Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường mầm non - Pdf 34

BÁO CÁO KẾT QUẢ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non
Môn/nhóm môn: Giáo dục mẫu giáo
Tổ bộ môn: Tổ 5 tuổi
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIỆN PHÁPGIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6
TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON"
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Học để cùng chung sống là một trong những vấn đề then chốt của giáo dục thế giới
.Chính vì vậy mà vào đầu thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc như WHO (Tổ chức y
tế thế giới), UNICEF ( Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hiệp quốc), UNESCO ( Tổ chức giáo
dục , khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ em. “ Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên đang phải đối
mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất”.
Ở Việt nam, từ năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã phát động phong trào thi
đua “ Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực”, với yêu cầu tăng cường sự
tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường
và tại cộng đồng với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Trong các mục tiêu của
chương trình giáo dục mầm non (ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT- BGD&ĐT
ngày 25 tháng 7 năm 2009) có mục tiêu giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội.


Để thực hiện mục tiêu trên, nội dung quan trọng cần đưa vào giáo dục trẻ là dạy một số
kỹ năng sống cho trẻ mầm non.
Về phía các bậc cha mẹ trẻ: cha mẹ trẻ em luôn quan tâm đến việc làm sao để kích thích
tính tích cực học tập của trẻ. Cha mẹ nào cũng muốn con mình được tham gia và trải
nghiệm vào các hoạt động vui chơi hay học tập tích cực để từ đó trẻ lĩnh hội được các
kinh nghiệm sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và sẵn sàng ứng phó với các tình huống trong

phải làm gì và làm như thế nào ( hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc
sống hàng ngày. Từ đó phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
mầm non Đại Tự.
Nghiên cứu thực tiễn để đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
4. Đối tượng nghiên cứu :
Trẻ mẫu giáo5-6 tuổi và các hoạt động giáo dục giúp trẻ có kỹ năng sống tích cực ở
trường Mầm non Đại Tự -Yên Lạc-Vĩnh Phúc.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5. 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận .


Phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến thực tiễn và công tác giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mầm non.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
* Phương pháp điều tra: Điều tra về mức độ trẻ đạt được các nhóm KNS
Tìm hiểu các biện pháp dạy KNS cho trẻ đạt kết quả cao nhất.
*Phương pháp quan sát : Quan sát các biểu hiện , hành vi, các kỹ năng của trẻ thông qua
ngôn ngữ và hoạt động hàng ngày.
* Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với các đồng nghiệp để trao đổi các kinh nghiệm
hay trong dạy KNS cho trẻ. Đàm thoại với phụ huynh để tìm hiểu đặc điểm của trẻ khi ở
gia đình. Đàm thoại trực tiếp với trẻ trong quá trình thực hiện các biện pháp giáo dục.
* Phương pháp trực quan: Bao gồm phương pháp làm mẫu, làm gương… giúp trẻ quan
sát và bắt chước thực hành thường xuyên những kỹ năng sống cần hình thành.
* Phương pháp thực hành:Bao gồm các phương pháp trò chơi, giao việc, trải nghiệm.
Những phương pháp này giúp trẻ bắt chước/ tập thử và tích cực thực hành thường xuyên
các kỹ năng sống GV cần dạy trẻ.
* Phương pháp toán học :Xử lý những số liệu khảo sát, đã đạt được kết quả, mức độ đạt

- Giúp trẻ được an toàn , khỏe mạnh, khéo léo bền bỉ, có khả năng thích ứng với thay đổi
của điều kiện sống.
- Giúp trẻ biết kiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu thương, đồng cảm với mọi người
xung quanh.


- Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, tôn trọng người khác, có khả năng
giao tiếp tốt với mọi người.
- Giúp trẻ ham hiểu biết, sáng tạo, có những kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập ở
lớp một như : sẵn sàng hòa nhập, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ…
1.3.Những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Các nhóm kỹ năng có thể dạy cho trẻ mầm non như : Kỹ năng nhận thức về bản thân, kỹ
năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội,kỹ năng học tập, kỹ năng
tương tác…Từ đó, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra các nội dung đơn giản và
hết sức gần gũi với trẻ như: dạy trẻ có kỹ năng hợp tác với mọi người, kỹ năng nhận và
hoàn thành nhiệm vụ , kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng kiểm soát cảm xúc…các kỹ năng này
không tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau, được thể hiện đan xen vào nhau,
có thể thực hành trong bất cứ tình huống nào xảy ra hàng ngày. Cho nên việc giáo dục và
vận dụng tốt sẽ giúp trẻ có nhân cách tốt. Khi giáo dục kỹ năng sống còn góp phần mở
rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn
ngữ... cho trẻ.
Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non đã triển khai được một số năm học, tuy
nhiên kết quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa đồng đều giữa các trẻ. Nếu giáo viên thực
hiện chuyên sâu và có phương pháp giáo dục phù hợp thì kết quả trên trẻ sẽ có bước tiến
bộ nhanh chóng.
2. Thực trạng dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo5-6 tuổi ở trường mầm non Đại Tự
trong những học vừa qua.
Trường Mầm non Đại Tự là trường đạt chuẩn quốc gia, các phòng học đều mới xây dựng
nên sạch đẹp và kiên cố. Ban giám hiệu nhà trường tích cực bồi dưỡng cho GV về chuyên


tích cực nghiên cứu tài liệu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non.
Tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi có các chỉ số, hướng dẫn cách
đánh giá trẻ rõ ràng và cụ thể nên việc dạy trẻ các kỹ năng và đánh giá kết quả trên trẻ rất
thuận lợi, chính xác, từ đó biết trẻ nào đạt được và chưa đạt được để tiếp tục rèn trẻ vào
các chủ đề tiếp theo.
2.2. Khó khăn
Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều, do đó cùng một thời gian và biện pháp dạy
trẻ các nội dung KNS nhưng kết quả trên trẻ đạt chưa tương đương với nhau.
Một số trẻ nhút nhát nên không tự tin khi tham gia vào các hoạt động ,một số trẻ lại quá
hiếu động nên khi hoạt động chưa chú ý vào sự hướng dẫn của cô, kỹ năng sống của trẻ
còn nhiều hạn chế.
Sự quan tâm của gia đình dành cho các cháu là không đồng đều, 100% phụ huynh là
nông thôn . Một số phụ huynh đi làm ăn xa để các cháu ở nhà với các anh chị hoặc ông
bà đã già, thời gian phụ huynh quan tâm đến trẻ còn ít, không dành thời gian trò chuyện
để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của trẻ để giáo dục trẻ mà chỉ biết chiều theo mọi đòi hỏi
của trẻ, trẻ được đáp ứng quá đầy đủ về nhu cầu trẻ cần. Ví dụ: trẻ chỉ cần đòi mua đồ
dùng nào đó là được đáp ứng ngay mà không biết điều đó có phù hợp với hoàn cảnh kinh
tế của bố mẹ hay không, khi được món đồ chơi đó trẻ cũng không biết cảm ơn bố
mẹ….Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho trẻ thiếu KNS.


Mặc dù nhà trường đã hỗ trợ và đầu tư, tuy nhiên kinh phí trong việc tổ chức một số các
hoạt động ngoại khoá vào các ngày lễ, ngày tết nhằm dạy KNS cho trẻ còn hạn chế và
chưa thường xuyên.
2.3. Kết quả khảo sát ban đầu
Trẻ có KNS không đồng đều. Một số trẻ ngoan ngoãn và nhanh trí thì có nhiều kỹ năng
cơ bản tốt, với sự hướng dẫn, động viên của cô giáo trẻ luôn biết phát huy những kỹ năng
tốt đó. Ngược lại , một số trẻ nhận thức còn chậm lại hay nghịch ngợm nên kết quả dạy
KNS của cô trên trẻ đó đạt kết quả thấp.
Giáo viên đã tích cực thực hiện lồng ghép nội dung dạy KNS cho trẻ vào các hoạt động

17 = 56.6 %

13= 43.3%

- Nhóm kỹ năng học tập

16 = 53.3%

14 = 46.7

- Nhóm kỹ năng hợp tác

21 = 70%

9 = 30%

hội

Mặc dù thực trạng giáo dục KNS cho trẻ ở trường còn nhiều khó khăn, tuy nhiên tôi đã
dần khắc phục, nghiên cứu các giải pháp và thực hiện giáo dục KNS cho trẻ theo mục
tiêu của chương trình giáo dục đã đề ra, chuẩn bị tốt cho trẻ trước khi bước vào lớp một ở
trường phổ thông.
3. Các giải pháp, kinh nghiệm giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi ở trường
mầm non Đại Tự.
3.1. Nâng cao nhận thức về việc dạy trẻ kỹ năng sống cho giáo viên mầm non.
Trong những năm học trước, giáo viên chủ nhiệm các lớp thường tự tìm hiểu các kiến
thức, phương pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ một cách riêng lẻ nên có một số giáo viên
chưa tích cực tự bồi dưỡng do đó hiểu chưa sâu về sự cần thiết phải dạy kỹ năng sống cho
trẻ, chưa biết cần phải có phương pháp nào để kết quả dạy là tốt nhất.
Do đó, đầu năm học tôi đề nghị với Ban giám hiệu nhà trường mua bổ xung 1 số tài liệu

