Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở việt nam - Pdf 34

Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1. LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................................2
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP.......................................................4
2.1 Kinh doanh đa cấp với nền kinh tế thị trường...........................................................................................4
2.2 Khái quát về điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp.................................................................13
2.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở một số nước trên thế giới....................15
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH ĐA CẤP Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ
...........................................................................................................................................................................19
3.1 Thực trạng kinh doanh đa cấp trong nền kinh tế thị trường Việt Nam....................................................19
3.2 Thực trạng pháp luật kinh doanh đa cấp ở Việt Nam..............................................................................31
3.3 Kiến nghị.................................................................................................................................................33
KẾT LUẬN......................................................................................................................................................39

1


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

CHƯƠNG 1......................................................................... LỜI

NÓI ĐẦU

Tính cấp thiết của đề án : Hoạt động kinh doanh đa cấp dù mới xuất hiện ở Việt
Nam trong vài năm gần đây nhưng đã được sự chú ý của dư luận vì bên cạnh những
mặt tích cực, nó còn tồn tại những mặt tiêu cực ảnh hưởng không nhỏ đối với nền
kinh tế và xã hội. Trong thời gian qua, những mặt tiêu cực của kinh doanh đa cấp
thể hiện khá rõ, thông qua hàng loạt vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp cũng
như người tham gia. Tuy vậy, bản thân phương thức kinh doanh đa cấp không phải

Cơ cấu đề án: Đề án gồm 3 phần:
−Phần mở đầu
−Phần nội dung: gồm 2 chương, trong đó chương 1 là một số vấn đề lí luận về
kinh doanh đa cấp, chương 2 là thực trạng pháp luật về kinh doanh đa cấp ở Việt
Nam và những kiến nghị.
−Phần kết luận

3


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
2.1 Kinh doanh đa cấp với nền kinh tế thị trường
2.1.1 Nền kinh tế thị trường – cơ sở ra đời của kinh doanh đa cấp
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường, ở đó nó tự động điều tiết nền kinh tế để hình thành các tỷ lệ cân đối theo
yêu cầu của quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Đây là ba quy
luật cơ bản, chi phối nền kinh tế thị trường. Trong đó, quy luật giá trị đòi hỏi việc
sản xuất và trao đổi hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, các
chủ thể kinh doanh không thể tự nâng giá sản phẩm lên cao vì như thế sản phẩm
không thể tiêu thụ được; quy luật cung cầu đòi hỏi tổng cung phải phù hợp tổng
cầu, theo đó sản phẩm tạo ra phải trên cơ sở phù hợp nhu cầu của người tiêu dùng;
quy luật cạnh tranh đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải giành ưu thế cho sản phẩm của
mình trên thị trường về chất lượng, mẫu mã... Đây là những quy luật kinh tế khách
quan, tồn tại trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, nhờ đó nó thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế, buộc các chủ thể kinh doanh phải chủ động, sáng tạo,
nhạy bén trong hoạt động của mình. Ngoài ra, các hình thức tổ chức kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng, phong phú với nhiều lợi ích khác nhau.
Theo đó, các hoạt động kinh doanh cũng đa dạng, đan xen lẫn nhau và tính chủ

cấp. Về mặt thực tiễn, kinh doanh đa cấp đã ra đời trong nền kinh tế thị trường ở
Liên bang Mỹ. Lịch sử phương thức kinh doanh đa cấp gắn liền với tên tuổi công ty
Amway và dòng sản phẩm dinh dưỡng bổ sung của nó. Quan niệm về việc sản xuất
chất dinh dưỡng bổ sung bắt nguồn từ đầu những năm 1930 bởi ông Carl Rehnborg,
một thương nhân người Mỹ đã sống ở Trung Quốc từ năm 1917 đến năm 1927.
Theo lời ông, những năm tháng ở Trung Quốc đã cho ông cơ hội được quan sát
tường tận việc thiếu chất dinh dưỡng trong các bữa ăn. Nhận thức được tầm quan
trọng của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể, ông bắt đầu bổ sung những dưỡng
chất cần thiết trong các bữa ăn. Sau 7 năm kinh nghiệm, Rehnborg bắt đầu sản xuất
những sản phẩm dinh dưỡng bổ sung và đưa cho bạn bè dùng thử. Theo lời kể của
Sam – con trai ông thì, sau một thời gian, ông đến thăm bạn bè để xem kết quả như
thế nào. Kết quả, ông tìm thấy sản phẩm của mình trên kệ, bụi bặm và bị quên lãng.
Điều này đã đưa ông đến với một ý tưởng mới. Theo đó, ông chia sản phẩm của
mình cho bạn bè, họ sử dụng chúng, nếu thích chúng thì chia sẻ cho bạn bè của họ.
Khi bạn bè ông đề nghị ông bán sản phẩm cho bạn bè của họ, ông nói: “Các bạn hãy
bán sản phẩm cho bạn bè các bạn và tôi sẽ trả hoa hồng cho các bạn!“.
Theo các chuyên gia kinh tế, lịch sử kinh doanh đa cấp từ khi ra đời cho đến nay
có thể chia thành ba giai đoạn:

