở Việt
Nam được nghiên cứu với những nội dung cơ bản liên quan đến hệ thống cơ
chế chính sách, cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý và vai trò quản lý nhà
nước nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, đặc biệt trong việc cải
thiện môi trường kinh doanh hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu về vai trò quản lý nhà nước đối với
kinh tế tư nhân là một vấn đề rất rộng, vì vậy luận văn chỉ nghiên cứu những
vấn đề về vai trò, nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân từ năm
1986 đến nay và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước
đối với kinh tế tư nhân trong thời gian tới.
quá trình đổi mới ở Việt Nam
Chƣơng 3: Quan điểm, mục tiêu và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN
1.1. Quan niệm về kinh tế tƣ nhân
Khái niệm kinh tế tư nhân hay khu vực kinh tế tư nhân hiện nay còn có
nhiều ý kiến chưa đồng nhất. Ở nhiều nước, thuật ngữ “kinh tế tư nhân” được
sử dụng để phân biệt với kinh tế nhà nước. Theo nghĩa rộng, nền kinh tế được
phân chia thành hai khu vực kinh tế chủ yếu: 1) Kinh tế nhà nước và 2) Kinh
tế tư nhân.
Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên
nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, kinh tế tư nhân đã ra đời từ rất sớm, gắn liền
với sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá và ngược lại, sự hình thành
và phát triển kinh tế hàng hoá lệ thuộc vào sự phát triển kinh tế tư nhân. Dưới
chế độ công xã nguyên thuỷ, chưa có sở hữu tư nhân và do đó chưa có kinh tế
tư nhân. Sở hữu tư nhân xuất hiện khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã và
bắt đầu hình thành kinh tế tư nhân. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin đã mô tả một cách đầy đủ và toàn diện về sự xuất hiện của sở hữu tư
nhân: chế độ sở hữu tư nhân ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài
của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội và là cơ sở làm nảy sinh,
tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân. Sự tồn tại lâu dài và phát triển mạnh mẽ
của kinh tế tư nhân trong lịch sử đã chứng tỏ kinh tế tư nhân mang trong mình
và do đó, kinh tế cá thể vẫn chủ yếu hoạt động theo qui luật tái sản xuất giản đơn.
- Các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển
trong nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức khác nhau, hoạt động dựa
trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và nói chung có quy mô vốn lớn hơn 7
kinh tế cá thể và có thuê mướn lao động. Mục tiêu của các doanh nghiệp là
tạo ra ngày nhiều hơn giá trị thặng dư. Quy luật chi phối hoạt động của doanh
nghiệp là tái sản xuất mở rộng.
Ở nước ta, kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển mạnh mẽ gắn
liền với sự nghiệp đổi mới, quan niệm về kinh tế tư nhân cũng từng bước
được thể hiện rõ hơn. Đại hội IX của Đảng xác định nền kinh tế nước ta có 6
thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ,
kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tư bản có vốn đầu
tư nước ngoài.
Đến Đại hội X Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta có 5 thành phần
kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư
bản tư nhân) kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Như vậy, ở nước ta hiện nay, kinh tế tư nhân không phải là một thành
phần kinh tế mà là một khu vực kinh tế gồm hai thành phần kinh tế: thành
phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Ở đây,
khái niệm khu vực kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế
cùng một chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất. Hai thành phần kinh tế cá thể,
tiểu chủ và tư bản tư nhân đều thuộc cùng một chế độ sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất, vì vậy cũng thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết số 14/NQ-
TW ngày 18-3-2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và
tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, nêu rõ: “kinh tế tư nhân gồm kinh tế
cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh
của kinh tế tư nhân. Sở hữu tư nhân phát triển từ thấp lên cao và bao gồm hai
hình thức cơ bản:
Một là, Sở hữu tư nhân nhỏ là sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình sản
xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính cá nhân hay hộ gia đình đó. Sở
hữu tư nhân nhỏ là hình thức sở hữu tồn tại chủ yếu trong nền sản xuất hàng
hoá giản đơn, giá trị thặng dư không đáng kể.
