Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn 2016 cực hay (Phần 4: Kịch - nghị luận - chính luận giai đoạn 1930 - 1945) - Pdf 34

1


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA - HOÀI THANH (tiết 1)

Lời vào bài: Có thể trước khi đến với bài học ngày hôm nay, cái tên Hoài Thanh đối với nhiều em đã
rất quen thuộc. Học văn, có lẽ ai cũng có trong hành trang của mình những lời bình duyên dáng của
ông. Ví như với câu thơ của Xuân Diệu:
Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang, nắng trở chiều
ông viết: “... cảnh như muốn theo lời thơ mà tan ra. Câu thơ chỉ mất đi một tí rõ ràng để được
thêm rất nhiều thơ mộng...”.
Khó có thể kể hết được những lời bình hay của Hoài Thanh mà chúng ta đã được thưởng thức
trong hành trình đi tìm kiếm vẻ đẹp của văn chương. Trong khuôn khổ giờ học hôm nay, chúng ta
cùng đến với một tiểu luận của ông. Từ đó, các em có thể hình dung phần nào diện mạo, dáng hình
của nhà phê bình nổi tiếng này.
Tiểu luận có nhan đề là:
Một thời đại trong thi ca
(Trích)
Hoài Thanh
Có những nhà văn đa tài, sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhưng với Hoài Thanh, trước
sau ông chỉ đi về trên một thể loại: phê bình văn học. Mà chức năng của văn phê bình là thẩm
bình, đánh giá và lý giải về các hiện tượng văn học. Đặc điểm cơ bản nhất: là một dạng văn nghị
luận, đối tượng là sản phẩm nghệ thuật. Do đó, văn phê bình vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ
thuật.
Đọc – hiểu một tác phẩm phê bình, chúng ta phải rất chú ý đến đặc điểm này.
I.
Tìm hiểu chung
1) Tác giả (1909 -1982)

+ Phần 1: Nguyên tắc để xác định Tinh thần thơ mới
+ Phần 2: Thâu tóm Tinh thần thơ mới trong khuôn khổ “chữ tôi” và sự vận động của thơ mới
xung quanh cái “tôi” và bi kịch của nó
Có thể nói, thơ mới là một hiện tượng hấp dẫn nhưng phức tạp. Đánh giá về nó đã có bao
công trình đồ sộ, công phu, nhưng cho đến nay chưa có ai vượt được Hoài Thanh về sự khúc
chiết, giản dị mà tinh tế, tài hoa. Để hiểu rõ hơn, chúng ta đi vào đọc hiểu văn bản cụ thể .
II.
Đọc – hiểu văn bản:
Đứng trước một văn bản nghị luận nói chung, chúng ta có thể tìm hiểu theo hai cách:
+ Theo mạch lập luận của tác giả (lối cắt ngang)
+ Theo đặc trưng của thể loại văn nghị luận: cách lập luận, hệ thống luận điểm, luận cứ, luận
chứng (lối bổ dọc). Ở đây, chúng ta chọn cách tìm hiểu theo mạch lập luận của tác giả để dễ theo
dõi.
1. Nguyên tắc để xác định Tinh thần thơ mới
- Mục đích của việc nêu lên nguyên tắc này là Để giới hạn và thống nhất về đối tượng phê bình.
- Việc này rất cần thiết. Nếu không giới hạn và thống nhất được đối tượng phê bình, có thể sẽ có
hiện tượng:
+ Người bênh thơ cũ: chỉ đề cập đến tinh hoa của mấy nghìn năm văn học
+ Người bênh thơ mới: chỉ nhắc đến những bài thơ Đường luật vô vị, nhạt nhẽo, “những cặn
bã của một lối thơ đã đến lúc tàn”.
* Như thế, cuộc tranh luận sẽ thiếu tính khoa học và không đi đến đâu cả. Vậy đây là công việc
rất cần thiết và quan trọng, là nền tảng khoa học cho tác phẩm.
Nhà phê bình không nêu lên nguyên tắc ngay. Ông đã trình bày theo trật tự:
- Bắt đầu từ việc trích dẫn thơ.
+ Hai câu của Xuân Diệu: nặng tính ước lệ, cổ điển
+ Hai câu của một nhà thơ cũ nổi tiếng: giọng điệu trẻ trung, hiện đại.
- Tiếp theo là quá trình lập luận:
+ Mỗi nhà thơ nổi danh đều có thể có những câu thơ hay nhưng không tiêu biểu
+ Mỗi thời đại đều có những bài thơ dở, những tác giả kém cỏi, bất tài
+ Đã không tiêu biểu thì không thể đại diện cho thời đại, đã tầm thường, lố lăng thì

