LỜI CẢM ƠN.
Tôi xin dành sự kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.Phan Thị
Hồng Vinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành
đề tài nghiên cứu của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể cán bộ, giảng viên tổ bộ môn
Tâm lý Giáo dục cùng toàn thể sinh viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Nam
Định đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài
nghiên cứu của mình.
Tôi xin tri ân sự khích lệ và ủng hộ nhiệt tình của gia đình, người thân
và bạn bè trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Linh
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2
GV
: Giảng viên
SV
: Sinh viên
PCHT
Lý do chọn đề tài:
Giáo dục học là một trong những môn học bắt buộc trong chương trình
đào tạo của các trường sư phạm. Đây là môn học nền tảng hình thành kỹ
năng, thái độ đúng đắn, tình yêu với nghề nghiệp cho sinh viên. Để chiếm lĩnh
được những tri thức, kỹ năng của môn học này đòi hỏi phải có phương pháp
dạy và học phù hợp.
Phương pháp dạy học đóng vài trò quan trọng và quyết định với hiệu
quả của việc dạy học. Lựa chọn được phương pháp dạy học hợp lý giúp các
em tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách khoa học, đầy đủ, dễ dàng, khơi
gợi được hứng thú, niềm say mê tìm hiểu tri thức. Ngược lại, việc dạy học sai
phương pháp làm cho việc học của sinh viên trở nên thụ động, dẫn đến lối học
đối phó.
Mỗi sinh viên là một cá thể, một phong cách học tập khác nhau. Việc
nắm bắt được phong cách học tập của sinh viên giúp giảng viên lựa chọn
được những phương pháp dạy học giáo dục học phù hợp, phát huy tính tích
cực của học sinh, nâng cao hứng thú với giờ học giáo dục học, nâng cao chất
lượng của môn giáo dục học tại các trường sư phạm. Đối với sinh viên, biết
được ưu thế trong phong cách học tập của mình, sinh viên sẽ có phương pháp
học phù hợp nhất với mình, điều này giúp cho người học nâng cao hiệu quả
học tập của bản thân.
Thực tế hiện nay, giảng viên đã có các cách tiếp cận, tìm hiểu, lựa chọn
phương pháp dạy học môn giáo môn giáo dục học cho sinh viên của mình, tuy
nhiên hiệu quả mang lại chưa cao. Mặt khác, sinh viên năm nhất, năm hai
chưa thích ứng ngay được với cách thức học tập ở đại học, điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng của các em.
6
Với mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học bộ
môn Giáo dục học trong các trường sư phạm mà tôi quyết định nghiên cứu đề
và học môn giáo dục học.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về: phương pháp giảng dạy, phương pháp giảng dạy
giáo dục học, phong cách học tập, phương pháp giảng dạy phù hợp với phong
5.2.
cách học tập.
Nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của phong cách học tập cá nhân đến việc
lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học của giảng vên cũng như cách học
7
tập môn Giáo dục học của sinh viên năm thứ..; nguyên nhân cơ bản của thực
5.3.
trạng đó.
Nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm một số phương pháp giảng dạy phù hợp
với phong cách của sinh viên.
6.
Giới hạn đề tài
- Giới hạn đối tượng:
Nghiên cứu thực trạng lựa chọn PPDH phù hợp phong cách học tập của
sinh viên trong môn Giáo dục học trên 206 sinh viên năm thứ nhất và 2 giảng
viên trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định Trong đó:
+ Khoa học tiểu học – mầm non: Tiểu học A, Tiểu học B, Tiểu học C
+ Khoa học xã hội:Văn – sử.
+ Khoa học tự nhiên: Toán – lý
8.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
8.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát
hóa để xử lý các nguồn tài liệu lý luận, các văn bản và các công trình nghiên
cứu khoa học về phong cách học tập của người học.
8.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: phỏng vấn và anket.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trắc nghiệm: Test của Honey và Mumford
-Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Giáo án, kết quả học tập, bài kiểm tra.
8.2.3. Nhóm phương pháp đo đạc, xử lý số liệu
- Sử dụng toán thống kê
-Phần mềm SPSS
9.