3.3.1. Hình thành kỹ năng tự tin:


- Theo Dale - một nhà văn, nhà thuyết trình nổi tiếng của Mỹ thì “Nếu bạn thật sự tin
tưởng chính mình, nhất định sẽ đạt được ước mơ, bạn có thể bước trên đường bằng
phẳng mà người khác cũng sẽ cần bạn hơn”. Vì vậy, một trong những kỹ năng đầu tiên
mà tôi cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm
nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người
khác,trẻ tự tin làm theo ý tưởng, tự tin bày tỏ cảm xúc của mình với người khác mà
không e ngại. KNS này giúp trẻ nhanh chóng thực hiện được mong muốn của mình đồng
thời có khả năng hòa nhập với cộng đồng.
- Những biện pháp tôi sử dụng để phát triển sự tự tin ở trẻ là:
+ Luôn tôn trọng, giúp trẻ xây dựng hình tượng tốt của chính mình: Từ đặc điểm sự tự tin
của trẻ bắt nguồn từ lòng tự tôn, một trẻ không có sự tự tôn thì không thể có sự tự tin. Do
đó , tôi luôn tôn trọng trẻ, cổ vũ và khích lệ những khả năng của trẻ mọi lúc mọi nơi một
cách kịp thời.
Ví dụ: khi trẻ xung phong lên hát trước cả lớp, tôi sẽ khen ngợi là trẻ rất giỏi, rất mạnh
dạn…để lần sau trẻ muốn và không e ngại khi biểu diễn trước đám đông…..
+Nói cho trẻ biết “con có thể làm được”: Tôi dùng lời động viên trẻ một cách chân
thành, không quá lời khen, nghĩ một đường nói một nẻo. Và trong mọi việc tôi luôn nói “
con có thể làm được” để dần củng cố niềm tin vào bản thân cho trẻ.
Ví dụ:Trong giờ thể dục, một sốtrẻ sợ độ cao nên không dám trèo lên xuống thang, tôi
không ép buộc trẻ phải thực hiện hoạt động đó ngay lập tức mà sẽ khuyến khích trẻ với
lời động viên “ con có thể trèo được…”để trẻ tự tin thể hiện bản thân mình trước các bạn.


+Bồi dưỡng tài năng đặc biệt cho trẻ : Tài năng đặc biệt cũng có thể làm tăng thêm sự tự
tin cho trẻ. Tôi căn cứ vào sở thích, niềm đam mê của trẻ để bồi đắp sở trường đặc biệt
của trẻ.
Ví dụ: trẻ có khả năng vẽ đẹp tôi sẽ tạo nhiều cơ hội ở lớp để trẻ được thể hiện sở trường

3.3.2. Hình thành kỹ năng hợp tác:
- Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu “ Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Vì vậy việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mầm non là rất cần thiết. Bởi trẻ mầm non
còn nhỏ, có nhiều việc không thể tự làm được nếu không có người khác giúp đỡ. Khi trẻ
được bạn giúp đỡ và khi trẻ giúp đỡ được bạn trẻ sẽ nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ
của mình. Qua đó trẻ có niềm vui, có bạn bên cạnh để chia sẻ công việc, giúp phát triển
kỹ năng và tình cảm xã hội của trẻ.
- Để giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ tôi luôn tạo cơ hội cho trẻ chơi và làm việc theo
nhóm với các trẻ khác trong tất cả các hoạt động.
Ví dụ: Cho trẻ thảo luận theo tổ để cùng nhau nhận xét về đặc điểm của 1 đối tượng nào
đó trong các hoạt động, tạo những cảm nhận giúp trẻ tôn trọng những quyền lợi của trẻ
khác qua việc chia sẻ, hướng dẫn trẻ cư xử lịch sự với bạn khác.