- Cách khẳng định vấn đề: hai cách: Hoặc là chứng minh cái tôi chỉ có ở thơ nay. Hoặc chứng minh
cái tôi không có ở thơ xưa. Tác giả đã chọn cách thứ hai.
+ Trên đại thể: Xã hội Việt Nam xưa không có cái tôi. Cá nhân, bản sắc cá nhân chìm đắm trong
gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả. Cách nói giàu hình ảnh, giúp người đọc
hình dung ý thức cá nhân trong thơ xưa mờ nhạt như thế nào.
+ Cá biệt: Vẫn có những bậc kỳ tài ghi hình ảnh của họ vào trong thơ. Nhưng đó không phải là
cái tôi với ý nghĩa tuyệt đối của nó.
- Giọng điệu tranh biện như đang đối thoại cùng người đọc, lôi kéo sự nhập cuộc của họ. Cách dùng
từ xưng hô đặc biệt: dùng từ “họ” để chỉ những bậc kỳ tài của thơ cũ. Từ họ được lặp lại với mật độ
dày đặc (10 lần trên 9 dòng văn) không chỉ là đại từ thay thế, tạo tính liên kết mà còn phản ánh sự
khác biệt cũng như khoảng cách giữa người thời đại sau (nhà phê bình) với người thời đại trước (các
thi nhân thơ cũ). Hệ thống ngôn từ có tính chất biểu cảm, chứa đựng một cách nhìn chưa từng có về
những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.... Cũng như hầu hết
mọi người, nhà phê bình nhìn về họ với đôi mắt kính nể (vì tài năng của họ), nhưng khác mọi người,
ông còn nhìn họ với đôi mắt thương cảm (vì sự nhút nhát của họ). Đây không phải là thái độ phạm
thượng, vì bao bọc câu chữ là niềm cảm thông sâu xa với những bậc kỳ tài đã nhìn thấy giới hạn
của thời đại, đã cố gắng vượt qua nhưng không thể có sự vươn mình trọn vẹn.
Nhận xét:
Với lập luận chặt chẽ, sắc sảo, cách nói giàu hình ảnh, cảm xúc, giọng điệu tranh biện sôi nổi mà tha
thiết, ngôn từ gần với cách nói hàng ngày, giản dị, hóm hỉnh mà chứa đựng một trí tuệ sáng suốt, một
học vấn uyên bác, một tâm hồn giàu rung cảm, đây là áng văn vừa có tính khoa học, vừa mang tính
nghệ thuật. Phẩm chất khoa học bộc lộ ở những luận điểm mới mẻ, sâu sắc, phản ánh được bản chất
của sự vật, được luận giải một cách chặt chẽ khúc chiết, có tính thuyết phục cao. Còn phẩm chất
nghệ thuật được bộc lộ ở những cảm xúc thẩm mĩ tinh tế, hoá thân thành giọng điệu riêng của tác
giả, thành hình ảnh diễn đạt, thành lối dẫn dắt, thành thứ ngôn ngữ vừa chính xác, hàm súc vừa uyển
chuyển gợi cảm. Cả hai bình diện khoa học và nghệ thuật cùng hoà hợp với nhau nhuần nhuyễn và
sống động. Không phải ngòi bút phê bình nào cũng đạt được sự nhuần nhuyễn như vậy.
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98

bằng đôi mắt thương cảm và có sự đồng cảm.
Nhà phê bình đã giúp chúng ta hình dung về chữ tôi trong thơ mới như bằng lối nói hình tượng đặc
sắc: chữ tôi như một con người có diện mạo, cảnh ngộ, số phận, cũng phải chịu áp lực của dư luận
như một con người. Nhưng bi kịch của nó không chỉ là thế. Thậm chí, ngay cả khi thái độ của mọi
người đã thân thiện hơn, bi kịch của nó cũng không vì thế mà giảm bớt.
2.3. Bi kịch của cái tôi: đáng thương, tội nghiệp.
- Đáng thương vì nó nhỏ bé và cô đơn. Tội nghiệp vì nó mang thể trạng yếu đuối và có cuộc sống
bế tắc. Những câu văn sau đây có thể giúp ta hình dung về điều đó:
- Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi.
Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi.
Chữ ta với họ to rộng quá.
So sánh mang tính hình tượng, trong sự đối lập chữ tôi với chữ ta để thấy vóc hình nhỏ bé, lại bị
ràng buộc chật chội nên tù túng, bế tắc. Phải chăng, đó cũng là một thứ giường chiếu hẹp của
những cuộc đời con mà ta được gợi liên tưởng từ đoạn thơ của nhà thơ Chế Lan Viên:
“...Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn...”
- Vẻ tội nghiệp của cái tôi còn được gợi ra qua so sánh: cùng viết về cái nghèo, nếu Nguyễn Công
Trứ cười cợt với cảnh nghèo, Xuân Diệu lại rên rỉ khóc than. Qua đó, có thể thấy thi nhân ta cơ hồ đã
mất hết cốt cách hiên ngang thuở trước; họ yếu đuối đến khổ sở, thảm hại. Đến đây, ta chợt nhớ đến
những lời tự bạch, tự thương của những cái tôi trong thơ mới: họ thấy mình như con nai bị chiều
đánh lưới, không biết đi đâu đứng sầu bóng tối; họ thấy mình như ở giữa tinh cầu giá lạnh; một vì
sao trơ trọi cuối trời xa; thấy mình là hoa trong rừng thẳm nở trong vô tình; mình khờ khạo lắm ngu