Dàn ý nội dung chương trình
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có 3 chương với các nội dung
nghiên cứu cụ thể sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phương pháp dạy học phù hợp với phong
cách học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm.
9
Chương 2: Thực trạng về lựa cọn và sử dụng phương pháp dạy học phù
hợp phong cách học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng Sư phạm
Nam Định trong môn Giáo dục học.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp nâng cao việc lựa chọn và sử dụng
phương pháp dạy học phù hợp với phong cách học tập của sinh viên trường
Cao đẳng Sư phạm Nam Định
Các nghiên cứu về phong cách học tập tập trung một số vấn đề chính
như sau:
*Xác định bản chất, đặc điểm của phong cách học tập.
Các tác giả Ellis (1985); Ken Dunn và Rita Dunn (1979); Davdson
(1990); Felder và Silerman (1998) mặc dù có các quan niệm khác nhau về
11
PCHT, xong đều khẳng định bản chất của PCHT là những đặc trung riêng
tương đối ổn định của cá nhân trong quá trình tiếp nhận xử lý và phân tích
thông tin trong các tình huống học tập.
Các nghiên cứu cũng xác định những đặc điểm đáng chú ý của PCHT:
-
Các PCHT tồn tại đồng thời ở mỗi người học.
Không có PCHT nào là tuyệt đối tối ưu.
Các PCHT có quan hệ với nhau.
PCHT liên quan mật thiết với sinh lý thần kinh cá nhân.
PCHT có tính ổn định.
PCHT có sự khác biệt về giới tính (Pizzo, Ken Dunn & Rita Dunn, 1990;
Gred, 1999), về độ tuổi, về văn hóa (Reid 1987) và về thành tích học tập
(Milgram, Dunn và Price, 1993).
*Phân loại phong cách học tập:
Mỗi tác giả có một quan niệm về PCHT khác nhau, cho nên có rất nhiều
cách phân loại PCHT. Ngoài một số cách phân loại PCHT cuat trung tâm nghiên
cứu học tập và kỹ năng tại Anh, còn một số cách phân loại khác như:
-
Người học có thể thích cách học theo thị giác, thính giác, chuyển động hay sử
Theo John Dewey, 1985 phương pháp dạy học cho người lớn được thực
hiện thông qua các tình huống mà không phải là các chủ thể. Trong giáo dục
truyền thống, người học được yêu cầu học theo chương trình được xây dựng
dựa trên cơ sở nhu cầu và những quan tâm của người học.
Knowles (1950) cho rằng người lớn học tốt nhất khi được thoải mái,
không chính thức, mềm dẻo, không đe dọa.
Những quan sát của Mellard, Scanlon, và Kisam về giáo dục cơ bản
cho người lớn trong các lớp học lấy người học làm trung tâm (năm 2004) cho
thấy rằng những sinh viên thường làm việc một mình hoặc với máy tính trong
suốt hơn 1/3 thời gian trên lớp. Khảo sát của Smith và Hofer (2003) về
chương trình giáo dục cho người lớn tìm ra rằng những học viên lớn tuổi cũng
dành một lượng thời gian tương tự như thế để làm việc một mình hoặc với
máy tính trong suốt hơn 1/3 thời gian ở trên lơp. Khảo sát của Smith và Hofer
(2003), chương trình giáo dục cho người lớn tìm ra rằng những sinh viên dành
một lượng thời gian tương tự như thế để làm việc một mình. Hai nghiên cứu
ày có vẻ như đã làm sáng tỏ được lý thuyết vè việc học tập (tự học) của người
lớn nói chung và sinh viên nói riêng.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu về phong cách học tập
13
Theo sự tìm hiểu trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng các
nghiên cứu PCHT ở nước ta chưa nhiều. Mới chỉ xuất hiện ở một số tài liệu tâm lý
học nhưng được đề cập đến với những tên gọi khác nhau như các lý thuyết về trí
tuệ, các loại trí nhớ mà chưa đề cập một cách chính thức và hệ thống. Đa phần tài
liệu về PCHT được biên soạn trong các sách tham khảo, sách dịch từ luận văn, luận
án, tạp chí, sách báo nước ngoài. Tuy mỗi tài liệu tiếp cận theo mỗi hướng khác
nhau nhưng tựu chung đều nhằm phân loại đặc điểm riêng của người học nhằm
phục vụ cho việc điều chỉnh công tác giảng dạy trong nhà trường.
Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang có công trình Khảo sát mối
quan hệ giữa quan niệm và thói quen học tập ở đại học với kết quả học tập của
sinh viên trường đại học khoa học tự nhiên, đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát chứ chưa chuyên sâu về
PCHT và có những biện pháp đưa ra thỏa đáng cho vấn đề này, mới chỉ dừng lại
ở những vấn đề cơ bản cụ thể là: a)Xác định những khó khăn và thuận lợi trong
học tập của học viên người lớn; b)Xác định các điều kiện để người lớn học tập
một cách tốt nhất; c)Xác định các nguyên tắc giúp người lớn học có hiệu quả
Năm 2013, tác giả Hoàng Tiến Dũng có nghiên cứu công trình “Dạy
học dựa vào phong cách học tập của học viên người lớn tại trung tâm Giáo
dục Thường xuyên”. Ở công trình này tác giả đã bước đầu nghiên cứu chuyên
sâu và hệ thống về dạy học theo PCHT của người lớn.
Ta thấy, đã có những công trình nghiên cứu dạy học dựa vào PCHT nhưng
những công trình đó đề cập đến một đối tượng khác (học viên người lớn – những
người đã đi làm), ở những môn học khác, tuy nhiên chưa có ai nghiên cứu một
cách chuyên biệt, sâu sắc, độc lập về lựa chọn PPDH phù hợp với PCHT trên đối
tượng là sinh viên cao đẳng và trong môn học Giáo dục học
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học
15
Theo định nghĩa rộng nhất thì phương pháp là cách đạt tới mục đích,
tức là tổng hợp nhiều thủ thuật và thao tác dùng để đạt đến mục đích.
Có nhiều quan điểm về phương pháp dạy học, có quan điểm nhấn mạnh
hành động của giáo viên (hoạt động giảng dạy), có quan điểm nhấn mạnh hoạt
động nhận thức. Dưới đây, tôi xin đưa ra một số quan điểm về phương pháp
dạy học của các tác giả khác nhau:
Định nghĩa PPDH của Danhilop BR. Exipop và Bách khoa toàn thư Sư
thống kỹ năng, kỹ xảo, thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo mục
tiêu của quá trình dạy học [19, tr 179].
Như vậy, dưới quan điểm hoạt động và coi dạy học là một quá trình ta
có thể hiểu PPDH là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên
và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của
giáo viên nhằm thực hiện tối ưu các mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.
PPDH biểu hiện sự tác động tương hỗ giữa hai hoạt động dạy và hoạt
động học. Nó là sự kết hợp hữu cơ, biện chứng giữa phương pháp dạy và
phương pháp học của thầy và trò. Phương pháp dạy là phương pháp và giáo
viên trình bày tri thức, kích thích, xây dựng động cơ, tổ chức và kiểm tra hoạt
động nhận thức va thực tiễn của người học nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy
học. Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức kiểm tra hoạt động
nhận thức và thực tiễn của người học nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học.
Trong mối quan hệ này phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo còn phương
pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp
dạy. Song, nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy.
Đặc điểm của PPDH:
PPDH luôn được đặt trong mối quan hệ với các thành tố khác của quá
trình dạy học, trước hết đó là mối quan hệ: Mục tiêu – Nội dung – Phương
17
pháp; hoặc mối quan hệ Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp – Phương tiện –
Những điều kiện khác.