- Tổ chức 1 số hoạt động phát triển kỹ năng hợp tác như:
+ Thảo luận về sự hợp tác: Trò chuyện với trẻ có sử dụng câu hỏi như “Con và bạn đã
cùng nhau làm những việc gì?Trò chơi nào con thích hơn khi có bạn cùng chơi? Tại sao
con phải hợp tác với bạn, một mình con có làm được việc này không? Điều gì con cảm
thấy vui khi hợp tác?....Qua việc trò chuyện giúp trẻ hiểu hợp tác là có nhiều người cùng
thực hiện 1 việc gì đó, cùng vui thích khi làm việc.
+ Trò chơi “ đôi bạn hợp tác”: Cho trẻ tìm thêm 1 bạn để ghép đôi với nhau. Các đôi
ngồi quay mặt vào nhau, nắm lấy tay nhau, cùng ngồi xuống hoặc cùng đứng lên mà
không buông tay nhau ra.
+ Trò chơi “ Những chiếc tháp tập thể”: Yêu cầu trẻ ngồi xung quanh 1 cái bàn và đưa
cho trẻ những khối đồ chơi có hình dáng và kích thước khác nhau. Nhiệm cụ của trẻ là
xếp những khối đó thành 1 cái tháp càng cao càng tốt.
+ Trưng bày các hình ảnh sưu tập: có nội dung mọi người cùng chơi, làm việc với nhau
và cho trẻ thảo luận nội dung của các hình ảnh đó.
+ Cho trẻ tập đóng kịch: theo nội dung các câu chuyện trong chương trình giáo dục mầm

Ví dụ: Nhảy xa sử dụng thước dây, xếp hình bằng đồng hồ bấm giây…lần sau tốt hơn lần
trước…


+ Giúp trẻ đạt được thành công nhất định trong lớp học: Thành công là một trong những
yêu tố quan trọng tác động đến sự phát triển ý thức bản thân. Trẻ ở lứa tuổi này cần trải
qua thành công( theo khả năng của trẻ) để trẻ có cảm giác tự tin rằng mình làm được
những điều tốt. Thực tế , có một số trẻ sợ thất bại đến nỗi không dám thử một hoạt động
nào đó, lúc này tôi sẽ giúp trẻ đạt được thành công trong việc đó từng bước một đồng thời
khen ngợi khả năng đó để trẻ thêm tự tin vào mình. Trẻ sẽ tự hào về thành công của mình
nếu cô giáo cho trẻ thấy rằng cô tự hào về trẻ.
+ Tổ chức một số hoạt động, trò chơi phát triển kỹ năng tự nhận thức cho trẻ:
Ví dụ: Hoạt động “ soi gương”: Giúp trẻ tự quan sát, cảm nhận về hình dáng của mình
bằng cách cho trẻ tự ngắm mình trong gương với các động tác như làm điệu, đội mũ, mặc
quần áo…. . lúc đó tôi có thể hỏi trẻ: Con thấy ai trong gương, người trong gương có
dáng yêu không?
Hoạt động “Hái hoa dân chủ”:Trẻ chọn 1 bông hoa theo ý thích trong đó có nội dung “
Hãy nói cho chúng tôi về….”( có thể là gia đình, đồ chơi bạn thích, món ăn bạn thích…)
và tôi sẽ đọc to câu hỏi đó cho cả lớp nghe, trẻ hái hoa sẽ nói về điều đó theo hiểu biết
của mình.
Hoạt động “ Tôi có thể vẽ”:Tôi tạo ra 1 tờ giấy lớn và dán lên tường. Tôi cổ vũ trẻ vẽ
hay dán bất cứ thứ gì trẻ có thể làm được vào đó để trẻ cả lớp tạo thành bức tranh tổng
hợp lớn. Với hoạt động này trẻ sẽ thấy được sự phát triển tiến bộ của bản thân qua từng
giai đoạn.
Hoạt động “ có điều gì trong một cái tên”: Trẻ nhỏ thường rất tự hào về cái tên của
mình, do đó tất cả hoạt động nào liên quan đến cái tên của trẻ đều làm trẻ hứng thú. Hầu
hết bố mẹ đặt tên cho con đều có 1 ý nghĩa, yêu cầu trẻ hỏi bố mẹ về điều này, sau đó tôi


phát cho mỗi trẻ 1 tờ giấy và bút màu để trẻ có thể vẽ lại điều đó vào bức tranh và trang