khai thành hai phần chính: một là, khái quát về hướng tìm tòi và hệ quả chung; hai là, điểm qua
những gương mặt điển hình cùng những lãnh địa cá nhân điển hình của Thơ mới để thấy được sự
phân hoá đa dạng cùng sự quẩn quanh bế tắc của ý thức cá nhân.
+ Về văn phong: có dạng ngôn từ phi khái niệm (không phải là những khái niệm trừu tượng) dung dị
dễ hiểu mà vẫn súc tích, diễn đạt được bản chất của đối tượng.
+ Cách cấu tứ: tạo ra hình ảnh một độc giả cứ theo chân của những nhà thơ tiêu biểu bước vào cõi
thơ riêng của mỗi vị.
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Đặc biệt, nhịp điệu của đoạn văn hết sức dồi dào. Những câu văn dài, gồm nhiều vế nhịp nhàng, có
sự đắp đổi luân phiên về bằng trắc, tạo giọng điệu du dương, tha thiết như tác giả đang nói về chính
mình. Hệ thống các vế câu có cùng cấu trúc ngữ pháp, với chủ thể được lặp lại liên tiếp, kết hợp hệ
thống cụm từ chỉ cảm xúc, cảm giác, tâm trạng..., diễn tả sự khao khát, đắm say dạt dào của chủ thể
sáng tạo trong nỗ lực tự giải thoát và của nhà phê bình trong sự nhập cuộc. Hệ thống từ ngữ giàu
hình ảnh, kết hợp với một loạt tên tuổi các thi nhân thơ mới đã diễn tả hàm súc, chính xác sự phân
hoá của thơ mới gắn với những phong cách và tên tuổi tiêu biểu. Nhà nghiên cứu phê bình Lê Bá Hán
có nhận xét : “Anh có thể nắm bắt bén nhạy cái “thần” của một tác giả, khái quát được khá tập trung
phần tinh túy nhất của một hồn thơ. Có khi, chỉ với vài từ hoặc một câu ngắn gọn, Hoài Thanh đã diễn
đạt được cái cốt cách của một “nhà”.
- Đây quả là những câu văn đầy chất trí tuệ và cảm xúc. Nhạc tính của nó không chỉ ở sự du dương
trầm bổng của âm điệu mà còn ở sự sôi nổi tha thiết của tâm hồn. Những câu văn được chia thành
nhiều vế đối thanh, đối ý, đối lời, đối nhịp, tạo nên tầng tầng lớp lớp những hình ảnh “lời lời châu
ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Cảm xúc cứ căng tràn để rồi lại chùng xuống thẫn thờ ở câu cuối đoạn.
Đây là đoạn văn thể hiện rõ nhất chất thơ trong văn phê bình của Hoài Thanh. Nó đã giúp người đọc
cùng đồng cảm, thương cảm cho bi kịch của cái Tôi thơ mới.
- Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra điểm thiếu hụt trong ý thức của cái Tôi. “Thời trước, dầu bị oan



KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Lời văn giàu hình ảnh: những khái niệm được diễn đạt bằng hình ảnh dễ hiểu. Ở người nghệ sĩ
Hoài Thanh, sự tinh tế, sâu sắc trong phong cách phê bình lại được chắp cánh bởi tư duy hình tượng,
bởi những liên tưởng sinh động. Có cảm giác trong tay ông, cây đũa thần – phê bình chạm tới đâu là
ở đấy tất cả sống dậy, có hồn, khơi gợi tưởng tượng và cảm xúc. Một khái niệm trừu tượng như thơ
ca, dưới ngòi bút Hoài Thanh cũng trở nên sống động: “thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi
mộng, mặt đất với các vì sao”.
+ Lời văn giàu nhịp điệu, cách ngắt nhịp câu tạo nên sự cân xứng, nhịp nhàng.
III. Kết luận
- “Một thời đại trong thi ca” là cuốn sách góp phần quyết định tạo nên tên tuổi Hoài Thanh. Nếu
những bài thẩm bình của Hoài Thanh với từng nhà thơ được coi là những bài thơ thì bài tổng kết
phong trào Thơ Mới mang tên Một thời đại trong thi ca thực sự là một bản trường ca, “khúc tuyệt
xướng” về Thơ Mới. “Đọc Thi nhân Việt Nam, trước hết ta gặp một nhà thơ ở giữa các nhà thơ”
(Hoàng Trinh). Hoài Thanh đã xây nên “lâu đài kiến trúc hài hòa, đầy chất thơ” (Đỗ Đức Hiểu). Thi
nhân Việt Nam là “một công trình của thế kỉ” (Nguyễn Văn Hạnh). “Rồi người đời sẽ quên dần và
quên hết các chức tước, các trọng trách mà ông giữ, để chỉ còn và còn mãi mãi tác giả Thi nhân Việt
Nam (Phong Lê). Vâng, chỉ qua phần hướng dẫn đọc hiểu phần cuối bài tiểu luận này thôi, phần nào
ta đã thấy được quan niệm đúng đắn của tác giả trong việc định nghĩa Thơ mới xung quanh vấn đề
cốt yếu là tinh thần Thơ mới, cách luận giải sắc sảo, cách diễn đạt tài hoa, hóm hỉnh, đầy sức thuyết
phục của tác giả.

MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI


nương theo mạch liên kết của cảm xúc thẩm mĩ. Có thể tìm hiểu cách chuyển từ những ý lớn sang ý
lớn, và từ những ý nhỏ sang ý nhỏ, với hệ thống các phương tiện liên kết biến hoá mà tự nhiên như
thế nào.
- Diễn đạt bằng hình ảnh, bằng thứ ngôn ngữ ít mang tính khái niệm, bằng ấn tượng với cảm giác,
cảm xúc rất tinh tế uyển chuyển.
Câu hỏi 2.
Tinh thần Thơ mới là chữ "Tôi", tinh thần thơ xưa là chữ "Ta". Vậy, nội dung của chữ Tôi và
chữ Ta là gì?
- Nội dung của chữ "Tôi" là ý thức cá nhân cá thể trong đời sống tinh thần con người.
- Nội dung của chữ "Ta" là phần ý thức cộng đồng (chữ dùng của Hoài Thanh là "đoàn thể") trong
đời sống tinh thần của con người
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- Hai ý thức này là hai tiếng nói tồn tại trong mỗi người. Ở thời trước, cái Ta lấn át hoàn toàn, cái
Tôi không có cơ để nảy nở. Còn thời đại này, cái Tôi trỗi dậy giành quyền sống. Phong trào Thơ mới
nảy sinh từ sự trỗi dậy của cái Tôi đó.
Câu hỏi 3.
Hãy phân tích để làm nổi bật những đặc sắc trong đoạn văn:
"Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng
lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên
cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép,
tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng
Huy Cận" .
- Đặc sắc của đoạn này là những khái quát chính xác, súc tích, lại được viết bằng một lối văn giàu
nhịp điệu khiến cho văn phê bình mang đậm chất thơ.
- Có thể phân tích trên hai bình diện :