5


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

Giai đoạn 1 (giai đoạn hình thành) từ 1940 đến 1979: kinh doanh đa cấp được
hình thành tại Liên bang Mỹ, kinh doanh đa cấp còn trong giai đoạn sơ khai nên
chưa có pháp luật điều chỉnh, hoạt động kinh doanh đa cấp còn mang tính tự phát,
phát sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng không tốt cho nền kinh tế và xã hội.
Giai đoạn 2 (giai đoạn đấu tranh và tồn tại) từ 1979 đến 1990: kinh doanh đa
cấp được phổ biến tương đối rộng rãi, đồng thời các doanh nghiệp kinh doanh đa


sớm nhất, những người tham gia sau thường phải đối mặt với việc nắm giữ một
khối lượng lớn hàng hoá đắt tiền mà không thể tiêu thụ được. Ở một số doanh
nghiệp, người tham gia có thể tránh được hậu quả này nhờ vào quy định đặt hàng
trực tiếp. Kinh doanh đa cấp chỉ dành cho những người thật sự năng động, làm việc
hết mình mà không dành cho những người lười lao động, chỉ thích ngồi không
hưởng thụ kết quả lao động của người khác.
Để hiểu rõ hơn về hoạt động kinh doanh đa cấp, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
những đặc điểm cơ bản của kinh doanh đa cấp như sau:
Thứ nhất, việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thông qua người tham
gia:
Người tham gia còn được gọi theo nhiều thuật ngữ khác như: phân phối viên
(Noni), đại diện bán hàng độc lập(Avon), nhân viên kinh doanh độc lập (Viva Life)

Để trở thành người tham gia, người muốn tham gia phải ký hợp đồng với doanh
nghiệp, mua một số tài liệu liên quan đến sản phẩm, đến doanh nghiệp cũng như kỹ
năng tiêu thụ sản phẩm, xây dựng mạng lưới…, sau đó tham dự các buổi huấn luyện
do doanh nghiệp tổ chức và cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm và xây dựng mạng lưới.
Người tham gia tiến hành các hoạt động một cách độc lập: nhân danh mình, tự
mình quyết định mọi vấn đề và tự chịu trách nhiệm, người tham gia không phải
nhân viên hay đại diện của doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào. Tư cách pháp
lý độc lập của người tham gia được quy định trong hợp đồng tham gia, cũng như
trong chính sách trả thưởng của doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp sẽ không chịu
trách nhiệm về hành vi quảng cáo gian dối, lừa đảo của người tham gia…
Người tham gia trực tiếp đưa hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng thông
qua việc chia sẻ kinh nghiệm bản thân về việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ. Nơi làm
việc của người tham gia rất đa dạng, có thể là nhà của người tham gia, nhà của
người tiêu dùng, nơi làm việc của người tiêu dùng…
Việc tiêu thụ sản phẩm thông qua mạng lưới người tham gia có những ưu điểm
riêng mà những hoạt động khác không thể có được, đó là khả năng tiêu thụ sản