PPDH chịu sự chi phối của mục đích dạy học và nội dung dạy học;
Mục đích và nội dung dạy học quy định PPDH, Mục đích nào – phương pháp
ấy, không có phương pháp nào là vạn năng chung cho tất cả mọi hoạt động,
muốn hoạt động thành công phải xác định được mục đích, tìm phương pháp
phù hợp, nội dung nào – phương pháp ấy tức là không có phương pháp nào
ứng với mọi nội dung.
tâm lý, quy luật dạy học chi phối hoạt động nhận thức của người học mà GD
phải ý thức được. Mặt chủ quan là những thao tác, những hành động mà GV
lựa chọn phù hợp với quy luật chi phối đối tượng.
Những đặc trưng cơ bản đó chính là:
-
Mang tính chất nghiên cứu về nghiệp vụ sư phạm đòi hỏi khả năng độc lập và
sáng tạo của giảng viên và sinh viên.
- Có đặc trưng cấu trúc:
• PPDH là tổng hợp phương pháp dạy để hướng dẫn phương pháp tự học và
nghiên cứu khoa học Giáo dục của giáo sinh.
=
+
+
+
Trong đó:
= PP dạy của giảng viên
= PP tiếp thu ban đầu của giáo sinh
= PP tự học của giáo sinh
= PP tự nghiên cứu của giáo sinh
trực tiếp chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh , , .
• PPDH Giáo dục học là hợp kim của phương pháp khoa học và phương pháp
sư phạm, nó phù hợp với logic khoa học Giáo dục và tâm lý học của sự lĩnh
hội của các giáo sinh.
=
thù của một người hay một nhóm người được thể hiện trong hoạt động cơ bản
của họ”.
20
Trong các định nghĩa trên đây về phong cách tuy diễn đạt có chỗ khác
nhau, vì mỗi định nghĩa đều có mục đích riêng, nhưng nhìn chung đều thống
nhất và xem phong cách là:
- Hệ thống những phong cách, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng, hành
động tương đối ổn định, bền vững của cá nhân; nghĩa là con người hoạt động
ứng xử … tương đối như nhau trong những tình huống khác nhau.
- Hệ thống những phong cách, thủ thuật…quy định những đặc điểm
khác biệt giữa các cá nhân.
- Hệ thống những phương tiện hiệu quả, giúp cá nhân thích nghi với
những thay đổi môi trường (nhất là môi trường xã hội), sự linh hoạt, cơ động,
mềm dẻo của các phong cách, thủ thuật ứng xử của cá nhân.
Từ những phân tích trên có thể đi đến quan niệm : Phong cách là những
đặc điểm tâm lý ưu thế, tương đối bền vững của cá nhân quy định cách thích
nghi khác biệt giữa các cá nhân với những thay đổi của môi trường trong hoạt
động của cá nhân.
b, Khái niệm phong các học tập (PCHT)
Phong cách học tập được dịch từ thuật ngữ “learning style” trong tiếng
anh. Cũng như khái niệm phong cách, quan niệm về phong cách học tập cũng
có nhiều ý kiến khác nhau. Riêng nhóm phong cách học tập giác quan
(perceptual Learning Style), PCHT đã có nhiều định nghĩa như sau:
- Rita Dunn (1960) định nghĩa PCHT như là cách thức mỗi người bắt
đầu chú ý, xử lý, thu nhận và tái hiện nội dung kiến thức mới.
-Keefe(1979) cho rằng: “PCHT là những đặc điểm nhận thức, xúc cảm,
sinh lý tương đối ổn định cho thấy người học tiếp nhận, tương tác và phản
- Đặc điểm 1: PCHT là những đặc điểm riêng của cá nhân. Thật vậy,
mỗi cá nhân có một PCHT khác biệt theo giới tính, độ tuổi văn hóa và thành
tích học tập:
22
+Về giới tính: Ken Dunn & Rita Dunn (1990), Gred (1999) tìm thấy
nam có xu hướng thiên về vận động, xúc giác và nhìn, trong khi nữ lại chiếm
ưu thế ở PCHT nghe. Vì thế, nữ thường thích môi trường yên tĩnh và nam
không thể ngồi yên trong một thời gian dài.
+Về độ tuổi: Người học nhỏ tuổi (mẫu giáo, tiểu học) thiên về PCHT
xúc giác và vân động, 12% học sinh tiểu học thiên về nghe, rất ít trẻ có thể ghi
nhớ bài học khi phải nghe quá hiều thông tin trong một khoảng thời gian dài.