11, chương trình Nâng cao) Anh chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Dựa vào một số bài thơ mới
đã học, hãy làm rõ nhận định trên.
1. Giải thích nhận định:
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
Thơ Mới khác biệt thơ cũ ở phần xác (hình thức): phá bỏ ước lệ, khuôn mẫu gò bó cứng nhắc
trong thơ xưa để thể hiện mọi cảm xúc, biến thái tinh vi phức tạp nhất của tâm hồn.
Điều quan trọng hơn là ở phần hồn (nội dung)- tinh thần Thơ mới “ngày trước là chữ ta, bây
giờ là chữ tôi”.
+ Con người cá nhân trong thơ xưa phải ẩn mình sau cái Ta của cộng đồng, có những tài năng muốn
vượt thoát…nhưng chưa bao giờ dám phô diễn cái tôi.
+ Đến thời hiện đại, cùng với sự chuyển mình của ý thức xã hội, ý thức cá nhân bùng phát mạnh mẽ
thành nguồn cảm hứng chủ đạo.
+ Cái tôi trong thơ thể hiện rất phong phú trên thi đàn, nhưng chung quy nó là cái tôi nhìn đời bằng
cặp mắt tươi trẻ xanh non và cái tôi cô đơn trước vũ trụ, cuộc sống.
+ Nhận định này rất đúng với các nhà thơ mới. Nhưng cũng cần thấy sự phân cực không phải bao giờ
cũng rõ ràng, ở một số nhà thơ có sự kết hợp.
2. Phân tích, chứng minh:
A. Cái tôi nhìn đời bằng cặp mắt tươi trẻ xanh non
- Với cái tôi nhìn đời bằng cặp mắt tươi trẻ xanh non nên Xuân Diệu mới thấy:
+ Phát hiện ra bức tranh trần thế là một mâm cỗ thịnh soạn với vô số thực đơn: gần gũi thân quen
như nắng gió hoa lá…tràn đầy sức sống, tươi đẹp, đầy niềm vui như đồng nội xanh rì, cảnh tơ phơ
phất, thần vui gõ ửa…tình tứ quyến rũ như ong bướm, tuần tháng mật, cặp môi gần…
+ Thay đổi cách nhìn về chuẩn mực cái đẹp (nhìn qua lăng kính tình yêu)
+ Bộc lộ những ham muốn khác thường đoạt quyền tạo hóa…
+ Cảm nhận thế giới bằng mọi giác quan…


MỞ: Việt Nam, dải đất mảnh mai gầy guộc nằm bên bờ biển Đông suốt lịch sử 4000 năm luôn
phải gồng mình lên để sớm chắn bão giông chiều ngăn nắng lửa; gần hai ngàn năm phải chống ngoại
bang xâm lược, đô hộ, đồng hoá; độc lập, tự do cho dân tộc, chủ quyền quốc gia đã trở thành lẽ sống
còn truyền từ đời này sang đời khác. Hơn 1000 năm trước, khi quân xâm lược Tống (Trung Quốc)
kéo sang giày xéo bờ cõi, chúng ta đã tuyên bố "Sông núi nước Nam vua Nam ở ". Hơn năm trăm
năm sau, sau thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ nhà Minh, trong bài Cáo
bình Ngô, chúng ta lại một lần nữa tuyên bố nền độc lập trong không khí hào sảng: "Như nước Đại
Việt ta ... hùng cứ một phương ". Vẫn với một tinh thần ấy và hơn cả như thế, Tuyên ngôn độc lập
của Bác đã trở thành đỉnh mốc đánh dấu bước phát triển lớn nhất trong lịch sử phát triển quốc gia
dân tộc.
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
2. Tác phẩm
2.1. Hoàn cảnh ra đời của bản tuyên ngôn
- Ngày 19/8/45 chính quyền về tay nhân dân.
- Ngày 26/8 tại Hàng Ngang – Hà Nội người soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập.
- Ngày 2/9/45 tại quảng trường Ba Đình, người thay mặt chính phủ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai
sinh ra nước VNDCCH.
2.2. Đối tượng và mục đích sáng tác của bản tuyên ngôn
MO O N.VN

. Đối tượng:
+ Tuyên ngôn độc lập huớng tới không chỉ đồng bào trong cả nuớc.
+ Nhân dân trên thế giới, trước hết là nhân dân tiến bộ ở Pháp và Mỹ.
+ Đặc biệt là các lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm một lần nữa nô dịch đất
nước ta.
Mục đích:
+ Khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam.
+ Bao hàm một cuộc tranh luận ngầm nhằm bác bỏ luận điệu xảo trá của kẻ thù truớc dư luận thế

- Đoạn 3: Còn lại: Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn
- Bác dẫn hai bản tuyên ngôn: Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ (1776); Tuyên ngôn Nhân quyền và
Dân quyền của cách mạng Pháp (1791) -> Hai bản tuyên ngôn được cả thế giới thừa nhận nội dung
phù hợp với mơ ước và quyền lợi của con người. Đó là chân lí không ai có thể chối cãi. Việc trích
dẫn ấy có giá trị sâu sắc. Bác tỏ ra trân trọng những danh ngôn bất hủ để chặn đứng âm mưu trở lại
xâm lược nước ta của thực dân Pháp.
- Người trích dẫn lời bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ: “Tất cả mọi người…hạnh phúc”. Bác rất
linh hoạt khi kết hợp với ý kiến của mình “suy rộng ra câu ấy có nghĩa là” từ khẳng định quyền
con người, Bác đã chuyển nhanh sang quyền của các dân tộc “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh
ra bình đẳng, daâ tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
- Người trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: “Người ta sinh
ra….quyền lợi”. Người khẳng định: “ đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được”. Bác xoáy sâu vào
quyền bình đẳng mọi mặt của con người. Con người hiểu theo nghĩa không phân biệt chủng tộc,
màu da, tổ quốc. Con người nhân loại . Vậy có lí do gì Pháp xâm lược Việt Nam?
- Bác dẫn lời cha ông họ. Ông cha họ đã từng khẳng định, từng tuyên ngôn hùng hồn đanh thép. Có
lẽ nào chúng lại vô tình đi ngược lại và phản bội lời lẽ của ông cha chúng? Đây chính là phương
pháp luận của Bác, là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” khôn khéo và tế nhị.
MO O N.VN