27

125

343

81

625

2401

243

3125

16807

729

15625

117649

2187

78125

823543


1594323

1220703125

96889010407

4782969

6103515625

678223072849

14348907

30517578125

4747561509943

Theo sơ đồ trên ta thấy khả năng mở rộng mạng lưới người tham gia để tiêu thụ
sản phẩm là vô hạn. Ở cột số thứ nhất, ban đầu chỉ có 1người tham gia, người này
giới thiệu được 3 người vào mạng lưới và những người tiếp theo mỗi người cũng
giới thiệu được 3 người vào mạng lưới thì con số người tham gia sẽ là 27. Tương tự
như thế chúng ta có được những con số tiếp theo. Ở cột số thứ hai, với 1 người tham
gia ban đầu và mỗi người giới thiệu được 5 người vào mạng lưới thì con số tăng lên
rất nhiều. Như vậy, chỉ cần mỗi người giới thiệu được thêm 1 người vào mạng lưới
đang có thì số lượng người tham gia trong mạng lưới tăng lên gấp nhiều lần.
Về mặt kinh tế, tính lũy tiến trong mạng lưới người tham gia cho phép thị trường
được mở rộng không ngừng vì luôn luôn có người tham gia mới vào mạng lưới và


nhau:
Hiện nay có 4 loại sơ đồ kinh doanh chính gồm: sơ đồ ma trận, sơ đồ bậc
thang(sơ đồ ly khai), sơ đồ một cấp và sơ đồ nhị phân. Trong đó, chỉ có sơ đồ ma
trận và sơ đồ nhị phân là hạn chế độ rộng ở mỗi cấp (tức là hạn chế số người tham
gia tối đa ở mỗi cấp, thường tối đa là 2 người ở mỗi cấp), còn những sơ đồ khác thì
không hạn chế. Nhờ đó, số người tham gia không ngừng được mở rộng.

9


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

Sự phân định cấp trong mạng lưới người tham gia có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh
tế, vì nó thể hiện thu nhập người tham gia có thể có được từ kết quả bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ của những người tham gia khác trong mạng lưới do mình tổ chức
ra. Tuy nhiên, sự phân định này không có ý nghĩa về mặt tổ chức quản lý vì người
tham gia dù ở cấp nào đều độc lập nhau, họ không chịu sự ràng buộc của người
tham gia cấp trên, nếu có khả năng bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, xây dựng mạng
lưới rộng rãi thì về nguyên tắc, họ hoàn toàn có thể có thu nhập cao hơn, đạt được
danh hiệu cao hơn người tham gia cấp trên của mình.
Để hiểu rõ hơn về mạng lưới người tham gia, chúng ta cùng xem xét sơ đồ sau
đây. Sơ đồ này chỉ mang ý nghĩa ví dụ vì trong thực tế mạng lưới của người tham
gia rộng và sâu hơn rất nhiều.
Sơ đồ thể hiện mạng lưới của A

Cấp người tham gia

A
B1


họ là quan hệ giữa những đồng nghiệp với nhau trong việc tiêu thụ sản phẩm cho
doanh nghiệp, đồng thời là quan hệ giữa người giới thiệu và người được giới thiệu,
nghĩa là người giới thiệu có trách nhiệm hướng dẫn người được giới thiệu trong
việc tiêu thụ sản phẩm, trong việc xây dựng mạng lưới, những kỹ năng cần thiết
trong việc đảm bảo doanh số nhóm và những vấn đề khác có liên quan.
Mạng lưới người tham gia có tồn tại được hay không tuỳ thuộc rất lớn vào sự tồn
tại của mối quan hệ giữa người bảo trợ và người tham gia. Ở đây, người tham gia
cấp trên sẵn sàng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, giúp đỡ người tham gia cấp dưới,
vì quan hệ này không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa những đồng nghiệp với nhau
mà còn là quan hệ giữa những người có mối liên hệ mật thiết về mặt lợi ích kinh tế
với nhau, người tham gia cấp dưới hoạt động càng hiệu quả thì người tham gia cấp
trên hưởng lợi càng nhiều. Do đó, sự giúp đỡ lẫn nhau là điều không thể thiếu.
Thứ tư, người tham gia sẽ nhận được tiền hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc
các lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của mình và
của người tham gia khác do mình tổ chức ra và được doanh nghiệp chấp nhận:
Tiền hoa hồng là số tiền người tham gia nhận được theo tỷ lệ phần trăm được
tính trên cơ sở doanh số mà cá nhân người tham gia trực tiếp bán hàng hoá hoặc
cung ứng dịch vụ thu được. Tỷ lệ phần trăm hoa hồng cụ thể do từng doanh nghiệp
quy định. Có nhiều cách quy định tỷ lệ hoa hồng cho người tham gia. Thông
thường, doanh nghiệp sẽ quy định một tỷ lệ phần trăm nhất định, có một số doanh
nghiệp lại quy định tỷ lệ phần trăm dao động tuỳ theo mức doanh số cá nhân.
Tiền hoa hồng là khoản tiền tương đối ổn định mà người tham gia được hưởng.
Tuy nhiên, đa số thu nhập của người tham gia lại từ tiền thưởng. Tiền thưởng là
khoản tiền người tham gia nhận được trên cơ sở doanh số tiêu thụ sản phẩm của
những người tham gia khác trong mạng lưới của mình theo từng cấp nhất định.
Chính sách trả thưởng do từng doanh nghiệp quy định, các doanh nghiệp thường
hạn chế số cấp được chi trả, thường ở cấp 5 hoặc 6.