PCHT nghe và nhìn phát triển mạnh hơn khi trẻ lớn lên và PCHT xúc giác và
vận động vẫn tồn tại.
+Về văn hóa: Nhiều kết quả nghiên cứu PCHT của sinh viên các lớp
ESL tại Mỹ và Canada cho thấy rằng có sự khác biệt giữa PCHT của sinh
viên đến từ các nước không nói tiếng anh như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
bản, Tây Ban Nha, Ả Rập …so với sinh viên bản xứ (Reid 1987)
+Về thành tích học tập: Có sự khác biệt về PCHT giữa những học sinh
đạt thành tích cao trong học tập với những học sinh có kết quả học tập kém
hơn (Milgram, Dunn và Price, 1993)
- Đặc điểm 2: PCHT đều có cơ sở sinh lý thần kinh. Mỗi loại PCHT
nghe, nhìn, vân động, xúc giác có mối liên quan chặt chẽ đến chức năng tâm lý
chuyên biệt tương ứng của từng thùy (vùng) trên vỏ não. Thùy chẩm điều khiển
thị giác, thùy thái dương điều khiển thính giác, thùy đỉnh đảm nhiệm khả năng
vận động, vùng trung gian giữa thùy thái dương và thùy đỉnh gọi là vùng định
hướng không gian và thời gian,… Mỗi vùng có một chức năng tâm lý nhất định
phục vụ cho các quá trình tâm lý khác nhau như: nhận thức, xúc cảm…
- Đặc điểm 3: PCHT chỉ ra cách thức ưu thế của cá nhân tiếp nhận,
điểm tâm lý ưu thế, tương đối bền vững của cá nhân quy định cách tiếp nhận,
xử lý và lưu trữ thông tin trong các tình huống học tập của người học nhằm
thực hiện tối ưu mục tiêu và nhiệm vụ dạy học GDH đã đề ra.
1.3. Lựa chọn mô hình PCHT
1.3.1. Căn cứ lựa chọn mô hình PCHT.
a. Hệ thống mô hình phong cách học tập.
Thuật ngữ mô hình PCHT (Learning Styles model) được nhắc đến rất
nhiều trong các nghiên cứu trên thế giới, ví dụ: mô hình PCHT của Kolb, mô
hình PCHT của Witkin, mô hình PCHT của Dunn và Dunn,...
24
Mỗi tác giả đã xây dựng nên một hệ thống quan điểm riêng về PCHT dựa
trên một nền tảng lý thuyết khác nhau, cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ: mô hình
PCHT của Dunn và Dunn dựa trên quan điểm PCHT phụ thuộc vào các yếu tố
gen và di truyền, các giác quan; mô hình PCHT của Witkin dựa trên quan điểm
PCHT có liên quan đến cấu trúc nhận thức; mô hình PCHT của Kolb lại dựa trên
lý thuyết học tập trải nghiệm, và quan điểm PCHT là các ưu thế linh hoạt trong
học tập. Như vậy có thể hiểu mô hình PCHT là hệ thống các quan điểm về lý
thuyết PCHT của một tác giả nhất định, trong đó bao gồm các luận điểm về lý
thuyết PCHT theo cách tiếp cận của tác giả đó, cách phân chia các loại PCHT và
bộ công cụ điều tra PCHT do tác giả đó xây dựng. Mỗi một mô hình PCHT là
những quan điểm của mỗi tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Mô hình PCHT của
tác giả này có thể hoàn toàn khác nhau về quan điểm lý thuyết, cách phân loại
PCHT nhưng trong một số trường hợp có sự kế thừa, phát triển của một mô hình
đã có. Mô hình PCHT của Kolb (1982) đã được Honey-Mumford tiếp tục nghiên
cứu và phát triển để áp dụng cho đối tượng các nhà quản lý.
Theo nghiên cứu của Coffield, hiện nay có 71 mô hình PCHT đã được
xây dựng và công bố, các nghiên cứu này tập trung theo 5 nhóm vấn đề