nhau một cách phù hợp, qua đó trẻ sẽ học được các quy tắc ứng xử trong xã hội. Vì vậy,
tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể cho trẻ trong lớp như tổ chức sinh nhật,
biểu diễn văn nghệ tổng hợp cuối chủ đề, hoạt động góc…để các trẻ được làm việc theo
nhóm với nhau. Trong quá trình hoạt động luôn khuyến khích trẻ giao tiếp thỏa thuận với
bạn cùng chơi,biểu lộ mong muốn một cách thích hợp, biết giúp đỡ bạn trong khi chơi.
+ Tổ chức 1 số trò chơi :
Giúp trẻ biết lắng nghe người khác nói. Ví dụ: Hoạt động“ điện thoại bạn bè”: Cho 2 trẻ
chơi gọi điện cho bạn ( 2 bạn ở gần nhau). Theo dõi quá trình trò chuyện của trẻ. Sau đó
hỏi trẻ : Hai người cùng nói 1 lúc thì có nghe rõ điều gì không? Khi nào con nghe thấy
tiếng bạn? Con cảm thấy thế nào khi nghe được, khi không nghe được?
Giúp trẻ biết quan tâm và chia sẻ với người khác. Ví dụ: Hoạt động“ chúc bạn chóng
khỏe”: Nếu trong lớp có 1 trẻ bị ốm không đến lớp được, Tôi sẽ tổ chức cho trẻ cả lớp
làm 1 tấm thiệp để gửi lời thăm hỏi và chúc bạn nhanh khỏe rồi gửi tới bạn bị ốm…
3.3.5. Hình thành kỹ năng học tập:
Mặc dù những kiến thức mà trẻ học ở trường mầm non chỉ là sơ đẳng nhưng có vai trò rất
quan trọng, là nền tảng vững chắc cho việc học văn hóa ở trường phổ thông sau này. Với


trẻ ở lớp tôi, trong mỗi hoạt động tôi đều xác định cụ thể mục tiêu, hướng dẫn cụ thể nội
dung, gợi ý cách thực hiện và cho trẻ trao đổi cách thực hiện với các bạn để trẻ tìm ra
cách thực hiện của riêng mình, đồng thời tôi cũng khuyến khích và tuyên dương kịp thời
sự sáng tạo của trẻ, giúp đỡ những trẻ thực hiện kém, động viên trẻ cố gắng hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao với tâm trạng thoải mái và hứng thú nhất.
Ví dụ: Trong hoạt động tạo hình vẽ ngôi nhà (theo đề tài ). Tôi cho trẻ quan sát và nhận
xét 1 số tranh vẽ ngôi nhà đã chuẩn bị trước để gợi ý cách vẽ cho trẻ. Trong quá trình trẻ
thực hiện tôi bao quát để kịp thời tuyên dương những trẻ có sáng tạo như biết vẽ thêm các
chi tiết trang trí cho bức tranh, đồng thời giúp đỡ những trẻ chưa biết cách thực hiện hoàn
thành sản phẩm của mình.
Kết quả là đa số trẻ lớp tôi đã có ý thức trách nhiệm, có kỹ năng thiết lập và thực hiện
mục tiêu trong tất cả các hoạt động, nhất là trong các hoạt động học có chủ đích.

“Sự tích bánh chưng, bánh giày”. Hoạt động vui chơi giải trí này còn dành thời gian cho
học sinh khối 5 tuổi thực hành chuyên đề “Bé tập làm nội trợ”qua hội thi gói bánh chưng
ngày tết.