Lời văn: Phần mở đầu bản tuyên ngôn có giá trị nổi bật về tư tưởng và nghệ thuật lập luận, tiêu biểu
cho phong cách chính luận HCM. Tác giả đã khẳng định độc lập dân tộc trên cơ sở những lí lẽ không
thể chối cãi.
- Ngay từ những dòng đầu tiên, Hồ Chí Minh nêu lên những chân lý vĩnh cửu về quyền tự do của
dân tộc, quyền sống của mỗi con người đã được thừa nhận qua nhiều thời kỳ lịch sử ở ngay chính
những quốc gia mà bấy giờ chính quyền của họ đang đi ngược lại nguyên tắc đó.
Bác đã dẫn lời hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Mỹ và của Pháp, chứa đựng những tư tưởng lớn, đã
được thừa nhận của nhân loại, để làm cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn của VN. Cách lập luận của
tác giả vừa khôn khéo vừa kiên quyết


@ Người đã thể hiện sự tôn trọng những danh ngôn bất hủ đã được cả thế giới thừa nhận, những
chân lý dù đó là của Mỹ hay của Pháp. Ở đây không hề có sự lầm lẫn giữa nhân dân Mỹ, dân tộc
Pháp với bọn xâm lược Mỹ, Pháp.
@ Từ quyền bình đẳng và tự do của con người mà tác giả suy rộng ra về quyền bình đẳng tự do của
các dân tộc trên thế giới. Đây là một cách vân dụng khéo léo và đầy sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo
tính chặt chẽ trong lập luận. Tư tưởng về ''Quyền của các dân tộc '' là một đóng góp lớn của TNĐL:
''cống hiến nổi tiếng của cụ HCM vào kho tàng tinh hoa tư tưởng nhân loại. Bởi vì tư tưởng này là sự
nâng cao giá trị, tầm vóc nhân bản của tư tưởng, của nguyên tắc về quyền của con người '' (Giáo sư
Singô Sibita). Nghĩa là con người phải biết vươn tới quyền lợi của cộng đồng. Mặt khác, tư tưởng
nguyên tắc ''Quyền của các dân tộc '' còn là cơ sở để nhân loại thấy rằng giai cấp tư sản trong khi nêu
cao nhân quyền, dân quyền lại mở rộng quyền xâm phạm tàn bạo, bóc lột dã man các dân tộc khác.
Đó là vô nhân đạo và phi nghĩa. Thế là từ phạm trù nhân quyền - nền móng tư tưởng của cách mạng
tư sản - Bác đã chuyển sang phạm trù chống thực dân - nền móng của phong trào giải phóng dân tộc,
phong trào rồi sẽ trở thành một trong ba dòng thác cách mạng trên thế giới. Chỉ trong một câu văn
ngắn gọn, ta vẫn nhận ra một Hồ Chí Minh như nguời giương cao bó đuốc sáng ngời của tư tưởng
giải phóng dân tộc.
@ Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn vừa nhằm đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân
đạo và văn minh của nhân loại, vừa tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu ở mệnh đề tiếp theo.

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Khôn khéo nhưng vẫn kiên quyết: Bác đã dùng lời lẽ bản tuyên ngôn của Mỹ, Pháp để phủ nhận
chính âm mưu xâm lược của hai cường quốc này. Qua thủ pháp nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”,
dường như tác giả đã ngầm cảnh cáo nếu Pháp xâm lược Việt Nam thì chính họ đã phản bội lại
truyền thống tốt đẹp của dân tộc họ đã đúc kết thành chân lý ghi trong bản tuyên ngôn. Họ sẽ vấy bẩn
lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà cha ông họ từng giương cao.
Kết tiết 1: Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của văn học yêu nước, đỉnh cao của văn chính luận.

+ Chúng kể công ''bảo hộ '' Việt Nam nhưng thực chất là chúng đã dâng Đông dương hai lần
cho Nhật .
+ Chúng kể công ''khai hoá'' Việt Nam nhưng thực chất là chúng bóc lột, áp bức đẩy dân tộc ta
tới nguy cơ diệt chủng trong nạn đói 1945 .
+ Chúng nhân danh Đồng minh trở lại Việt Nam >< thực chất chúng phản bội Đồng minh, đầu
hàng Nhật, khủng bố Việt minh là lực lượng đứng trong phe Đồng minh đánh Nhật .
+ Chúng nêu lên những ràng buộc về mặt pháp lí của Việt Nam với Pháp bởi những hiệp ước
này khác thì bản tuyên ngôn khẳng định từ 1940, Việt Nam là thuộc địa của Nhật và Việt minh đã
giành lại chủ quyền cho dân tộc mình từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Như thế mọi ràng
buộc có tính pháp lí trên đã bị huỷ bỏ .
-> Lời lẽ của Bác cụ thể, dẫn chứng rõ ràng, văn viết có hình ảnh (tắm các cuộc khởi nghĩa của ta
trong các biển máu), tác động mạnh mẽ tới người đọc, người nghe.
- Bác tuyên bố thoát li hẳn mọi quan hệ thực dân với Pháp.
+ Xoá bỏ mọi hiệp ước mà Pháp đã kí ở VN.
+ Khai sinh ra nước VNDCCH.
+ Thể hiện quyết tâm chống mọi âm mưu của thực dân Pháp.
+ Bày tỏ niềm tin với Đồng minh.
Lời văn:
MO O N.VN