11


nháy… Ngoài ra, bằng việc tham gia vào hoạt động phân phối sản phẩm, người
tham gia còn có cơ hội tăng thu nhập. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh đa cấp không
có sự ràng buộc về mặt thời gian, theo đó người tham gia được tự do lựa chọn thời
gian làm việc, địa điểm làm việc…

12


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

− Đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà nước bằng các khoản thuế: thuế nhập
khẩu, thuế thu nhập không thường xuyên…. Ngoài ra, bằng các hoạt động từ thiện,
các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp góp phần giúp những người bất hạnh.
Về mặt tiêu cực:
− Có thể tạo nên môi trường cạnh tranh không lành mạnh, thể hiện ở việc lôi kéo,
giành giật người tham gia, nói xấu làm ảnh hưởng uy tín nhau giữa những người
tham gia cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau… Nghiêm trọng hơn, những
việc trên có thể dẫn đến những hành động bạo lực, gây rối trật tự an ninh xã hội, tạo
nên một môi trường cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng truyền thống đạo đức
của dân tộc.
− Thương mại hoá mối quan hệ giữa người với người: mọi mối quan hệ trong xã
hội đều có thể trở thành quan hệ thương mại. Bạn bè, người thân, làng xóm, đồng
nghiệp… đều có thể là khách hàng tiềm năng. Mối quan hệ giữa người với người sẽ
không chỉ đơn thuần xuất phát từ huyết thống, từ những tình cảm gắn bó… mà còn
xuất phát từ những lợi ích kinh tế được thụ hưởng từ công sức lao động của nhau.
Điều này có thể tạo tâm lý ganh ghét, bất mãn giữa người với người khi bạn bè,
người thân… lại hưởng lợi từ công sức của mình.
− Gia tăng những hành vi vi phạm pháp luật ở một số tội như lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, quảng cáo gian dối… nhằm tiêu thụ được sản phẩm cũng như lôi kéo người
khác tham gia vào mạng lưới của mình.

triển. Trong một số trường hợp, pháp luật còn tác động để thúc đẩy quá trình hình
thành và phát triển các quan hệ xã hội mới.


Đối với những quan hệ xã hội không phù hợp tiến trình phát triển của xã hội,

không đáp ứng lợi ích của nhân dân thì pháp luật ngăn cản, kìm hãm sự phát triển
của chúng và từng bước loại trừ ra khỏi đời sống xã hội.
2.2.2 Nội dung cơ bản điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp
Pháp luật về kinh doanh đa cấp ra đời là một yêu cầu tất yếu, pháp luật cần tập
trung điều chỉnh những vấn đề sau đây:
Vấn đề thứ nhất là hành vi kinh doanh đa cấp của các chủ thể kinh doanh:
Đây là vấn đề cơ bản cho sự ra đời, tồn tại của doanh nghiệp kinh doanh đa cấp.
Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh đa cấp hoạt động trên cơ sở có sự thừa nhận của
pháp luật, có đăng kí kinh doanh hợp pháp, đáp ứng những yêu cầu luật định. Trên
cơ sở sự tuân thủ pháp luật, các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp được đảm bảo
những quyền lợi hợp pháp, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của mình. Nói
cách khác, kinh doanh đa cấp chân chính được thừa nhận là một hành vi thương mại
như những hành vi thương mại khác (nua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá,
ủy thác mua bán hàng hoá…). Theo đó, kinh doanh đa cấp chân chính được định
nghĩa là hành vi kinh doanh mà ở đó doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm thông qua
mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp khác nhau, người tham gia sẽ được nhận
hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiêu thụ sản phẩm của
mình và của người tham gia khác trong mạng lưới do mình tạo ra và được doanh