Hai là, Sở hữu tư nhân lớn gắn liền với sự xác lập nền sản xuất lớn, là
đại biểu của nền kinh tế hàng hoá phát triển đến trình độ cao, của phương
thức sản xuất tư bản công nghiệp. Trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản,
sở hữu tư nhân lớn ra đời dựa trên cơ sở tích tụ tư bản (vốn) và sử dụng lao
động làm thuê. Một phần lớn giá trị thặng dư đã được tích luỹ để tái sản xuất 9
mở rộng nhằm không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra ngày càng
nhiều hơn giá trị thặng dư.
Đối với hình thức kinh tế cá thể, do dựa trên qui mô nhỏ và hầu như
không sử dụng lao động làm thuê, nên việc tổ chức quản lý sản xuất được diễn
ra trong phạm vi cá thể. Các cá nhân tự mình tổ chức sản xuất hoặc chịu sự
phân công, quản lý của người chủ gia đình trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Kinh tế tiểu chủ là hình thức tổ chức sản xuất có quy mô sản xuất, kinh
doanh lớn hơn kinh tế cá thể, tự mình trực tiếp lao động và có thuê một phần
lao động.
Đối với hình thức tổ chức kinh doanh kiểu kinh tế tư bản tư nhân, việc tổ
chức quản lý sản xuất được biểu hiện ở mô hình doanh nghiệp. Như đã nêu ở
trên, mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp ra đời gắn liền với sự hình thành
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường,
doanh nghiệp là một mô hình tổ chức kinh doanh mà chủ thể doanh nghiệp
đồng thời là chủ thể tư bản (vốn), có thuê mướn lao động và có mục tiêu tạo
ra giá trị thặng dư. Mô hình doanh nghiệp ngay từ khi mới ra đời đã thể hiện là
Một là, kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân - động lực thúc đẩy
xã hội phát triển.
Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay đã cho thấy
rằng lợi ích của mỗi cá nhân là động lực trước hết và chủ yếu thúc đẩy xã hội
phát triển. Điều cốt yếu là phải tạo ra sử dụng động lực đó phù hợp và phục
vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội. Nền kinh tế thị trường tồn tại mấy trăm
năm vẫn chủ yếu là dựa trên lợi ích cá nhân, tôn trọng lợi ích cá nhân. Vấn đề
là Nhà nước, với tư cách là tổ chức quản lý xã hội, phải định hướng, dẫn dắt
lợi ích cá nhân hài hòa với lợi ích xã hội. Thực tế cũng cho thấy, nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung đã đề cao quá mức lợi ích nhà nước tập thể, coi nhẹ lợi
ích cá nhân, do đó đã làm thui chột động lực phát triển kinh tế - xã hội. Trong
thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường, với việc tôn trọng lợi ích cá nhân, 11
đã tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quá
trình chuyển đổi của nền kinh tế nước ta trong những năm qua cũng đã chứng
minh điều đó. Sự hồi sinh và phát triển của kinh tế tư nhân trong những năm
đổi mới vừa qua chính là nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội trong quá trình sản xuất, do đó đã tạo ra động lực quan trọng thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Do gắn liền với lợi ích cá nhân nên kinh tế tư nhân có sức sống mãnh
liệt. Quá trình quốc hữu hóa trong nền kinh tế mệnh lệnh trước đây đã bằng
mọi cách xóa bỏ kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, trong môi trường khắc nghiệt đó,
kinh tế tư nhân vẫn len lỏi tồn tại. Trong một thời gian dài, kinh tế gia đình
với một phần ruộng đất rất nhỏ do hợp tác xã để lại nhiều khi là nguồn thu
nhập chính của các hộ nông dân. Kinh tế tư nhân, cá thể bị ngăn cấm bởi các
mệnh lệnh của nhà nước nhưng vẫn tồn tại như một tất yếu khách quan.
Ở miền Bắc nước ta, bộ phận kinh tế gia đình với phần ruộng đất 5%
trong thời kỳ tập thể hóa nông nghiệp đã thể hiện rõ vai trò to lớn của nó.
