Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn 2016 cực hay (Phần 3: Truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945) - Pdf 34

1


KHểA CHUYấN LTH Cụ NGUYN THANH MAI

CH PHẩO NAM CAO (tit 1)

* Li vao bai:
Nazim Hikmet (1902- 1963) - nh th, nh hot ng chớnh tr Th Nh K tng co li tha
thiờt: Con hay nghe nụi buụn cua rng cõy heo khụ, cua hnh tinh lnh ngt, cua chim muụng que
qutnhng trc nhõt, xin con hay nghe tiờng kờu thụng thiờt cua nụi au con ngi.
Võng, t bao gi ờn bõy gi, tiờng kờu con ngi bao gi cung khiờn long ta au n. iờu o li
cng ung vi nhng nghờ s chõn chớnh, nhng nh nhõn o chu ngha t trong cụt tuy nh Nam
Cao.
lp 8, cac em a cam nhõn nụi buụn cn xe tng trang trong nụi au cua Lao Hc khi con
ngi ang kớnh õy th chu chờt ờ cụ gi bng c manh vn cho con, gi tron nhõn cach. Cung
viờt vờ ờ ti ngi nụng dõn, nhng gi hoc ny, chung ta se chng kiờn mt nụi au khac, day dt,
d di hn trong nụi au cua mt thõn phõn sinh ra l ngi nhng khụng c lm ngi qua
truyờn ngn Chớ Pheo.
* Gii thiờu cõu truc bai hoc:
Tit 1: Tac gia, tac phm, tỡm hiờu vn ban (Hỡnh tng nhõn vt Chớ Phốo: quóng i lng thin)
Tit 2: Tỡm hiờu vn ban (Hỡnh tng nhõn vt Chớ Phốo: bi kch b t chi quyn lm ngi)
Tit 3: Tỡm hiờu vn ban (Hỡnh tng nhõn võt th N, Ba Kiờn- gia tr cua tac phm.
I - Tỡm hiu chung
1. Tac gia: (1915-1951)
- Nh vn hiờn thc xuõt sc cua nờn VHVN hiờn i.
- Tac phm xoay quanh hai ờ ti chớnh: ngi trớ thc ngheo v ngi nụng dõn ngheo trc cach
mng thang Tam.
- Nhng du viờt vờ ờ ti no, Nam Cao võn trn tr, day dt ờn au n trc võn ờ nhõn phm,
o c cua con ngi b xoi mon, thõm chớ b huy hoi ca vờ nhõn hỡnh lõn nhõn tớnh. iờu o c
thờ hiờn tõp trung v xuõt sc trong tac phm Chi Pheo.

xot : ho l ụi la nhng chng c xng ụi. Cai khat vong nho nhoi c co mt gia ỡnh vi
ngi v xõu ma chờ qu hn nh th N, vi Chớ Pheo võn ngoi tm tay vi. Nh võy, xet vờ mt
phng diờn no o, cai tờn o khụng phai khụng co ý ngha.
- Dung tờn nhõn võt chớnh Chi Pheo lm tờn truyờn, o khụng phai l iờu mi me. Nhng sc sụng
t thõn cua nhõn võt khiờn ta co cam giac dt khoat cai tờn õy phai l cua nh vn õy, tac phm õy,
khụng thờ khac. Chung sinh ra l phai thuc vờ nhau, gia s Nam Cao co t li tờn nhõn võt mt ln
na, bn oc võn c goi tac phm l Chớ Pheo, nh nhõn dõn võn goi on trng tõn thanh cua
Nguyờn Du l truyn Kiu. Noi nh võy ờ thõy rng :
+ Chớ Phốo l nhõn võt trung tõm, l ni hi t sc sụng v linh hụn cua tac phm, l nhõn võt lm
nờn sc mnh t tng v nghờ thuõt cua vn- nhõn võt c ao, co mt khụng hai trong lch s vn
hoc Viờt Nam. Ton b ý ngha cua ni dung truyờn ngn hu nh toat ra t hỡnh tng nhõn võt
ny ; Chớ Pheo l kờt tinh nhng thnh cụng cua Nam Cao trong ờ ti nụng dõn
+ Mt cai tờn gian d, bỡnh thng, dờ nh v a tr nờn ang nh nhõt cua vn hoc hiờn thc phờ
phan Viờt Nam 1930-1945.
2.3. Đề tài
- Tác phẩm viết về đề tài ng-ời nông dân tr-ớc Cách mạng thang Tam nh-ng có sự khám phá
hết sức mới mẻ. Chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố quá đau đớn khi phải bán con, bán sữa, bán
chó của mình trong mùa s-u thuế nh-ng Chí Phèo đi đến tột cùng của nỗi đau vì phải bán dần nhân
phẩm, linh hồn của mình cho Bá Kiến mà bán rất rẻ, mỗi lần chỉ lấy một vài đồng uống r-ợu. Vì thế,
khi tiểu thuyết B-ớc đ-ờng cùng của Nguyễn Công Hoan ra đời năm 1938, Tắt đèn của Ngô Tất
Tố ra đời năm 1939, ng-ời ta nghĩ rằng khó có thể nói gì thêm về nỗi đau thân phận ng-ời nông dân.
Vậy mà năm 1941, Chí Phèo ngõt ngng bc ra t trang sach cua Nam Cao, ngi ta mi nhõn
ra đây mới là hình ảnh thê thảm nhất của kiếp sống ng-ời dân cày trong xã hội thực dân phong kiến
(GS Nguyễn Đăng Mạnh). Nh võy, võn ờ cua Chớ Pheo khụng phai bi kch cm ao go tiờn, m l
bi kich bi xoi mon vờ nhõn phõm. o l cnh sc khỏc trong tac phm cua Nam Cao khiờn ụng
vt hn hn nhng tac phm viờt vờ nụng dõn v nụng thụn cung thi.
- Chớ Pheo trc hờt l võn ờ nụng dõn v nụng thụn Viờt Nam trc Cach mng thang Tam, nhng
no khụng chi l võn ờ nụng dõn v nụng thụn, o con l võn ờ con ngi, l bi kch cua con ngi
b t chụi quyờn lm ngi, võn ờ co tinh trit hoc va mang y nghia khai quat xa hụi. Chớ Pheo
va tiờu biờu cho sụ phõn cung cc cua ngi nụng dõn b e nen, boc lt, va tiờu biờu cho s tha

