Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn 2016 cực hay (Phần 6: Truyện ngắn giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX) - Pdf 34

1


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - NGUYỄN KHẢI (tiết 1)
Vào bài: Có người đã cho rằng, ai già rồi mới thích đọc Nguyễn Khải, điều đó quả cũng có lý bởi
hầu như tác phẩm nào của ông cũng bắt ta phải suy nghĩ rất nhiều. Ta không thể nhìn đời bằng con
mắt hồn nhiên vô tư được khi lạc bước vào thế giới nhân vật của ông. dù giọng văn Nguyễn Khải,
cũng có lúc đùa vui, hóm hỉnh thật thú vị. Có lẽ, đó là tạng riêng của mỗi người cầm bút ...Cho nên,
dù đã khá quen với kiểu nhân vật của ông, đọc lại truyện ngắn Một người Hà Nội ta vẫn không khỏi
ngỡ ngàng. Lễ kỉ niệm một ngàn năm Thăng Long đang đến gần, đọc lại tác phẩm này, ta không khỏi
giật mình, vì sao cách đây hơn chục năm, mà tác giả lại đặt ra được những vấn đề đến hôm nay vẫn
còn rất nóng.
I. Tìm hiểu chung
1. Vài nét về tác giả (1930-2008)
- Là một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi 1945 đến nay. Nhà PBVH Vương Trí Nhàn
viết: “Muốn hiểu con người thời đại với tất cả những hay dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của
họ, cuộc sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”.
- Nét phong cách nổi bật: Chất triết lí, chính luận. Hình tượng tác giả - một người trải nghiệm luôn
có nhu cầu bàn bạc, chia sẻ với bạn đọc những đúc kết của mình - thường để lại những ấn tượng sắc
nét và thú vị. Ông có khả năng tinh nhạy trong phát hiện và trình bày vấn đề, phân tích tâm lý sắc
sảo; luôn đưa ra những bài học nhận thức qua những hình tượng nghệ thuật có sức kích thích đối
thoại.
- Quá trình sáng tác: Trước 1978, quan tâm đến các vấn đề thời sự chính trị, con người được đánh giá
chủ yếu qua tiêu chí đạo đức và tiêu chí chính trị. Tác phẩm có khuynh hướng chính luận với sức
mạnh của lí trí tỉnh táo. (Tiểu thuyết “Xung đột” 1959, tập truyện ngắn “Mùa lạc” 1960, truyện “Tầm
nhìn xa” 1963…
Sau 1978, quan tâm nhiều hơn đến cái đời thường, tới số phận cá nhân. Tiêu chí đánh giá con người
mở rộng ở các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học. Tác phẩm có khuynh hướng triết luận, giọng điệu
đôn hậu, trầm lắng, nhiêù chiêm nghiệm. ( tiểu thuyết “Cha và Con và…” 1979, tiểu thuyết “Thời