đại. Trong đó, cơ cấu của kinh tế thị trường chủ yếu là dựa trên cơ sở của mô
hình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu cao nhất và cuối cùng là tạo ra giá trị
thặng dư. Cơ chế hoạt động tất yếu của nó là không ngừng chuyển giá trị
thặng dư thành tích luỹ tăng thêm của sự phát triển kinh tế. Trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người cho đến nay, đó là mô hình tổ chức kinh doanh có
hiệu quả nhất, có vai trò tiến bộ nhất để thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy rằng, mô hình tổ chức doanh
nghiệp đã, đang và còn tiếp tục là một mô hình tổ chức kinh tế có hiệu quả,
phù hợp với cơ chế thị trường hiện đại.
Ba là, kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường.
Các nhà kinh tế đều cho rằng cơ chế thị trường là cách thức tốt nhất và
duy nhất (ít nhất là cho đến nay) để một nền kinh tế vận hành có hiệu quả cao.
Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến một nền sản xuất lớn, hiện đại. Sự
sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng cho phép chúng ta khẳng định rằng 13
các quốc gia, dù với chế độ chính trị khác nhau, đều không thể không sử dụng
cơ chế thị trường. Ngược lại, kinh tế thị trường khó có thể tồn tại và phát triển
nếu không có sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân. Nói cách khác, cơ chế thị
trường hiện đại chính là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là
mô hình tổ chức doanh nghiệp. Hình thức tổ chức sản xuất này là sản phẩm tự
nhiên của cơ chế thị trường và tự nó lớn lên trong cơ chế thị trường.
Bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải
thừa nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp này. Ngược lại, mô
hình tổ chức doanh nghiệp tự nó ứng xử theo cơ chế thị trường và có sức sống
mãnh liệt trong môi trường của cơ chế thị trường. Trong khi đó, kinh tế quốc
doanh, do quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, được sinh ra bởi các
mệnh lệnh của nhà nước trong các nền kinh tế mệnh lệnh, mặc dù được động
viên, hướng dẫn và chỉ thị rằng chúng phải ứng xử theo cơ chế thị trường
giai cấp tư sản và nhà nước tư sản. Kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay cũng
khác với kinh tế tư nhân ở nhiều nước khác - nơi mà quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa là quan hệ sản xuất thống trị. Sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư
nhân ở nước ta hiện nay được coi như là một công cụ, là những hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của xã hội chủ nghĩa, là bộ phận cấu
thành của quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Kinh tế tư nhân nước ta ra đời và phát triển trong thời kỳ đất nước đang
quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chậm phát triển, trong bối cảnh
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải phóng sức sản xuất, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành vấn đề trung tâm. Trong điều kiện đó, để
đạt được mục tiêu xây dựng một xã hội có cơ sở vật chất kỹ thuật cao hơn chủ
nghĩa tư bản, việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trở nên như một tất
yếu lâu dài và cần được coi như là một cách thức, phương tiện tất yếu để đi
lên chủ nghĩa xã hội.
- Do những điều kiện tồn tại đó, kinh tế tư nhân ở nước ta có đặc điểm
khác về bản chất so với kinh tế tư nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Điều đó 15
thể hiện ở chỗ:
+ Kinh tế tư nhân ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần, là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Như vậy, kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời và phát triển vì bản
thân của công cuộc đổi mới và phục vụ cho sự nghiệp đổi mới. Vì vậy, nó
mang trong mình bản chất khác với kinh tế tư bản tư nhân ở các nước tư bản
trước đây và hiện nay. Là sản phẩm của đổi mới, người tham gia làm kinh tế
tư nhân phần lớn xuất thân từ những đảng viên, đoàn viên, cán bộ quân đội và
tầng lớp tri thức, sinh ra và trưởng thành trong chế độ mới. Người lao động
trong các doanh nghiệp cũng thuộc giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp
tri thức được hình thành trong xã hội mới. Trong các doanh nghiệp đã và đang
kháng, không hoàn toàn là quan hệ chủ - thợ, quan hệ giữa một bên là chủ sở
hữu tư liệu sản xuất và một bên là người làm thuê, bị bóc lột, bị “tước đoạt”
hết tư liệu sản xuất như trước đây nữa mà mang tính chất hợp tác.