- Thời gian : Tác phẩm mở đầu bằng cái buổi chiều Chí Phèo uống say và lên cơn chửi. Buổi chiều
đó kéo dài qua những đoạn hồi cố nhằm dựng lại cuộc đời Chí, trượt xuống thành buổi tối khi cái
bóng xệch xạc dưới trăng làm hắn quên ý định báo thù, nảy sinh từ sự vô vọng của tiếng chửi, và rẽ
vào nhà Tự Lãng. Sau cuộc rượu với kẻ tri kỷ cuồng, đêm đó hắn gặp kẻ tri âm của đời mình: Thị
Nở. Sáng hôm sau hắn tỉnh, không chỉ là tỉnh khỏi giấc ngủ đêm hôm trước, mà tỉnh khỏi cơn say
mênh mông suốt đời hắn, tỉnh khỏi kiếp sống sinh vật, kiếp quỷ dữ. Và năm ngày tiếp theo, quãng
thời gian sống trong tình yêu với Thị Nở, hắn đã làm một người lương thiện thực sự. Câu chuyện về
Chí dừng lại ở cái buổi trưa ngày thứ sáu, sau khi bị Thị Nở chối từ, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự
vẫn. Nhưng tác phẩm chỉ thực sự kết thúc với những lời bàn tán xì xầm của làng Vũ Đại và thái độ
của Thị Nở một ngày sau khi Chí chết (sang ngày thứ 7). Như vậy, Chí Phèo - con quỷ dữ và quá
trình biến thành quỷ dữ đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại của câu chuyện được mở ra từ cái thời
điểm khởi đầu cho sự hồi sinh của Chí, cũng là khởi đầu cho một kết thúc đau đớn sẽ đến kề
ngay sau đó.
- Không gian: Cái lò gạch- Nhà Bá Kiến- Nhà tù- Túp lều- Cái lò gạch- những không gian nghệ
thuật giàu ý nghĩa, góp phần thể hiện sâu sắc nội dung hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, đem lại
những giá trị thẩm mĩ cao.
- Cấu trúc dồn nén sự kiện, vừa có những biến hóa bất ngờ, độc đáo. Toàn tác phẩm là một sức
căng. Vừa diễn đạt tính quyết liệt của mâu thuẫn xã hội, vừa làm nổi bật tính cách nhân vật, tạo sức
hấp dẫn cho người tiếp nhận.
3. Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo
Bước 1 : Khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí của nhân vật (Đây là nhân vật trung tâm, hội tụ
những giá trị đặc sắc của tác phẩm)
Bước 2 : Sơ lược về cốt truyện và cuộc đời nhân vật (các em nói như phần tóm tắt).
Có thể chia cuộc đời Chí Phèo làm ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất: từ lúc Chí ra đời tới lúc bị đẩy
vào tù: Quãng đời lương thiện. Giai đoạn hai: từ khi Chí Phèo ra tù tới khi gặp thị Nở : Bi kịch tha
hóa. Giai đoạn ba: từ khi gặp thị Nở đến khi bị thị Nở khước từ tình yêu: Bi kịch bị từ chối quyền
làm người.
Bước 3: Phân tích hình tượng nhân vật
a. Sự xuất hiện của nhân vật :
- Thường có ý nghĩa quan trọng, tạo ấn tượng ban đầu với bạn đọc.

mình ra)
thật ! Tức đến chết được mất !
Đã thế, hắn chửi cha đứa nào
Không ai ra điều
Mẹ kiếp ! Thế có phí rượu
không chửi nhau với hắn
không ? Thế thì có khổ hắn
không ?
Đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn
Hắn không biết
A ha ! Phải đấy...hắn cứ nghiến
(Trong câu nói đã có ngấn
Cả làng Vũ Đại cũng không ai biết răng vào mà chửi
nước mắt rồi !)
THU HẸP DẦN
ĐÔNG ĐẢO- IM LẶNG
ỒN ÀO, SÔI SỤC- CÔ ĐƠN
(Tiếng chửi rơi tõm vào khoảng
Nhu cầu thèm được giao
Ngày càng vật vã, đau đớn
không, Chí xa lạ với chính mình,
tiếp
khủng khiếp
lạc lõng với đồng loại)
MOON.V N

- Đoạn văn không một trạng ngữ chỉ thời gian, như những tháng năm triền miên trong cơn say của
Chí là dài vô tận ; không một trạng ngữ chỉ không gian, như con đường say mà Chí đang đi thăm
thẳm vô cùng. Cuộc đời như bóng đen khủng khiếp mà càng khao khát sẻ chia càng nhận về hoang
mạc. Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng : tiếng chửi của Chí Phèo là tiếng hát lộn ngược của tâm

tỡm nguyờn nhõn, nguụn ci ờ tra li cõu hoi: ai a e ra Chi Pheo !
b. Lai lich cuục i- quang i bõt hnh nhng lng thiờn
- Lai lich : Con sụ Khụng- Khụng gia ỡnh, khụng ai lm giõy khai sinh cho Chớ.
Sau dong i sụi sc, nga nghiờng, giong vn tr nờn trm lng, xa xụi trong hụi c. Tac gia a ta
vờ vi mt bui sang tinh sng, ngi ta nht c a tre trn truụng, xam ngt trong mt cai vay
p ờ bờn mt cai lo gch bo khụng. Nh võy, kh hn ca phõn mụ cụi, ngay t thu lot long, Chớ
a khụng biờt õu l nguụn ci, cha bao gi biờt ờn bn tay chm soc cua me cha, thiờu hn tỡnh õp
u yờu thng cua nhng ngi thõn, khụng biờt ai l rut tht. Tr thnh võt trao tay hờt ngi ny
ờn ngi khac : anh tha ụng ln rc ly, ngi n b goa mu em v nuụi, ban cho bac pho cụi
khụng con, rụi bac pho cụi qua i, Chớ li tr vờ khụng ni nng ta...
- S phõn, tinh cach : au n tui nhc nh thờ nhng Chớ võn ln loc sụng nh mt mm cõy
mnh me. Du tui th b v i cho hờt nh ny ờn nh khac, khụng mt ai thõn thớch ho hng,
khụng mt mai nh che thõn, nhng nhng ngi nh Chớ hỡnh nh cung tuyờt nhiờn khụng biờt ờn
tui cc oan hn, khụng kờu than cho sụ phõn. T trong lõm lap, lm lui, Chớ võn c ln lờn, tr thnh
anh canh iờn khoe mnh, mang ban tớnh tụt ep cua nhng ngi dõn lng thiờn: thõt th, chõt
phac, ngay thng, trung thc, lm thuờ lm mn t kiờm sụng nuụi thõn, khụng nh va cp giõt
cua ai. hiờn nh õt l ban tớnh a c chớnh Ba Kin, Nam Cao, sau ny l thi N xac nhõn,
hiờn ờn mc nhỳt nhỏt, ang thng, nhng ng sau ve nhat s v nhn nhc cụ hu cua nhng
ngi yờu thờ, ta thõy trong con ngi õy co ht nhõn cụt loi cua long t trong. Vỡ t trong nờn
anh nụng dõn hai mi tui ny chi thõy nhc khi b b ba boc lt. Còn biờt nhục, chứng tỏ Chí có
nhân phẩm của một con ng-ời biết phân biệt giữa cao th-ợng- thấp hèn; biờt õu l tỡnh yờu chõn
chớnh v õu l những cái xấu xa cần khinh bỉ. Không co tầm hiểu biết cao rộng nh-ng Chí có nhân
cách. 20 tui, ng-ời ta không là gỗ đá nh-ng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Còn lí trí, Chớ không
chấp nhận cuộc sống bản năng, thú vật. õy l im sang lõp lanh ca nhõn cach Chớ Pheo trong
th thach u tiờn cua hon canh.
- Nhng phõm chõt tt ep ca Chi :
+ Chớ thõt th, chõt phac, ngay thng, trung thc, lm thuờ lm mn t kiờm sụng nuụi thõn.
+ Ban tớnh rõt hiờn lnh, co phn nhut nhat.
+ Co long t trong.
MOON.V N