14


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam


Sau đây là những ví dụ cụ thể:

15


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

Quốc gia
Anh
Uùc
Canada
Đan Mạch
Gruzia
Hàn Quốc
Liên bang Mỹ
Indonesia
Ireland
Nhật Bản
Pháp
Queensland
Singapore
Thái Lan
Trung Quốc


Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh đa cấp
Luật về kinh doanh đa cấp (1990)
Luật Thương mại (điều 56)
Luật cạnh tranh ngày 01/01/1993 (điều 55), Luật hình sự
Luật hình sự (điều 279)


Theo ý kiến đóng góp trên trang web của Bộ Thương mại
16


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

− Không được buộc người tham gia phải mua một lượng hàng hoá quá nhiều mà
người bình thường trong một thời gian ngắn không thể bán được…
 Pháp:
− Doanh nghiệp phải mua lại sản phẩm đã bán cho người tham gia theo những
điều kiện trong hợp đồng tham gia.
− Cấm doanh nghiệp yêu cầu người tham gia muốn nhận hoa hồng, tiền thưởng
thì phải giới thiệu được người mới tham gia.
− Người tham gia có thể được nhận tiền thưởng từ việc giới thiệu người mới
tham gia với điều kiện không phải trả bất kì một khoản phí nào cho doanh nghiệp để
có quyền đó.
− Cho phép người nước ngoài tham gia hoạt động kinh doanh đa cấp tại Pháp..
− Doanh nghiệp không được buộc người tham gia phải nộp bất kì một khoản
tiền nào dưới danh nghĩa“tiền đầu tư”.
− Thu nhập của người tham gia trong hoạt động kinh doanh đa cấp được xem là
đối tượng của thuế thu nhập đối với hoạt động phi thương mại.


Canada: Phương thức kinh doanh đa cấp theo luật pháp Canada được quy

định tại điều 55 Luật Cạnh tranh, trong đó điều 55.1 chỉ ra những yếu tố của kinh
doanh đa cấp bất chính.
− Luật pháp Canada hạn chế tối đa việc can thiệp sâu vào chính sách trả thưởng
của các doanh nghiệp, trừ khi nó mang một hoặc nhiều yếu tố của kinh doanh đa


số sản phẩm đó phải do ít nhất 10 người tiêu dùng tiêu thụ.
 Nhật:
− Yêu cầu người tham gia phải cung cấp thông tin bằng tài liệu văn bản, nghĩa là
phải có những minh chứng cụ thể cho lời nói của mình.
− Cấm bất kì hành vi nào đe doạ hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
− Doanh nghiệp phải cho người tham gia được quyền chấm dứt hợp đồng bất kì
lúc nào trong quá trình hoạt động.
− Việc trả hoa hồng, trả thưởng cho người tham gia phải thông qua hệ thống
ngân hàng.
Nhìn chung, pháp luật các nước đều tập trung điều chỉnh những vấn đề cơ bản và
quan trọng của kinh doanh đa cấp như tiền đầu tư của người tham gia, việc chi trả
hoa hồng, trả thưởng, yêu cầu sản phẩm phải bán tận tay người tiêu dùng… và có
những quy định tương đối thống nhất nhau. Tuy nhiên, có một số vấn đề đặc biệt
các nước có những quy định khác nhau rõ rệt như yêu cầu phải có nhà máy sản
xuất, yêu cầu người tham gia cung cấp tài liệu bằng văn bản cho người tiêu dùng…
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của kinh doanh đa cấp trong nền kinh tế thị trường
là một tất yếu khách quan. Trên cơ sở đó, kinh doanh đa cấp lại có những tác động
nhất định với nền kinh tế và với xã hội, do đó cần có sự điều chỉnh của pháp luật để
kinh doanh đa cấp phát triển theo hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế cũng như
phù hợp với lợi ích xã hội. Đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay đều ban hành
những văn bản pháp luật có giá trị hiệu lực cao để điều chỉnh kinh doanh đa cấp.

18


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

Trong xu thế hội nhập quốc tế, bằng những kinh nghiệm của các nước, chúng ta
phải xây dựng khung pháp lý cho hoạt động này ở Việt Nam.