- Sự phát triển của kinh tế tư nhân góp phần tăng tính cộng đồng dân tộc,
yếu tố dân tộc, hình ảnh của dân tộc trong cộng đồng quốc tế. Sự mở rộng của
các loại sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế là một
minh chứng nhằm tăng cường hình ảnh Việt Nam, yếu tố Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.5. Vị trí, vai trò của kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, là
một chủ trương khoa học, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy mọi
nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo
pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh. 17
Đổi mới cơ chế kinh tế, hoàn thiện quan hệ sản xuất để phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất của các thành
phần kinh tế là một thành công lớn của Đảng ta trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đánh dấu bước ngoặt quan
trọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định sự tồn
tại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần. Tiếp đó, Văn kiện Đại hội lần
thứ VII năm 1991 của Đảng tiếp tục khẳng định: Nhà nước thực hiện nhất
quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không tước
đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa, không áp đặt hình thức kinh
doanh, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh.
hình như chưa được quan tâm, thừa nhận: người ta thường nhấn mạnh yêu cầu
tăng đầu tư phát triển, tăng nhịp độ phát triển của GDP, nhưng hầu như ít nói
đến nhân tố nào có vị trí quyết định trong việc tăng trưởng đó. Vị trí của kinh
tế tư nhân mỗi năm được tăng lên trong đầu tư phát triển cũng như trong tăng
trưởng đã trở thành xu thế quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, không chỉ
hiện nay mà có ý nghĩa lâu dài trong tương lai.
- Là lực lượng quan trọng thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế phát triển đa dạng, cả công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo yêu cầu của thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Có thể khẳng định rằng, nếu chỉ đơn thuần dựa vào đầu tư của nhà nước,
không dựa vào lực lượng của kinh tế tư nhân thì chắc chắn không thể thực
hiện được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường.
- Là nơi bảo đảm cung cấp nhiều việc làm cho người lao động và là lực
lượng đóng góp lớn vật chất, công sức trong các hoạt động xã hội, từ thiện,
xóa đói giảm nghèo, giảm bớt sự chênh lệch, giàu, nghèo trong xã hội.
Trong thực tế, nơi giải quyết việc làm chủ yếu và quyết định nhất cho số
người đến tuổi lao động tăng lên hàng năm vẫn là từ các doanh nghiệp, các cơ 19
sở kinh tế tư nhân. Hơn thế nữa, việc bố trí việc làm cho số lao động dôi dư từ
các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại vẫn phải dựa vào kinh tế tư nhân.
- Là nơi đang hình thành một lớp người mới, một tầng lớp xã hội mới, đó
là doanh nhân, họ đích thực là người lính xung kích thời bình được xã hội
thừa nhận.
Trong thực tế, tầng lớp doanh nhân mới của xã hội chính là những người
có đủ dũng cảm đưa tài sản, vốn liếng ra kinh doanh trong một môi trường
chưa đủ thông thoáng, còn nhiều rủi ro; khá nhiều người trong số họ đang trở
thành nhà quản lý tài năng, nắm bắt tri thức hiện đại về quản lý và công nghệ
hội ta đã thay đổi nhiều vùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội.
Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu
tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng"
3
. Đó chính là cơ sở để
thống nhất nhận thức, phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, phát huy
mọi tiềm năng của kinh tế tư nhân. Đồng thời "Khuyến khích phát triển kinh
tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà
pháp luật không cấm"
4
.
1.6. Các hình thức biểu hiện của kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta
Kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay bao gồm: Kinh tế cá thể, tiểu chủ và
các loại hình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân.
Hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ:
- Quan niệm về hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ.
Theo tinh thần Nghị định 66/HĐBT ngày 03/03/1992 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004
của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, thì hộ kinh doanh cá thể do một cá
nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa 2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr.23
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.22, 31
4
Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.22, 31
phẩm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cho xã hội và xuất khẩu.
+ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hộ kinh doanh cá thể