làm một thành viên của xã hội lương thiện. Nam Cao đã đẩy Chí tới tận cùng nỗi bất hạnh khi
sự lương thiện của Chí lại phụ thuộc vào người khác chứ không phải vào chính bản thân hắn.
Để được làm người lương thiện thực sự sao mà khó khăn? Bao năm rồi, câu hỏi ấy vẫn có giá trị thức
tỉnh lương tâm con người mỗi khi bị đặt trong những hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ gìn nhân cách.
Nam Cao lớn vì thế, người vẫn đàng hoàng sống giữa cõi bất diệt của đời sống nhân sinh bởi đã gợi
nên được những vấn đề lớn lao và tầm vóc.
* Kết thúc giờ học: Trong cuốn “Chí Phèo mất tích”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đề dòng chữ:
“Kính tặng hương hồn nhà văn Nam Cao”, dưới đó có bốn câu thơ:
"Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống
Nào có dài chi một kiếp người
Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách
Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai"
MOON.V N

Gần một thế kỉ đã trôi qua, vượt qua gió bụi thời gian, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa tư tưởng của tác
phẩm đã chứng minh sức sống mạnh mẽ của Chí Phèo. Thậm chí, chỉ cần với hình tượng nhân vật
này, Nam Cao có thể đàng hoàng đi vào cõi bất diệt. Mỗi thời đại, với mỗi góc nhìn, ta lại phát hiện
ra những giá trị và vẻ đẹp khác nhau của tác phẩm.

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

CHÍ PHÈO – NAM CAO (tiết 2)

1. Hình tượng nhân vật Chí Phèo
a. Sự xuất hiện của nhân vật
b. Quãng đời lương thiện- Trước khi đi tù
c. Quãng đời của con quỷ dữ- Khi ở tù về- Bi kịch tha hóa

vênh vang ra về trong lòng tự đắc “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta…”. Sự thâm hiểm, tàn
bạo của Bá Kiến vừa dập tắt mầm thiện vừa khơi lên mầm ác trong Chí Phèo, lợi dụng những khát
khao về quyền làm người để đẩy Chí Phèo vào con đường làm tay chân cho hắn. Chí thực sự rơi
xuống vực thẳm, trở thành công cụ làm giàu trong tay Bá Kiến .
Lần n-1:
Kết thúc lần 1: Tha hoá, lưu manh. Chí có một kế sinh nhai: bán dần bán rẻ linh hồn, rạch
mặt ăn vạ bán dần sự sống để tồn tại một cách ngắc ngoải, cũng là bán đi sự sống để khỏi chết .
Kết thúc lần 2: Chí trở thành kẻ tự đắc, đâm thuê chém mướn, trở thành công cụ vô thức
trong tay những ông chủ bà chủ.
Lần n-1: Chí đắm chìm trong những cơn say triền miên, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc
say, tỉnh dậy trong lúc say, để rồi say mãi, vô tận, đời là một cơn say dài mênh mông. Và khi say rồi
thì Chí làm bất cứ việc gì mà người ta sai hắn làm. Chí càng ngày càng dấn sâu vào con đường tội
lỗi.
- Từ đây, Chí sống tăm tối như thú vật, xa lạ với mọi người, với xó hội loài người. Từ chỗ hung
hăng xách vỏ chai đến nhà bá Kiến, Chí Phèo đó nhanh chúng trở thành anh đầy tớ chõn tay mới, kẻ
mự quỏng gõy tai hoạ cho những nông dân lương thiện, “bao nhiờu việc ức hiếp, phá phách,
đâm chém, mưu hại người ta giao cho hắn làm”, “hắn đó phỏ bao nhiờu cơ nghiệp, đập nát bao
nhiờu cảnh yờn vui, đạp đổ bao nhiờu hạnh phỳc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiờu người
lương thiện”. (Đoạn văn chất chứa bao nhiêu nỗi thống khổ của một thân phận đó khụng cũn được
cuộc sống của một người b́ nh thường. Những năng lực vốn có của một con người - năng lực cảm
xúc, nhận thức - hầu như bị phá hủy, chỉ cũn lại năng lực đâm chém, phá phách. Năm lần tác
giả dùng từ “bao nhiờu”: nỗi đau thống thiết của Nam Cao khi nh́ n thấy đứa con tinh thần của ḿnh
ngày một biến dạng đi. Không thể kể xiết những việc đâm chém phá phách của Chí, chính Chí cũng
không ư thức được hết việc làm của ḿnh- mức độ của sự việc: phá- đập nát- đạp đổ- làm chảy máu
và nước mắt được miêu tả theo chiều tăng tiến. Cái Ác đă chiếm lĩnh từ h́ nh hài đến tâm tính- đó
là đỉnh cao của bi kịch phá sản lương tâm- “Văn Nam Cao quằn quại như ai đă cướp mất Chí
Phèo từ trong trái tim rướm máu của ông. Từng câu từng chữ như thấm nước mắt đau đời. Trong
văn học hiện thực phê phán Việt Nam, thật không nhiều những trang dữ dội như thế, xúc động đến
như thế!” (Nguyễn Quang Trung- Tập san phổ thông trung học- Khoa học Xă hội, số 1, 1988).
Rồi cuộc đời Chí sẽ đi đến đâu? Ngị bút Nam Cao tưởng đă đến chỗ sơn cùng thủy tận th́ một bước