19


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

tích cực về mặt kinh tế cũng như về mặt pháp lý. Về mặt kinh tế, các doanh nghiệp
kinh doanh đa cấp ở Việt Nam có được nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức, quản
lý hoạt động của mình, trong việc xây dựng chính sách trả thưởng… Về mặt pháp
lý, chúng ta có được những kinh nghiệm quý giá trong việc ban hành văn bản pháp
luật điều chỉnh cũng như trong việc quản lý thực tiễn kinh doanh đa cấp. Như đã đề
cập ở phần 1.1.1 về cơ sở ra đời của kinh doanh đa cấp, kinh doanh đa cấp trên thế
giới trải qua ba giai đoạn gồm giai đoạn hình thành, giai đoạn đấu tranh và tồn tại,
giai đoạn ổn định và phát triển. Tuy nhiên, ở Việt Nam, kinh doanh đa cấp chỉ trải
qua hai giai đoạn, đó là giai đoạn hình thành và giai đoạn ổn định, phát triển, bỏ qua
giai đoạn đấu tranh và tồn tại vì giai đoạn này kết hợp ở giai đoạn hình thành. Nói
cách khác, giai đoạn hiện nay là giai đoạn kinh doanh đa cấp hình thành ở Việt
Nam, song song với đó là việc đấu tranh để được công nhận về mặt pháp lý, cũng
như về mặt dư luận xã hội. Sau khi pháp luật về kinh doanh đa cấp được ban hành,
kinh doanh đa cấp ở Việt Nam sẽ đi vào ổn định và từng bước phát triển cùng với
sự hoàn thiện về mặt pháp lý.
3.1.2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp trên thị
trường Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 30 doanh nghiệp kinh doanh đa cấp đang hoạt
động.(7)
1. Vision (Nga): phân phối sản phẩm thức ăn dinh dưỡng bổ sung.
2. Lô Hội (thuộc tập đoàn Living Forever Product): phân phối sản phẩm dinh
dưỡng bổ sung từ cây nha đam, mỹ phẩm. Số lượng người tham gia hiện nay
khoảng trên 65000 người.
3. Oriflame (Thụy Điển): phân phối mỹ phẩm. Số lượng người tham gia hiện

16. Vimex (Hàn Quốc): phân phối sản phẩm thực phẩm dinh dưỡng, mỹ phẩm.
17. HPS (Việt Nam): phân phối thẻ từ y tế.
18. FPT (Việt Nam): phân phối thẻ học Anh văn trực tuyến qua mạng Internet.
19. SITC (Úc): tư vấn học Anh văn.
20. Việt Am (Việt Nam): phân phối sản phẩm máy Ion.
21. Gold Quest (Hồng Kông): phân phối bộ sưu tập đồng tiền vàng, dịch vụ du
lịch.
22. DeBon (Hàn Quốc): phân phối mỹ phẩm của Hàn Quốc.
23. VIC (Hàn Quốc): phân phối sản phẩm dinh dưỡng của Hàn Quốc.
24. Sáng Thế Kỉ Mới (Trung Quốc): phân phối sản phẩm máy lọc nước từ tính.
25. Tân Thành Phát
26. Thiên Sư (Trung Quốc): phân phối sản phẩm bổ sung canxi. Số lượng người
tham gia hiện nay khoảng trên 20000 người.
27. Noni (Hoa Kì): phân phối sản phẩm thức uống dinh dưỡng bổ sung chiết xuất
từ trái nhàu. Số lượng người tham gia hiện nay khoảng trên 2000 người…

21


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

Hiện nay trên thị trường Việt Nam có nhiều loại sản phẩm khác nhau được phân
phối thông qua kinh doanh đa cấp, chủ yếu là các sản phẩm dinh dưỡng bổ sung,
bao gồm:
 mỹ phẩm (Avon, Oriflame, Lô Hội, Iconic, Naris, Viva Life, Vimex,
DeBon…)
 sản phẩm dinh dưỡng bổ sung (Noni, Lô Hội, Herbalife, Lý Khoa, Âu Việt
Á, VIC, Vision, Viva Life, Vimex, Thiên Sư…)
 máy xử lý Ozon (Tân Hy Vọng, Sinh Lợi…)
 máy lọc nước từ tính (Sáng Thế Kỉ Mới…)