Lòng yêu nước, nguyện vọng độc lập dân tộc của nhân dân ta đuợc khẳng định chắc chắn trên cơ sở
thực tiễn. Tác phẩm là cuộc tranh luận ngầm về chủ nhân đích thực của đất nước Việt Nam, phủ
nhận quyền của Pháp, khẳng định quyền tự do của Việt Nam.
Nghệ thuật lập luận trong cuộc “tranh luận ngầm” nhằm bác bỏ những luận địệu xảo trá của thực
dân, đế quốc đã được thể hiện sáng rõ:
a) Bản Tuyên ngôn đã dựng lên bản cáo trạng đanh thép về tội ác của thực dân Pháp.
+ Nếu Pháp nêu chiêu bài có công khai hoá đối với Việt Nam, Việt Nam vốn là thuộc địa của Pháp
thì bản Tuyên ngôn vạch rõ: Pháp chính là kẻ xâm lược, gây bao tội ác, và đã bán đứng Vn cho Nhật.
Bản Tuyên ngôn tố cáo một cách toàn diện tội ác này về chính trị, kinh tế.
Về chính trị: Chúng tuyệt đối không cho dân tộc ta chút quyền tự do dân chủ nào, chúng chia nuớc ta

chủ chốt của đồng minh, chống lại những điều ước cho những nước thắng trận có quyền thu lại
những mảnh đất cũ của mình.
- Một điều có tầm quan trọng sống còn đối với nền độc lập của đất nước như thế, không thể nào coi
nhẹ. Nên dù là Tuyên ngôn, Bác Hồ vẫn phải dụng công phân giải, bằng hàng loạt câu văn chia thành
các vế phân biệt với nhau, với sự nhấn rất mạnh trong ngữ điệu. Ví như:
“Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” đuợc ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nuớc ta
hai lần cho Nhật”.
MO O N.VN

“Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nuớc ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa
của Pháp nữa”.
“Sự thật là dân ta đã lấy lại nuớc Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”.
Đó là những câu văn mang ý nghĩa sinh tử trong một bản tuyên ngôn.
- Về nghệ thuật: Đoạn văn tố cáo tội ác thực dân Pháp là một điển hình mẫu mực về văn chương
chính luận. Những dẫn chứng đưa ra đều có sự chọn lọc. Đặc biệt lời văn vừa súc tích vừa truyền
cảm. Bác không viết “chúng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của ta một cách dã man” mà viết: “chúng
tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu”. Hành động đàn áp đã được diễn đạt bằng hình tuợng
“tắm”. Mức độ dã man đã được hình tượng hoá thành “bể máu”. Cách diễn đạt hình tượng này vừa
lột trần đuợc bộ mặt quỷ sứ khát máu nguời của bọn thực dân, vừa diễn tả được nỗi đau thê thảm của
nhân dân ta, những nguời dân vô tội đang quằn quại trong “vòng tử địa” (Đuờng Kách mệnh). Đúng
là tư tưởng chính trị đã đuợc thể hiện bằng một câu văn miêu tả tuyệt vời có sức lay động mạnh mẽ
cả nhận thức và tình cảm của người đọc.
3. Bản tuyên ngôn thể hiện quyết tâm lớn.
- Khép lại bản tuyên ngôn Bác trịnh trọng tuyên bố:
“ Nước VN có quyền …ấy”đoạn văn ngắn, lời gọn và ý sâu.
- Độc lập dân tộc còn đuợc khẳng định trên cơ sở thực tiễn về phía Việt Nam. Ở đây, Tuyên ngôn đã
khẳng định “Việt Nam có quyền và thực tế đã là một nước giành được tự do độc lập”.
+ Thực tế Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập bởi vì chính nhân dân Việt Nam chứ không phải
ai đã đứng về phe đồng minh chống phát xít: “Một dân tộc đã gan góc chống ách đô hộ của thực dân
Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít Nhật suốt mấy

“Chúng tôi tin rằng các nuớc Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các
Hội nghị Têhêrăng và Cựu kim sơn, quyết không thể công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
MO O N.VN

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng
về phe Đồng minh chống Phát xít mấy năm, dân tộc đó phải đuợc tự do! Dân tộc đó phải đuợc độc
lập!”
- Những câu văn được diễn đạt giống như định luật, định lí với đầy đủ giả thiết và kết luận. Một
cách đặt câu như thế giúp rất nhiều cho câu văn và cho sự lập luận trở nên đanh thép, hùng hồn,
không thể nào bác bỏ.

- Nếu cần phải tìm trong bản Tuyên ngôn này một câu văn chứa đựng đầy đủ hơn cả nội dung của
toàn tác phẩm thì cần phải chọn câu: “Nước Việt Nam có quyền huởng tự do và độc lập, và sự thật
đã thành một nước tự độc lập”.
- Như vậy, phần kết thúc bản tuyên ngôn, tác giả tiếp tục khẳng định lòng yêu nước, nguyện vọng
độc lập dân tộc của nhân dân ta vừa trên cơ sở công lý vừa trên cơ sở thực tiễn. Về mặt công lý, nếu
họ đã công nhận quyền độc lập dân tộc tự quyết tại hai hội nghị: Tê hê răng (1943) và Cựu Kim Sơn
(1945) thì họ nhất định sẽ phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta sẽ phát
huy truyền thống yêu nước bất khuất để giữ vững quyền tự do độc lập ấy: “Toàn thể dân tộc Việt
Nam… quyền tự do độc lập ấy”.
- Bản Tuyên ngôn đã kết thúc bằng câu văn khẳng định lòng yêu nước giống như một lời thề quyết
tử cho tổ quốc quyết sinh. Đặt trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập
là đỉnh cao của văn học yêu nước. Từ “Nam quốc sơn hà”, “Bình ngô đại cáo” đến Tuyên ngôn độc
lập là những chặng đường khác nhau của cùng một chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI


hành động Pháp đuợc dẫn ra tiếp theo sẽ trái hẳn lẽ phải và nhân đạo, chứng tỏ rằng chúng đã phản
bội chính ngay những điều đuợc nêu lên trong các bản Tuyên ngôn của chúng
+ Kết thúc phần II chuyển sang phần 3 tác giả sử dụng cụm liên từ “bởi thế cho nên” như để khẳng
định hai phần trên là nguyên nhân còn phần cuối là kết quả. Đã coi quyền tự do, bình đẳng giữa các
dân tộc là lẽ phải không thể chối cãi, đã coi việc chúng ta giành lại được đất nuớc từ tay Nhật chứ
không phải từ tay Pháp là thực tế không thể nào bác bỏ, thì việc chúng ta thoát li hẳn các mối quan
hệ thực dân với Pháp để trở thành một nước tự do độc lập phải là một sự đương nhiên, chính đại
quang minh như trời đất, sáng tỏ như nhật nguyệt. Rõ ràng, Tuyên ngôn độc lập là một chỉnh thể
thống nhất, với các yếu tố quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau. Cách lập luận của tác giả là dùng lời lẽ
của đối phuơng để bác bỏ đối phương và luôn có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
2.2. Giọng văn thay đổi linh hoạt phù hợp với đối tuợng và nội dung
- Nói với công luận quốc tế thì giọng văn uyên bác, thể hiện một trí tuệ sắc sảo, dẫn những lời tuyên
ngôn nổi tiếng làm cơ sở cho lập luận.
- Viết với đồng bào cả nước thì lời văn tình cảm thiết tha. Về điều này Chế Lan Viên đã nhận xét thật
chính xác: “Vì nói với đồng bào lời văn của bản Tuyên ngôn xiết bao xúc động…sau 13 chữ “quyền”
là 14 câu, câu nào cũng có chữ “chúng” mở đầu nặng như búa tạ: “Chúng tuyệt đối không cho”,
“chúng thi hành những luật pháp dã man”, “chúng cuớp không ruộng đất” và mỗi chữ chúng ấy

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
nhuư xiết xuống chữ “ta” làm xúc động lòng ngời: “chúng cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta,
tuyệt đối không cho nhân dân ta chút quyền tự do dân chủ nào”.
- Khi khẳng định độc lập, tự do thì lời văn trang trọng thiêng liêng. “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố”
- Khi tố cáo tội ác kẻ thù thì giọng văn bi thiết.
- Khi nêu cao truyền thống yêu nuớc thì giọng văn hào hùng sảng khoái.
2.3. Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm, truyền cảm. Vì là văn kiện chính trị nên mỗi chữ mỗi
lời cần phải chính xác tuyệt đối. Vì là tác phẩm văn học nên mỗi chữ mỗi lời lại có sức mạnh gợi
cảm truyền cảm lớn lao.

a, Hai đoạn trích trên thuộc tác phẩm nào? Vị trí của đoạn trích trong tác phẩm? Tác giả nào?
Tác phẩm được soạn thảo năm nào và được công bố ở đâu?
b, Hãy phân tích ngắn gọn nội dung, ý nghĩa và văn phong hai đoạn trích trên.
Gợi ý:
I. Hai đoạn trích trên trong tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”
- Đoạn trích thứ nhất là phần mở đầu tuyên ngôn, đoạn trích thứ hai là đoạn kết.
- Tác giả: Hồ Chí Minh.
- Tác phẩm được soạn thảo vào năm 1945, ở căn gác số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.
- Ngày 02/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ
lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng
bào.
II. Nội dung, ý nghĩa
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
1. Nội dung
- Khẳng định quyền con người (nhân quyền và dân quyền), quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự
do mưu cầu hạnh phúc.
- Quyền dân tộc, bình đẳng, quyền sống, quyền được sung sướng, quyền tự do, độc lập. Mở rộng
quyền con người thành quyền dân tộc, đây là sáng tạo, là cống hiến của Hồ Chí Minh.
- Với những trích dẫn hai câu nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, Hồ Chí Minh muốn
khẳng định chân lí lịch sử và niềm tự hào dân tộc, khẳng định tầm vóc thời đại của cuộc Cách mạng
tháng Tám.
- Khẳng định tinh thần đấu tranh anh dũng, gan góc và quyền được hưởng tự do, độc lập của dân tộc
Việt Nam.
2. Ý nghĩa: Vạch trần dã tâm của thực dân Pháp chà đạp lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái của Cách
mạng Pháp. Đề cao tư tưởng nhân đạo và tính pháp lí của văn kiện lịch sử, tranh thủ sự ủng hộ của

- Từ sự thật trên, Tuyên ngôn tiếp tục khẳng định về mặt pháp lí: "chúng tôi, Lâm thời Chính
phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân tộc Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực
dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc
quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.
- Vậy là Việt Nam "Sự thật đã thành một nước tự do, độc lập".
3. Tuyên ngôn khẳng định quyết tâm của dân tộc Việt Nam bảo vệ độc lập, tự do bằng mọi giá, bằng
tất cả tinh thần và lực lược, tính mạng và của cải của toàn dân tộc Việt Nam.
4. Tư tưởng lớn nổi bật lên ở đây: Việt Nam có quyền hưởng độc lập, tự do và sự thật đã trở thành
một nước tự do, độc lập. Vì vậy cả dân tộc quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
MO O N.VN