vốn là bản tính tốt đẹp và khá bền vững của người nông dân. Xó hội tàn ỏc dõ̃u có ra sức huỷ diệt
bản tính ấy nhưng nó vẫn âm thầm sống trong đáy sâu tâm hồn họ. Ngay cả khi bị coi là quỷ dữ, ta
vẫn thấy một Chí Phèo vật vã bế tắc khi bị loài người xua đuổi; khát khao giao tiếp, hoà nhập với
cộng đồng; một tâm hồn đau khổ, tuyệt vọng, nỗ lực vùng lên để đ ̣i lại quyền sống, nghĩa là vẫn c ̣n
có tính người.
+ Tình yêu có thể có sức mạnh mở đường sống và hạnh phúc. Tỡnh người có sức mạnh hơn bất cứ
thứ bạo lực nhà tù nào. Để nhào nặn nên con quỷ dữ Chí Phèo, nhà tù thực dân phải mất bảy, tám
năm trời nhưng để biến Chí thành một con người Thị Nở chỉ cần có vài ngày ngắn ngủi.
+ Trên hành tŕnh trở về của Chí, luôn có bóng người bạn tri kỉ đồng hành Nam Cao trong biết bao
giờ phút cảm động, trân trọng phát hiện, nâng đỡ phần nhân tính c ̣n ch́ m khuất- sứ mệnh nhân đạo
cao cả của nhà văn, làm cho người gần người hơn.
- Chuyển ư: Nhưng Nam Cao đồng thời cũng chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, thứ hạnh phúc muộn
mằn gọi được lương tri Chí trở về lại càng nhanh chóng đẩy bi kịch Chí Phèo đến hồi chót. Thị Nở
giúp Chí Phèo phát hiện lại chính ḿnh nhưng thị Nở cũng là nỗi đau sâu thẳm của Chí. Lúc Chí Phèo
thiết tha trở về nhất cũng là khi anh ư thức không thể trở về. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người thực
sự đă xảy ra khi Chí Phèo có ư thức.
e. Đỉnh cao của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người
- Quá tŕnh bị từ chối quyền làm người thực ra đă bắt đầu từ lâu, nó diễn ra đồng thời với quá tŕnh bị
tha hóa. Nhưng kể từ sau khi gặp thị Nở, tức là từ khi Chí Phèo thức tỉnh, bi kịch mới thực sự lên đến
đỉnh điểm.
- Khởi nguồn: sự từ chối của thị Nở. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở chỉ như một vệt sao băng loé lên
trong cuộc đời dằng dặc, tối tăm, để rồi nhanh chóng tan biến. Mối tình vừa mới chớm hé đã tàn
phai, hạnh phúc tưởng chừng nằm trong tầm tay vậy mà mãi mãi không thể nào với tới được, nó đă
vĩnh viễn qua đi không bao giờ quay trở lại. Cánh cửa cuộc đời vừa mới hé mở ra thì đã bị đóng sầm.
Định kiến Xã hội thông qua lời bà cô Thị Nở và chính lời Thị Nở đă từ chối quyền hạnh phúc,
quyền trở lại lương thiện của Chí Phèo. Chí Phèo rơi vào đỉnh điểm của bi kịch.
- Tõm trạng bi kịch của Chí Phèo (diễn biến rất phức tạp, có thể làm theo một trong hai cách: Dựa
theo mạch truyện để phân tích hoặc Khỏi quát thành những trạng thái nổi bật của tõm trạng rồi phõn
tớch, phải làm rừ những diễn biến chớnh của tõm trạng nhõn vật chớ Phốo : thất vọng -đau đớn- căm
hận mù quáng- phẫn uất- tuyệt vọng. Cần thấy tính chất bế tắc và các chi tiết dự báo về sự tiếp diễn

+ Nhận rõ kẻ thù giai cấp, kẻ cướp quyền làm người của Chí
+ Khao khát trả thù và vạch trần tội ác của g/c thống trị
- Hành động tự sát:
+ Khao khát mãnh liệt được làm người lương thiện
+ Ý thức sâu sắc về nỗi đau bị từ chối làm người
+ K chấp nhận cuộc sống thú vật
-> hành động tự phát, đấu tranh trong tuyệt vọng và bất lực.
MOON.V N

Hành động đó là chỗ mạnh nhưng đồng thời cũng là chỗ yếu đuối của Chí. Sự từ chối của những
người lương thiện đó giết chết Chớ Phốo, đó giết chết Lang Rận, đó làm cho Đức phát điên. Với
giới hạn trong học vấn và nhận thức về giá trị cá nhân, các nhõn vật của Nam Cao đều chưa có cách
nào . thoát ra khỏi bi kịch, họ dám chết hay phải chọn cái chết để được sống? Giăng Van giăng cũng
bị đẩy vào tù, cũng nhận bao sự khinh khi, miệt thị, nhưng dưới cái nh́ n của chủ nghĩa lăng mạn,
nhân - vật đó đă đứng cao hơn hoàn cảnh.
Bước 4: Đánh giá khái quát về ư nghĩa của h́ nh tượng
- Thông qua tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính, nhà văn đó gửi đến người
đọc những thông điệp mang giá trị nhân văn cao đẹp:
+ Sự đồng cảm với những nỗi khổ đau, bị đày đọa và lăng nhục của người nông dân.
+ Sự lờn ỏn, tố cáo tội ác của chế độ thực dân nửa phong kiến đó đàn áp và bóc lột nhân dân lao
động.
+ Quy luật đáng sợ của xă hội xưa: muốn tồn tại phải lưu manh, muốn lương thiện phải chết.
+ Sự phỏt hiện và trõn trọng vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật, khao khát thay đổi thực tại để mang đến
một cuộc sống tốt đẹp hơn. Niềm khao khát được sống lương thiện cao hơn cả tính mạng. Từ cái
http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
chết tuyệt vọng của Chí hé ra luồng áng sáng yêu thương và cảm động, thể hiện niềm tin vào sự nỗ
lực của con người: Chí đã chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời, chết trong niềm đau thương lớn

Xuất thân trong một gia đình bốn đời làm lí trưởng. Bản thân ông ta làm lí trưởng, rồi chánh tổng.
Bằng mưu mô và thủ đoạn khôn khéo, hắn lần lượt leo lên đỉnh cao của danh vọng: tiên chỉ làng Vũ
Đại, Bá hộ, Chánh hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc kỳ nhân dân đại biểu, “hắn khét tiếng đến cả
trong hàng huyện”. Ở làng Vũ Đại, nơi có cái thế đất “quần ngư tranh thực”, nghĩa là cả bầy cá tranh
mồi, Bá Kiến trở thành con cá lớn. Tuy chỉ xuất hiện ở phần đầu và phần cuối tác phẩm, nhưng “cái
bóng” của cụ Bá đã che rợp không gian vật chất và tinh thần làng Vũ Đại.
3.2. Sự xuất hiện của Bá Kiến
- Xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm với giọng nói đầy uy quyền: “Nhưng kìa, cụ ông đã về…Cụ cất
tiếng rất sang hỏi: “Cái gì mà đông thế này?” Chỗ này “lạy cụ”, chỗ kia “lạy cụ”, người ta kính
cẩn đứng dãn ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích”…
- Nhớ đến Bá Kiến, người ta không hình dung được khuôn mặt (bộ mặt thật rất khó nhận diện), mà
ấn tượng nhất tiếng cười. Đó là điệu cười rất sang, ngay cả khi cười nhạt (kiểu cười xã giao), tiếng
cười vẫn giòn giã lắm (như là chân tình, nồng mặn). Đó là tiếng cười ẩn chứa sự ranh mãnh, tinh
quái, độc ác. Tiếng cười khanh khách để thử thần kinh con người- Điệu cười Tào Tháo là dấu hiệu
riêng chỉ có ở Bá Kiến, vừa bộc lộ một phần tính cách. Giọng cười ha hả đắc thắng khi hắn tưởng
“đọc vị” được Chí Phèo. Người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười đó; bao nhiêu người chết cũng
vì cái cười và giọng nói ấy…Tiếng cười ấy đi kèm với những cử chỉ, hành động. Ta hãy xem cụ làm
gì khi có thằng như Chí Phèo đến nhà ăn vạ?
- Hành động: Quát mấy bà vợ…quay lại người làng, dịu giọng hơn, lay gọi Chí Phèo bằng giọng
thân mật, xốc Chí Phèo, mắng con…Bên trong, là kẻ khôn lõi đời. Khác với Nghị Hách (Giông tố –
Vũ Trọng Phụng) dâm ô, Nghị Lại (Bước đường cùng- Nguyễn Công Hoan) tàn ác, Nghị Quế hủ
lậu, Bá Kiến điển hình là con cáo già lọc lõi, lắm mưu nhiều kế, vô cùng nham hiểm và thâm độc.
Khắc họa nhân vật này, Nam Cao không chỉ nhấn mạnh khía cạnh áp bức bóc lột người nông dân mà
khắc sâu một nét bản chất đặc biệt của lão. Đó là một tên cường hào có nghệ thuật thống trị, đàn
áp người nông dân rất thâm hiểm. Đây là nhân vật mang rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo của
Nam Cao.
3.3. Nghệ thuật “dùng người” của Bá Kiến
Nam Cao để cho nhân vật Bá Kiến độc thoại nội tâm, nhằm phơi bày những suy nghĩ tỉnh táo, nham
hiểm, tự rút ra được những phương châm, thủ đoạn thống trị người nông dân rất khôn ngoan và hiệu
quả mà Bá Kiến đã đúc rút từ bốn đời làm tổng lý