- Tổ chức hội diễn văn nghệ mừng xuân cho trẻ tại các góc chơi với chủ đề “ Bé hát dân
ca” thi “Trang phục dân gian”, tổ chức các gian hàng ẩm thực mùa xuân, trò chơi dân
gian, thi giải câu đố hay….
- Tổ chức cho trẻ lớp 5 tuổi tham quan, vui chơi các trò chơi dân gian trong dịp đầu xuân
như: Đập heo, lò cò, cướp cờ tại sân vận động hoặc nhà văn hoá xã, giúp trẻ có dịp đến
tham quan tìm hiểu nét văn hóa đặc trưng ở địa phương.
- Tổ chức hoạt động nghệ thuật cho trẻ qua hội thi “ Vẽ những điều mơ ước cho mẹ”, tổ
chức hoạt động phát triển tư duy qua một số hội thi có sự tham gia trực tiếp của cha mẹ
để cùng chơi với trẻ qua đó rèn luyện tính kiên nhẫn, kỹ năng hợp tác với cha mẹ, ông bà
để chiến thắng yêu cầu thử thách của luật chơi, phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống
tự tin, phát triển tình cảm, nhận thức ở trẻ.
3.5. Tạo môi trường thuận lợi để dạy trẻ KNS
Môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giáo dục trẻ. Có môi trường trong
lớp và môi trường ngoài lớp học. Môi trường trong lớp như các góc hoạt động, đồ dùng
học tập… có tác dụng giúp trẻ lĩnh hội kiến thức và một số kỹ năng. Môi trường ngoài
lớp như góc thiên nhiên, vườn cây…giúp trẻ phát triển tình cảm xã hội. Để có môi trường
dạy kỹ năng sống tốt cho trẻ tôi thực hiện như sau:
* Tôi đã thực hiện kế hoạch giáo dục, kế hoạch đánh giá trẻ nhằm ghi chép hàng ngày
từng chi tiết về sự tiến bộ của trẻ, các mối quan hệ với cô, với bạn, ghi chép những kỹ
năng trẻ đạt được trong mỗi ngày làm căn cứ, thước đo để đánh giá cuối mỗi độ tuổi, cuối
giai đoạn phát triển của trẻ. Cũng từ biện pháp này, tôi có dữ liệu, sản phẩm để đánh giá
trẻ, đồng thời có cơ sở để thay đổi, bổ sung các biện pháp giáo dục từng trẻ vì mỗi trẻ rất
khác nhau và giúp trẻ sớm hình thành các kỹ năng sống.



Trước hết, cha mẹ và người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công
bằng với trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ.Ví dụ: Hướng dẫn và nhắc nhở trẻ đội mũ bảo
hiểm khi đi trên xe máy mỗi buổi đến trường, khi tham gia giao thông.
Tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ vui chơi, tạo các tình huống mở để trẻ khám phá và giải
quyết. Ví dụ: Có thể giới thiệu với trẻ về một số hiện tượng tự nhiên qua tranh ảnh, bài
hát, hoạt động vui chơi hay các tình huống thực gặp trong ngày( trời mưa, cầu vồng…Từ
đó giáo dục trẻ biết cách tránh mưa…)
Tạo mối liên kết với bạn bè cho trẻ khi ở gia đình: Có thể thấy, trẻ thường dễ dàng kết
bạn khi chơi theo đôi bạn trong môi trường của riêng chúng hơn là chơi trong một nhóm
bạn tại trường. Nhiều giáo viên thấy rằng, một số trẻ có khó khăn trong việc kết bạn hoặc
chia sẻ với bạn theo nhóm lớn, lại có thể hình thành mối liên kết thân thiết với bạn mới
trong môi trường gia đình của trẻ. Cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng cảm xúc và
xã hội bằng cách tạo ra các mối liên kết bạn bè tại gia đình. Cha mẹ hãy hỏi trẻ muốn mời
ai về nhà chơi? Mối quan hệ này được trẻ duy trì khi đến trường, khi có được mối liên kết
với một trẻ nào đó trong lớp, các mối quan hệ khác sẽ hình thành tiếp theo một cách dễ
dàng hơn.
Liên tục đọc sách, trò chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe : Người lớn nên đọc sách cho trẻ
nghe trong mọi tình huống như những giờ hoạt động góc ở một nhóm nhỏ, hoặc đọc


truyện cho trẻ nghe trong giờ trưa đối với những trẻ khó ngủ. Tăng cường kể cho trẻ nghe
các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết
đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua
các truyện bằng tranh tùy theo lứa tuổi, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả
năng thấu hiểu ở trẻ. Ví dụ: Khi kể chuyện “ Ba cô gái” tôi đặt những câu hỏi gợi mở
như: Nếu là con khi hay tin mẹ bị ốm, con sẽ làm gì? gợi mở tính tò mò thay đổi đoạn kết
của truyện có hậu hơn, đặt tên khác cho câu chuyện v,v….Trong gia đình, cha mẹ luôn
phiên cùng anh chị lớn đọc sách cho trẻ nghe, hoặc thống nhất giờ đọc sách của gia đình,
vào giờ đó các thành viên trong gia đình đều đọc sách, báo hoặc đọc một thứ gì đó của
mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status