phiền… nếu có người thường xuyên đến gặp gỡ, giới thiệu sản phẩm để sử dụng,
động viên, chia sẻ… Sau khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đa cấp, họ vẫn tiếp
tục sử dụng sản phẩm và cảm thấy tình trạng của mình tốt hơn, có thể do sản phẩm
tốt nhưng cũng có thể do bản thân họ bận rộn với công việc, không có thời gian để
nghĩ đến nỗi buồn của mình nữa.
Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp trên
thị trường Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy có các chính sách trả thưởng chủ yếu
sau đây:
Chính sách trả thưởng bao gồm sơ đồ trả thưởng và những quy định liên quan
của doanh nghiệp dành cho người tham gia. Ví dụ: quy định về chế tài cho việc
người tham gia không hoàn thành chỉ tiêu năng động. Sơ đồ trả thưởng là một bộ
phận của chính sách trả thưởng, là phương pháp mà nhờ đó doanh nghiệp kinh
doanh đa cấp tính toán các khoản hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác
cho người tham gia.
Chính sách trả thưởng gần như xác định trước lượng tiền mà người tham gia có
thể kiếm được và lượng thời gian mà người tham gia phải dành cho công việc này.
Tuy nhiên, chính sách trả thưởng là lĩnh vực rất đa dạng và phức tạp, rất khó xác
định chính sách nào là hợp lý hơn vì bản thân mỗi doanh nghiệp cũng rất tinh vi
trong việc xây dựng cho mình một chính sách trả thưởng sao cho bản thân mình có
lợi nhất mà vẫn đảm bảo chi trả cho người tham gia. Các doanh nghiệp thường kết
hợp nhiều dạng sơ đồ trả thưởng khác nhau mà ngay cả người tham gia có nhiều
kinh nghiệm cũng rất khó nhận biết được. Có nhiều phương pháp để làm cho các
chính sách trả thưởng hết sức hấp dẫn trên giấy tờ nhưng thực tế các khoản chi trả
của nó không hề nhiều hơn mà thậm chí còn thấp hơn nhiều so với các chính sách
trả thưởng khác.
Hiện nay có 4 loại sơ đồ trả thưởng chủ yếu, bao gồm: sơ đồ bậc thang (sơ đồ
thoát ly), sơ đồ ma trận, sơ đồ một cấp và sơ đồ nhị phân (8). Tuy nhiên, thông
thường các doanh nghiệp sẽ không chỉ sử dụng một loại sơ đồ mà có thể kết hợp
(8)


thoát ly
sự thoát ly
sự thoát ly
sự thoát ly
Trên đây chỉ là 4 loại sơ đồ kinh doanh chủ yếu trong chính sách trả thưởng của
các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp ở Việt Nam hiện nay. Trong thực tế, để dễ
thuyết phục người tham gia, các doanh nghiệp thường quy định chính sách trả
thưởng đơn giản, dễ hiểu, tạo tâm lý yên tâm cho người tham gia. Tuy nhiên, ưu
điểm của chính sách trả thưởng phức tạp, kết hợp nhiều loại sơ đồ, chia ra nhiều
loại thu nhập là khiến cho người tham gia có cảm giác sẽ nhận được nhiều loại thu
nhập hơn. Nếu sơ đồ có dạng hẹp sâu thì có nghĩa là người tham gia có thể có mức
thu nhập rất cao nếu kiên trì làm việc trong một khoảng thời gian dài, phải thật sự
năng động. Ngược lại, nếu sơ đồ trả thưởng có dạng rộng nông thì người tham gia
làm việc dễ dàng, thuận lợi hơn, có thu nhập ngay trong những tháng đầu nhưng về
lâu dài, cơ hội có thu nhập vượt bậc là không thể.
Ở Việt Nam, chính sách trả thưởng của các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp hiện
nay chưa thể xác định là có vi phạm pháp luật hay không khi mà chưa có văn bản
quy định cụ thể điều chỉnh. Tuy nhiên, nếu theo như những quy định chung của các
nước trên thế giới thì chính sách trả thưởng của một số doanh nghiệp hiện nay là lừa
đảo, vi phạm pháp luật mà bản thân người tham gia không thể biết được nếu không
có những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết. Do đó, việc quy định cụ thể về chính
sách trả thưởng là không thể thiếu trong pháp luật Việt Nam.

24


Đề tài: Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp ở Việt Nam

3.1.3 Những tiêu cực xảy ra từ kinh doanh đa cấp ở Việt Nam
Kinh doanh đa cấp bên cạnh những mặt tích cực đối với nền kinh tế, đối với xã

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status