nhau n bun. Vi tng lp bi tri, chỳng bc l mõu thuõn gay gt, vi tng lp thng tri, chỳng cng
xõu xộ vỡ quyờn lc, vỡ li lc mnh t qun ng tranh thc. Ni b luc uc trong tng lp thng
tri lng xa l d cm vờ mt ờm trc ca cỏch mng trong cm quan nhy bộn v tinh t ca
ngi cm bỳt.
3.6. Trong quan h gia inh: bỏ Kin con bục lụ s ớch ki, xõu xa, i bi
Du a ngoi 60 tui, mt lỳc cú n bn v, nhng võn cha va long, võn hay ghen búng ghen giú
vi nhng trai tre. Nhng chớnh lao cỏo gi hỏo sc v thớch chi trng bi y li bớ mõt i li vi
v Binh Chc a cú bn con, ri con lờn tnh ngi chung xe, chi bi trỏc tỏng.
3.7. Cỏi cht bõt ng ca Bá Kiến: Khụn ngoan lc loi n võy, nhng húa ra hn võn khụng hiu
c Chớ Pheo, khụng sao hiu ni khỏt vng hon lng ang go thột. Ting ci khanh khỏch
cung cõu mai ma: ễ tng gỡ! Tụi ch cn anh lng thin cho thiờn h nh a ca vo tõm can
Chớ, chm ỳng nụi au ca Chớ. Nh git nc trn li, Chớ a thột lờn: Khụng c! Ai cho tao
lng thin?...ch con mt cỏch ny lbit khụng?. Bỏ Kin a õy Chớ vo con ng cung, ke
th phm a phi nhõn ly nhỏt dao i mng.
Vi tt c ti ỏc ca mỡnh, Bỏ Kin a phi cht nh mt iờu tt yu- ke gieo giú se phi gt bao.
Cam quan hin thc sõu sc ca nh vn cho ta thy tỡnh trng xung t giai cp nụng thụn Vit
Nam l ht sc gay gt v ch cú th c gii quyt bng nhng bin phỏp quyt lit. Li dao Chớ
Pheo vung lờn tuy n c, t phỏt, nhng nú l tia chp bỏo hiu sm rung bao tỏp cỏch mng se n
ra trong nay mai.
3.8. Ngh thut
MOON.V N

- Bỏ Kin l nhõn võt in hỡnh.
+ Bỏ Kin cú nột chung ca giai cp thng tri tham lam tn bo khụng t mt th on no búc lt
ngi nghốo (ging Nghi Qu, Nghi Li)
+ Bỏ Kin cú nột riờng ca tờn ỏc bỏ gian hựng, nham him, th on (cỏi ci th dõy thn kinh
ngi, li núi gi di)
+ Ngh thuõt c ỏo, sc so ca Nam Cao: Cỏc nh vn hin thc khỏc ch chỳ ý miờu t ngoi
hỡnh giai cp thng tri, cũn Nam Cao ớt chỳ ý ngoi hỡnh khi xõy dng nhõn võt Bỏ Kin. ễng ch
yu khc ha tõm ia Cu ci nhat nhng gion gia lm, Bao gi cu cng quat th dõy thn

tỡnh ngi. Cũng nh- những nhân vật khác của Nam Cao trên hành trình trở về luơng thin cũng bắt
đầu từ n-ớc mắt (con bit khúc, bit au kh n nn, lng tri con c hi thc tnh- cht nh git
nc mt cay ng ca H trong i tha; hng l chúi ngi nhõn cỏch ca lao Hc). Một bát cháo
bình th-ờng c đón nhõn vô cùng cảm động, hắn nhìn bát cháo mà bâng khuâng. Thi N nhin
trụm hn rụi toe toet ci (long tt gin di, mc mc). Hn va vui va bun, mt cỏi gỡ nh l n
nn(Cụ Mai lu ý: chi tit Chớ Pheo n chỏo v liờn quan n chỏo- gia nú l nhng hi c, so
sỏnh, liờn tng, cm xỳcc miờu t rt k lng, chi li n tng chi tit sut 2,5 trang (khong
86 dong- 1500 ch/ trờn tng s tỏc phõm l 25 trang, 14 ngn ch). Tỡnh thng ca Nam Cao nh
bao bc trong tng cõu ch: Thi cp mụt cai rụ, trong cú mt ni gi õy vung. ú l nụi chao con
nong nguyờnva sang thi a i tim gao, hanh thi nha may lai con. Thi nu b vo cỏi r, mang
ra cho Chớ Pheo nhỡn bỏt chỏo bc khoi, cm ly bỏt chỏo a lờn mm. Tri i chỏo mi thm
lm sao! Ch khoi xụng vo mui cng lm ngi nh nhom. Hn hup mụt hup v nhn ra
rng: bỏt chỏo hup xong ri, thi N lõy bat chao va muc thờm bat chao namy bỏt chỏo
ý chng a ngõmsau ny, c thoang thoang thy hi chỏo hnh) Đến bên kia dốc của cuộc đời
Chí mới biết rằng: cháo hành ăn rất ngon.
+ Nh võy, bỏt chỏo hnh l mt chi tit ngh thut c sc, l hng vi quyn r ca hnh phỳc,
tỡnh yờu, biu tng thm tho ca tỡnh ngi. ú cng l yu t chuyn húa tớnh cỏch Chớ Pheo sang
iờu tt lnh, l liờu khỏng sinh cc mnh trong mt ca cp cu, mt chic thang t bi vt Chớ Pheo
lờn t ỏy vc, l cỏi bn lờ khe xoay nghiờng m ra mt giai on mi trong i Chớ, tuy khụng
i c s phõn, nhng a cu mụt tõm hn. Ln u tiờn sau by nhiờu nm ngi ta li thy Chớ
Pheo khúc, ln u tiờn sau by nhiờu nm li thy Chớ Pheo ci (con bit khúc bit ci l con cú
cm xỳc v ý thc ca ngi). Tuy l tỡnh yờu ca hai ke khụng c coi l ngi nhng Nam Cao
a trõn trng v chm chỳ phỏt hin, diờn t, lng nghe tng rung ng nh nhoi trong ỏy sõu tõm
hn nhõn võt. Nhin Th hn cam ụng "Hn cm thõy long thanh tr con, hn mun lam nng vi
th nh lam nng vi m.... ú l giõy phỳt ngi nht ca Chớ. Ta quen nhỡn ụi la ny bng con
mt ci ct, re rỳng, nhng nhng cụ gỏi thi ny cú lm c nh thi khụng?
- Dỏm i ngc li nh kin ờ vờ vi Chớ Pheo. V ch gn Chớ thi mi bit rng: ễi sao ma
hn hiờn!" ri hn ci nghe tht hiờn. Cm giỏc c yờu thng v ch che a lm Chớ trụi dõy
mt tỡnh yờu cuc sng. Phn qu tm thi r b, Chớ "them lng thin va khat khao lam hoa vi
MOON.V N