hạt bụi vàng” vẫn lấp lánh trong thời gian, và qua sự chạm khắc tài tình của người thợ bạc giàu tài
năng và tâm huyết - nhà văn Nguyễn Khải, đã trở thành một Bông hồng vàng quí giá của mảnh đất
văn hiến nghìn năm. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu để thấy rõ hơn những điều mà nhà văn muốn gửi
gắm cùng bạn đọc.
1. Hình tượng nhân vật bà Hiền trong mối quan hệ gia đình.
- Việc hôn nhân: Là phụ nữ có nhan sắc, yêu văn chương, thời con gái giao du với nhiều văn nhân
nghệ sĩ nhưng không chạy theo những tình cảm lãng mạn viển vông. Cô Hiền chọn bạn trăm năm
là ông giáo tiểu học hiền lành, chăm chỉ khiến cả HN phải kinh ngạc. Cô Hiền đã vượt qua thói
thường. Vì ông giáo thời ấy không thể đảm bảo danh lợi. Nhưng ông lại là người khiêm nhường, mô
phạm, phù hợp với quan niệm của cô về tổ ấm gia đình, gắn với thái độ nghiêm túc của cô đối với
hôn nhân (trách nhiệm làm vợ, làm mẹ… được đặt lên trên mọi thú vui khác).
- Việc sinh con: ở cái thời mà người VN thích đẻ nhiều con, thì bà Hiền quyết định chấm dứt sinh đẻ
vào năm 40 tuổi. Bà không tin “trời sinh voi, trời sinh cỏ”mà bà tin con cái phải được nuôi dạy chu
đáo để chúng “có thể sống tự lập”. Như vậy, trách nhiệm của cha mẹ là cho con một nhân cách,
chuẩn bị cho con khả năng sống không bị lệ thuộc. Đó là tình yêu sang suốt của người mẹ giàu tự
trọng, biết “nhìn xa trông rộng”.
- Việc quản lý gia đình: bà Hiền luôn là người chủ động, tự tin. Bà hiểu rõ vai trò của người mẹ,
người vợ. Khi phê bình thói “bắt nạt vợ” của người cháu, bà bảo: “Người đàn bà không biết nội
tướng thì cái gia đình ấy cũng chẳng ra sao”. Quan niệm “bình đẳng nam nữ” của bà xuất phát từ
thiên chức của người phụ nữ - đấy là một chân lý tự nhiên, giản dị.
- Việc dạy con: bà Hiền dạy con khi chúng còn nhỏ và dạy từ những cái nhỏ nhất. Bà không coi
chuyện ngồi ăn, chuyện cầm bát, cầm đũa, múc canh… chỉ là chuyện sinh hoạt vặt vãnh. Bà coi đấy
là văn hoá sống, văn hoá người, hơn thế, đấy là văn hoá của người HN: “chúng mày là người HN thì
cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Cái chuẩn ở đây là
lòng tự trọng.
2. Hình tượng nhân vật bà Hiền trong mối quan hệ xã hội.
+ Trước 1955: cô Hiền sinh ra trong một gia đình gốc Hà Nội, giàu có nhưng lương thiện. Mẹ
buôn nước mắm, bố đậu tú tài, mê văn thơ, dạy con theo khuon phép nhà quan. Cô Hiền đẹp, thông
minh, con nhà gia giáo nề nếp, được bố mẹ cho mở phòng tiếp khách văn chương.
+ Trong kháng chiến chống Pháp: vẫn sống ở Hà Nội, vì không thể xa Hà Nội sinh cơ lập nghiệp

dạy con cách sống biết tự trọng, biết xấu hổ, biết sống đúng với bản chất ng-ời Hà Nội. Đó cũng là
lí do vì sao cô sẵn sàng cho con trai ra trận: Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống
bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng... Con ngi ỏnh mt lũng t trng thỡ
cng coi nh cht v nhõn cỏch. Cú lũng t trng s cú lũng yờu nc, cú ý thc trỏch nhim vi
cng ng. Cú th núi, vi nhng ngi nh b Hin, lũng yờu nc cng l mt nhu cu t nhiờn,
mun c sng bỡnh ng vi nhng b m khỏc, mun con ngi c sng vi lũng t trng...Cụ
khụng mỡnh b iu gỡ cỏm d nhng trỏi tim li t nguyn gn bú vi s phn ca t nc, thao
thc cựng HN.
+ Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất n-ớc trong thời kì đổi mới, giữa không khí xô bồ của thời kinh
tế thị tr-ờng, cô Hiền vẫn là một ng-ời Hà nội của hôm nay, thuần tuý Hà Nội, không pha trộn.
Ngi k chuyn thỡ khụng giu ni tht vng, hoi nghi, lo õu khi thy HN ang giu lờn, vui hn,
nhng ch l phn xỏc. ễng khụng tin lp ngi ang hm h lm giu cũn bit yờu cỏi p, cũn
gi c nột ho hoa, thanh lch ca t kinh kỡ (bit gt ta v thng thc hoa thy tiờn). ễng
tc v au khi gp nhng ngi HN thiu l , thiu vn hoỏ mt cỏch trng trn (ngi hi
ng, anh chng i xe p, cụ con gỏi anh bn). Nhng b Hin, ngi m ụng mt mc quý
trng li khụng bỡnh lun mt li no v nhng nhn xột khụng my vui v ca ngi chỏu. Trc
nhng mng ti, nhng gúc khut cua HN hụm nay, B ch k cho ngi chỏu chuyn cõy si sng li
nh n lc ca thnh ph. y l bng chng cho thy ngi HN hụm nay khụng ch trng vt cht
m cũn quan tõm n vn hoa tinh thn. B vn tin HN thi no cng p. => Thỏi ung dung t
ti trc nhng bin ng bờn ngoi, trc nhng nhn xột hi nghit ca ngi chỏu. Khụng cú
mt thỏi sng sõu sc m ch dng li mt cỏi nhỡn hi ht hay cm tớnh thỡ khụng th cú mt
nim tin nh vy. Xó hi no cng cú mt giai tng thng lu ca nú lm chun cho mi giỏ
tr- Mt quan nim khin ta lnh ngi, vỡ nú cú th b coi l phn ng thi kỡ lỳc no ta cng
nghe thy khu hiu: Khỏng chin húa sinh hot, qun chỳng húa t tng, v chỳng ta cng
ang phn u vỡ mt xó hi cụng bng, dõn ch, vn minh...nhng ngm ngh li mt cỏch sõu xa,
nú khụng phi l khụng cú c s. H Ni l chun mc vn hoỏ ca ngi Vit. Mi cụng dõn HN
cng t ho v iu ú cng phi cú ý thc gi gỡn v phỏt huy chun mc ú.
+ Thỏi ca cụ Hin trc li sng ca ngi HN trong c ch th trng hụm nay cng lý gii...
3. Vỡ sao nh vn t tờn truyn Mt ngi HN?
Cú l tỏc gi mun khc m ct cỏch, bn lnh ca ngi HN. H luụn l mỡnh vi ct cỏch, bn