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
2- Tuyên ngôn độc lập - sự tiếp tục truyền thống và sự phát triển ở thời hiện đại
Chỉ ra sự tiếp nối giữa thơ Thần, Bình Ngô Đại Cáo và Tuyên ngôn độc lập ?
Với đất nước ta, một quốc gia dân tộc có lịch sử 4000 năm nhưng gần hai ngàn năm phải chống
ngoại bang xâm lược, đô hộ, đồng hoá để bảo vệ độc lập dân tộc chủ quyền quốc gia, đây không phải
là lần Tuyên ngôn độc lập thứ nhất.
Hơn 1000 năm trước, khi quân xâm lược Tống (Trung Quốc) kéo sang giày xéo bờ cõi, dưới dạng
một bài thơ, vẫn quen gọi là thơ Thần, chúng ta đã tuyên bố "Sông núi nước Nam vua Nam ở ". Hơn
năm trăm năm trước, sau thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ nhà Minh, cùng
phong kiến Trung Quốc trong bài Cáo bình Ngô, chúng ta lại một lần nữa tuyên bố nền độc lập trong
không khí hào sảng: "Như nước Đại Việt ta ... hùng cứ một phương ".
Và bây giờ là Tuyên ngôn độc lập vẫn với một tinh thần như vậy. Độc lập, tự do cho dân tộc chủ
quyền quốc gia đã trở thành lẽ sống còn, trước hết và trên hết mọi lẽ truyền từ đời này sang đời khác
của dân tộc chúng ta.
- Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử so với thơ Thần và Bình Ngô Đại Cáo, ta thấy rất rõ điều này: Tuyên
ngôn độc lập là đỉnh mốc cao nhất đánh dấu bước phát triển lớn lao nhất của lịch sử phát triển quốc

và quyết tâm bảo vệ quyền lợi ấy trước bất cứ thế lực ngoại xâm đô hộ nào. Nội dung tư tưởng ấy đã
được thể hiện tài tình bằng những lý lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng đầy sức thuyết phục .
Em có nhận xét gì về phần mở đầu?

http://moon.vn - hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- Mở đầu tuyên ngôn đưa ra một chân lý đã được ghi nhận qua thử thách của lịch sử tiến hoá
nhân loại .
a Phần một: Chân lý về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Từ
chân lý ấy dẫn tới một chân lý khác. Đó là chân lý về quyền của các dân tộc: ''Tất cả các dân tộc ...
tự do ''. Đã thừa nhận chân lý này ắt phải thừa nhận chân lý kia bởi chân lý sau là hệ quả tất yếu của
chân lý thứ nhất, và phủ nhận những gì vi phạm nó .
=> Như vậy bằng sự dẫn dắt, mở rộng tất yếu từ "quyền con người" đến "quyền dân tộc", TNĐL đã
xác lập được căn cứ vững chắc, đã nêu lên một lẽ phải ''không ai chối cãi được'' để khẳng định quyền
độc lập tự do của dân tộc ta. Nêu lên căn cứ để lên án mọi âm mưu, hành động xâm phạm đến chủ
quyền ấy .
- Về góc độ tư tưởng : Tư tưởng về ''Quyền của các dân tộc '' là một đóng góp lớn của TNĐL: ''cống
hiến nổi tiếng của cụ HCM vào kho tàng tinh hoa tư tưởng nhân loại. Bởi vì tư tưởng này là sự nâng
cao giá trị, tầm vóc nhân bản của tư tưởng, của nguyên tắc về quyền của con người ''(Giáo sư Singô
Sibita). Nghĩa là con người phải biết vươn tới quyền lợi của cộng đồng. Mặt khác, tư tưởng nguyên
tắc ''Quyền của các dân tộc '' còn là cơ sở để nhân loại thấy rằng giai cấp tư sản trong khi nêu cao
nhân quyền, dân quyền lại mở rộng quyền xâm phạm tàn bạo, bóc lột dã man các dân tộc khác. Đó là
vô nhân đạo và phi nghĩa.
- Cả hai mặt đạo lý và pháp lý đều hết sức sáng tỏ trong nguyên tắc về “quyền dân tộc '' mà tuyên
ngôn độc lập xây dựng làm căn cứ lập luận của mình .
- Trong bối cảnh lịch sử của nước ta, việc xác lập căn cứ lập luận này còn thể hiện một sự sắc sảo và
khôn khéo. Thời bấy giờ, những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa tư bản còn có ma lực thuyết phục,
quyến rũ lí trí, tình cảm của con người. Hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mỹ đang ảnh

KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Tổng hợp, tóm tắt tội ác của Pháp trong toàn bộ lịch sử đô hộ của chúng bằng những kết luận rút
ra từ thực trạng đô hộ ở hai mặt bao quát là chính trị và kinh tế .
Góc độ 2:
+

Phân tích sâu, cụ thể khoảng thời gian điển hình 5 năm .

=> Chính hai góc độ này đã giúp mọi người và thế giới nhận ra vấn đề của đất nước, dân tộc ta một
cách đúng đắn. Nó vạch rõ cả một lịch sử ''khai hoá, ''bảo hộ '' thực chất đã diễn ra như thế nào đối
với dân tộc ta. Nó vạch trần rằng thực dân Pháp không còn một chút quyền lợi, quyền lực nào đối với
Việt Nam vì nước ta không còn là thuộc địa Pháp nữa.
* HCM đã vạch trần luận điệu điêu trá của thực dân Pháp nhằm chuẩn bị chiếm lại Việt Nam.
+ Chúng kể công ''bảo hộ '' Việt Nam nhưng thực chất là chúng đã dâng Đông dương hai lần cho
Nhật .
+ Chúng kể công ''khai hoá'' Việt Nam nhưng thực chất là chúng bóc lột, áp bức đẩy dân tộc ta tới
nguy cơ diệt chủng trong nạn đói 1945 .
+ Chúng nhân danh Đồng minh trở lại Việt Nam >


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status