(Ngữ văn 11, tập 1, tr.155).
1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của ai? Vị trí của đoạn trích trong tác phẩm?
2. Nhân vật “thị” và “hắn” trong đoạn văn trên là ai? Xác định mối quan hệ của hai người trong tác
phẩm.
3. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn bản.
3. Lời thoại của nhân vật thuộc loại nào trong các phương án dưới đây:
a. Độc thoại
b. Đối thoại
c. Độc thoại nội tâm
4. Vì sao nhân vật “thị” phải nhìn trộm bà cô rồi nhìn nhanh xuống bụng? Chi tiết đó đã bộc lộ khía
cạnh nào trong tính cách nhân vật?
5. Hình ảnh cái lò gạch cũ ở đoạn văn trên có ý nghĩa gì?
Hướng dẫn trả lời các câu hỏi
1: Tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Đoạn trích thuộc phần kết của tác phẩm
2. Phương thức tự sự: Độc thoại
3. Vì nhân vật chợt nghĩ đến một điều đáng sợ, nếu “chửa hoang” thì không biết sẽ phải chịu sự
trừng phạt của lệ làng và của bà cô thị như thế nào. Chi tiết bộc lộ khía cạnh nhạy cảm rất đàn bà của
thị. Lúc này, thị rất tỉnh táo, biết lo xa. Về cơ bản, thị vẫn là số phận hoàn toàn bị lệ thuộc vào những
định kiến, luật lệ khắt khe ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ.
4. Hình tượng cái lò gạch:
- Nam Cao có một cái kết đầy ám ảnh, nó không chỉ tạo nên một kiểu kết thúc khép kín, đầu cuối
tương ứng mà còn để lại một nỗi day dứt và bi thương trong lòng độc giả. “Cái lò gạch cũ” đầu tác
phẩm là nơi mở đầu một số phận, một kiếp người đau khổ đầy bi kịch thương tâm. Hình ảnh “cái lò
gạch cũ” ở cuối tác phẩm không phải là một hình ảnh thực mà là một hình ảnh tưởng tượng nói lên
rằng: Rất có thể từ cái lò gạch cũ ấy, Thị Nở lại cho ra đời một Chí Phèo con ngỗ ngược hơn bố nó
để nối nghiệp. Chừng nào còn tồn tại xã hội “người ăn thịt người”, thì còn tồn tại hiện tượng Chí
Phèo.
- Nghĩa là Chí Phèo chết, nhưng hiện tượng Chí Phèo chưa chấm dứt (Hiện tượng Chí Phèo là hiện
tượng hàng vạn người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa và
khi ý thức nhân phẩm trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt để phải tìm đến cái chết thảm

3.2. Những nét đặc sắc trong nghệ thuật: Kết cấu, miêu tả tâm lí nhân vật, sử dụng ngôn ngữ,
giọng điệu, lời văn…
Đề tham khảo:
“Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám
phá một cách nghệ thuật”. (Hà Minh Đức). Anh chị hiểu như thế nào về nhận định trên? Hãy làm
sáng tỏ bằng việc phân tích sơ đồ không gian trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao: Cái lò gạch
bỏ không- Nhà tù- Túp lều Chí Phèo- Cái lò gạch bỏ không .
Gợi ý làm bài
a. Giải thích nhận định:
- Cái đẹp trong tác phẩm văn học chủ yếu thể hiện ở nội dung tư tưởng cao cả, hình thức nghệ thuật
hấp dẫn, độc đáo.
- Cái đẹp của sự thật đời sống bắt nguồn từ hiện thực, phản ánh sâu sắc những vấn đề con người quan
tâm, trăn trở, phục vụ và góp phần cải tạo cuộc sống…
- Cái đẹp được khám phá một cách nghệ thuật: Sự tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, độc đáo trong phản ánh
thực tại, tạo nên sự hài hòa giữa nd và ht, đem lại giá trị thẩm mĩ cao. Ý nghĩa khái quát: Khẳng định
tầm quan trọng của hiện thực cuộc sống và tài năng nhà văn với việc sáng tạo cái đẹp.
b. Phân tích, chứng minh:
- Ý nghĩa sơ đồ không gian: Đó là hệ thống các chi tiết không gian được nhà văn sắp xếp để phản
ánh những bước ngoặt cuộc đời nhân vật Chí Phèo. Mỗi chi tiết có ý nghĩa quan trọng khác nhau đối
với số phận nhân vật (Cái lò gạch bỏ không: một cuộc đời bị bỏ rơi; Nhà tù: nơi giam cầm và tha hóa
người lương thiện; Túp lều Chí Phèo tối tăm, nơi Bá Kiến giam cầm linh hồn quỷ dữ, cũng là nơi gặp
gỡ của tình yêu thương và thức tỉnh bản chất lương thiện của Chí; Lò gạch bỏ không được nhắc lại
theo kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng, gợi số phận quẩn quanh, bế tắc của người nông dân trong xã
hội cũ)
- Cái đẹp toát ra từ sơ đồ không gian: các chi tiết này là những hình ảnh cụ thể, trong cuộc sống ở
nông thôn xưa và gắn trực tiếp với cuộc đời nhân vật CP. Nhưng qua tấm lòng và sự tìm tòi, khám
phá sáng tạo của một nhà văn tài năng, đã trở thành những không gian nghệ thuật giàu ý nghĩa, góp
phần thể hiện sâu sắc nội dung hiện thực và nhân đạo của tác phẩm, đem lại những giá trị thẩm mĩ
cao.
c. Đánh giá:

Đoạn mô tả Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời thuộc bi kịch thứ
hai.
2. Phân tích cụ thể diễn biến tâm trạng Chí Phèo.
a. Trước hết là sự thức tỉnh. Bắt đầu là tỉnh rượu.
“Sau những cơn say vô tận”, “bây giờ thì hắn tỉnh” sau đêm gặp Thị Nở, Chí Phèo đã sống lại những
cảm xúc đầy nhân tính. Hắn cảm nhận được không gian xung quanh với “cái lều ẩm thấp mới chỉ lờ
mờ”. Đặc biệt hắn đã cảm nhận được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống quanh mình: “Tiếng
cười nói của những người đi chợ; tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”.
Những âm thanh bình dị ấy ngày nào chả có, nhưng xưa nay, vì say hắn bị xã hội làm cho “mù điếc
cả tâm hồn”, không nghe được. Giờ đây được Thị Nở làm cho tâm hồn hắn sáng tỏ, thì những âm
thanh ấy bỗng vọng sâu vào trái tim hắn như tiếng gọi tha thiết của sự sống.
Cùng với sự cảm nhận bức tranh cuộc sống xung quanh, Chí Phèo cũng đã cảm nhận được một cách
thấm thía về tình trạng thê thảm của bản thân mình (già nua, cô độc, trắng tay).
Đoạn đối thoại của hai người đàn bà đã gợi nhắc cho hắn mơ ước về một gia đình hạnh phúc, bình dị.
Nhưng giờ đây, Chí chỉ thấy một thực tại buồn bã, cô đơn: “Chí Phèo dường như đã trông thấy trước
tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc, điều này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”.
b. Sau khi tỉnh rượu, Chí Phèo tỉnh ngộ và hi vọng. Chí Phèo ăn bát cháo hành được trao từ bàn tay
ấm nóng đầy tình thương của Thị Nở, hắn vô cùng cảm động và thực sự phục sinh tâm hồn. Hắn “rất
ngạc nhiên”, “mắt hắn hình như ươn ướt”, bởi vì “đây là lần thứ nhất hán được người ta cho cái gì”.
Hắn nhận ra “Trời ơi, chào mới thơm làm sao!”. Hương vị của bát chào hành hay hương vị của tình
yêu chân thành và cảm động, hạnh phúc giản dị và thấm thía lần đầut tiên Chí Phèo được hưởng đã
đánh thức nhân tính vùi dập bấy lâu?
“Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho
hắn”, mọi người sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng của những con người lương thiện. Chúng
sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi. Chúng nhất định sẽ lấy nhau. Câu trả lời của Thị Nở lúc này sẽ
quyết định số phận của Chí: được kết nạp lại xã hội loài người hay vĩnh viễn bị đày đọa trong kiếp
sống thú vật?
Chí Phèo hồi hộp hi vọng. Nhưng cánh của hi vọng vừa hé mở thì đã bị đóng sầm ngay lại. Vì bà cô
không cho Thị Nở “đâm đầu” đi lấy “thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”.
Chí Phèo nghĩ ngợi một lát rồi bỗng nhiên “ngẩn người”. Hắn “sửng sốt”. Hắn lôi rượu ra uống.

- Đoạn kết (Xem đáp án câu III.b. Khối D- 2012- Câu 5 điểm)
5. Dạng đề liên kết
- Tưởng tượng của anh/chị về cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Lão Hạc ở thế giới bên kia…
- Cảm nhận về của anh/chị tiếng chim hót trong Chí Phèo và tiếng còi tàu trong Hai đứa trẻ.
- Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí
Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ
(Đời Thừa – Nam Cao). (Xem đáp án câu III.b. Khối D- 2010- Câu 5 điểm)
- Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh: Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một
cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết
thúc bằng hình ảnh: Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…Cảm nhận
của anh/ chị về ý nghĩa của những kết thúc trên. (Xem đáp án câu III.b. Khối D- 2012- Câu 5 điểm)
- Qua một nhận định, bày tỏ ý kiến về tình cảm của nhà văn thể hiện trong tác phẩm Chí Phèo và Đời
thừa. (Xem phần cô chữa trong Đời thừa)
6. Dạng đề mới: (hai vấn đề trong một tác phẩm)
- Trong tác phẩm, Nam Cao miêu tả Thị Nở là kẻ đần, dở hơi, ngẩn ngơ, xấu xí, ế chồng, nhưng có
nhà phê bình lại chứng minh được rằng, đó là người thông minh nhân hậu nhất làng Vũ Đại.
Ý kiến của anh, chị?
- Sự đối sánh giữa các nhân vật bà cô thị Nở – thị Nở – bà ba Bá Kiến
- Sự đối sánh giữa bát cháo hành và bữa cơm rượu nhà Bá Kiến (liên hệ bát cháo cám trong Vợ nhặt
của Kim Lân).
- “Chí Phèo giãy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi, miệng hắn ngáp ngáp như còn muốn nói
điều gì”. Cảm nhận của anh/chị về những điều Chí Phèo muốn nói?
- Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người hay tự cự tuyệt quyền làm người?
- Có người cho rằng, Chí Phèo là gã mất trí, suốt ngày say xỉn. Cũng lại có ý kiến cho rằng đó là đầu
óc sáng sủa nhất của làng Vũ Đại. Ý kiến của anh/chị?
(Gợi ý: Sự độc đáo của hình tượng Chí Phèo chính là ở trạng thái say tỉnh bất phân:
+ Tiếng chửi: say-tỉnh
+ Quan hệ với hai người đàn bà
+ Cơn say cuối cùng của đời mình, ý thức đươc nỗi đau, Ai cho tao…Sáng suốt nhất khi nhận ra
bi kịch đời mình là do đâu, điều mà dân làng Vũ Đại xôn xao không nhìn thấy: khi xã hội còn

3. Ẩn sau tất cả số phận ấy là tình yêu thương trìu mến của Nam Cao.
B. Cảm nhận của bản thân:
+ Đề tài
+ Cách khai thác đề tài
+ Những biểu hiện khác nhau của sự tha hóa.
+ Điển hình cho người nông dân bị tha hóa là Chí Phèo. Qua sự miêu tả cuộc đời Chí Phèo, Nam
Cao phát hiện ra sự quan tâm chân thành của con người, những giây phút thăng hoa trong cuộc sống
có sức cảm hóa mạnh mẽ làm thức tỉnh phần thiện, con người bị tha hóa vũng vẫy quyết liệt và có sự
lựa chọn đứng đắn hướng đi cho mình một cách dũng cảm cũng như sự hướng thiện không lời của
tình yêu thương.
+ Trên tất cả là tấm lòng của Nam Cao với cuộc đời. Tấm lòng ấy thổi vào tác phẩm niềm tin về
những con người biết hướng mình đến những điều tốt đẹp. Tấm lòng ấy dẫn đường cho nhà văn lựa
chọn cách thể hiện hữu hiệu nhất, phát huy tối đa tài năng văn chương sẵn có.
MOON.V N

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN (TIẾT 1)
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Nguyễn Tuân (1910 – 1987), Quê ở ngoại thành Hà Nội (Làng Mọc, xã Nhân Chính, Từ
Liêm ngày nay) ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho.
- Nguyễn Tuân là một nhà văn có tính tài hoa và cái giọng khinh bạc đệ nhất trong giới Việt
Nam hiện đại (Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại). Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân đã diễn ra
theo hai giai đoạn:
+ Trước Cách mạng tháng Tám: Nguyễn Tuân là nhà văn “xê dịch” luôn “Thiếu quê hương”
và ngày càng u uất, bế tắc. Sau cách mạng: Nguyễn Tuân quyết lột xác rời bỏ những căn bệnh nặng

hướng này, QN là kẻ tầm thường. Vì ông ta không dám thuỷ chung với những gì mình cho là cao
quí, sẵn sàng phản bội lại những gì mình tôn thờ. Và câu chuyện sẽ là khúc bi ca hoặc trang phẫn nộ
về thực tại, rằng : thực tại này chỉ là chỗ cho sự tầm thường ngự trị thôi ! Hai là, nếu trọn đạo tri kỉ,
thì phải phớt lờ chức phận quan lại. Hành động theo hướng này, QN là người cao quí. Vì thuỷ chung
với những giá trị cao quí mình tôn thờ, ông ta đã dám bất chấp sự thiệt thòi về quyền lợi lẫn sự an
nguy đến tính mệnh. Và câu chuyện sẽ là khúc ca ca ngợi chiến thắng của cái đẹp.
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Cuộc đối mặt ngang trái. Nhìn phía này, đó là cuộc giáp mặt giữa hai loại tù nhân. Huấn Cao là
tử tù. Còn Quản ngục là kẻ bị tù chung thân. Ông ta bị cầm tù chính trong môi trường sống của mình.
Người này bị cầm tù về nhân thân nhưng luôn tự do về nhân cách, còn người kia tự do về nhân thân
nhưng lại bị cầm tù về nhân cách.
1.3.2. Diễn biến của tình huống. Có sự chuyển biến trong quan hệ giữa Huấn Cao và Quản
ngục : quan hệ có phần đối địch nhường chỗ cho quan hệ tri kỉ hoàn toàn. Nhìn trong mạch truyện
thì diễn biến này gắn liền với hai phiến trát mà Quản ngục phải tiếp nhận. Trước tiên là chuyển biến
trong thái độ, về sau là trong hành động.
- Ban đầu, Quản ngục vẫn có một tấm lòng, nhưng Huấn Cao chưa biết. Thái độ của Huấn
Cao dành cho Quản ngục là khinh bỉ không cần giấu diếm, vì bấy giờ ông mới chỉ coi Quản ngục là
một kẻ tiểu nhân làm nghề thất đức. Thái độ đối địch của Huấn Cao đã tạo ra một vực sâu ngăn cách
giữa họ.
- Về sau, quan hệ đã hoàn toàn biến đổi. Nhận được phiến trát thứ hai, Quản ngục đã choáng
váng. Tình thế ấy buộc Quản ngục phải hành động gấp. Tâm nguyện lớn đã khiến Quản ngục bất
chấp mối nghi ngại vây khốn bao năm, không còn nghĩ đến tự vệ, giữ thân như trước nữa. Tấm lòng
thuần khiết của Quản ngục đã xoá bỏ hoàn toàn vực sâu ngăn cách giữa hai nhân cách. Quan hệ có
phần đối địch đã nhường chỗ cho một quan hệ tri kỉ hoàn toàn. Quản ngục cúi đầu trước Huấn Cao,
mà Huấn Cao cũng cúi đầu trước Quản ngục. Cả hai đều cúi đầu trước những vẻ đẹp cao quí mà

công, phải nhẫn nhục mà cũng phải liều mạng. Bởi vì biệt đãi Huấn Cao một kẻ tử tù là việc làm
nguy hiểm có khi phải trả giá bằng tính mạng của mình.
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- Ở đây, tài viết chữ của Huấn Cao được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết. Ngay từ đầu truyện,
khi Huấn Cao chưa xuất hiện, tài năng của ông đã được nói tới một cách kính nể qua cuộc nói
chuyện giữa Quản ngục và thơ lại: có phải ông Huấn nổi tiếng với cái tài viết chữ nhanh và đẹp đó
không? Có nghĩa là chỉ cần nhắc đến cái tên đó thôi là đủ làm sống dậy cả một vùng tâm thức. Dùng
bóng chữ để nói tài năng. Đạt được đến mức độ ấy, nét chữ ấy dứt khoát không phải sản phẩm của
sự khéo tay thạo nghề của một người thợ. Mà mỗi lần đặt bút phải là một lần tài hoa sáng tạo, mỗi
nét bút phải là sự kết tụ của tài năng nghệ sĩ, những con chữ không chỉ là chữ mà như một sinh thể
nghệ thuật được lưu truyền trong hậu thế, danh tiếng bay tới tận nơi nhà giam hẻo lánh tỉnh Sơn.
Ngay cả viên quan quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết.
+ Tài năng ấy được thể hiện qua thái độ sùng kính của Quản ngục. Nhắc đến con chữ ông
Huấn, Quản ngục như vẫn còn xúc động buông lời thán phục: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông
lắm (…) có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một báu vật trên đời”. Cho nên, từ khi mới biết
đọc vỡ nghĩa sách Thánh hiền, Quản ngục đă mơ có ngày xin được chữ ông Huấn“Sở nguyện của
viên quan cai ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do ông Huấn Cao
viết”. Sau này dù có lăn lóc trong cái nghề coi ngục, hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với những tṛ
tiểu nhân, lũ cặn bă, nhưng ước nguyện cao quý ấy không nhạt phai. Với Quản ngục, có được chữ
của ông Huấn treo trong nhà coi như có một báu vật. Gặp Huấn Cao, có lúc Quản ngục như quên hết
bổn phận chức trách, chỉ đau đáu một sở nguyện xin chữ- thậm chí, sẵn sàng đánh cược cả tính
mạng, đánh đổi cả sĩ diện để có được chữ Huấn Cao. Để có được chữ ông Huấn Cao, viên quản ngục
không những phải dụng công, phải nhẫn nhục mà cũng phải liều mạng.
+ Sự tài hoa thể hiện rực rỡ trong cảnh cho chữ. Giữa không gian khói tỏa như đám cháy, một
người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ...Không phải những nét chữ thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status