không bằng lòng khi thấy mọi người không được như mình, và trong cách nói, cách nghĩ của cô, ta
cảm thấy thoáng có chút coi thường người chồng nhút nhát do chính cô chọn để sống yên phận...
- Ta có thể chưa đồng ý với nhân vật ở điểm này điểm khác, nhưng rõ ràng, qua tâm trạng và tính
cách được khám phá, khắc họa sinh động bằng ngôn ngữ nhân vật, ta thấy hiện lên một chân dung
người phụ nữ đầy nghị lực, giàu tình thương con, yêu Hà Nội, yêu nước, và luôn muốn sống đẹp cho
đúng nghĩa là người con của đất kinh kỳ. Khi năm 2014 đã qua đi, 2015 sắp đến gần, lại nghĩ đến lời
nhân vật bà Hiền mà cảm thấy cần phải làm được gì để giữ lấy cái phần hồn Hà Nội…
* Nhận xét: Như vậy, qua lời nói, việc làm và suy nghĩ của bà Hiền, có thể thấy bản lĩnh của một
con người luôn luôn dám là mình, trong gia đình, chuyện hôn nhân, sinh con đẻ cái, nuôi dạy con
thành người có lòng tự trọng, không được phép sống hèn nhát, ích kỉ; là mình trong quan hệ với
cộng đồng, đất nước, là mình trong những chiêm nghiệm lẽ đời.

MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - NGUYỄN KHẢI (tiết 2)
3. Các nhân vật khác trong truyện
3.1. Nhân vật Dũng, Tuất, bà mẹ Tuất
- Với dung lượng một truyện ngắn, và trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn, những nhân vật này chỉ
được nhắc đến như những nét phác họa thoáng qua, nhưng ấn tượng về họ không thể phai mờ.
- Dũng đã sống đúng với những lời mẹ dạy, anh cùng với 660 thanh niên ưu tú của Hà Nội lên đường
hiến dâng tuổi xuân của mình cho đất nước. Dũng, Tuất và tất cả những chàng trai Hà Nội đã góp
phần tô thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà Nội, phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam. Ấn
tượng về Dũng được thể hiện chủ yếu ở thái độ của anh trong bữa tiệc gia đình mừng anh trở về.
Trong lúc mọi người vui vẻ, háo hức hỏi chuyện người lính mới trở về, trong lúc anh có thể được
quyền lên ngôi, say sưa trong ánh hào quang chiến thắng thì Dũng lại trầm lắng bộc bạch: rằng trong

cảm nghĩ rất tinh tế, sâu sắc về cô Hiền, về người HN và về HN. Ẩn sâu trong giọng điệu vừa
khôi hài, vừa khôn ngoan, trải đời là hình ảnh một con người gắn bó thiết tha với vận mệnh của đất
nước, trân trọng những giá trị văn hoá của DT “Dân HN nhảy tàu lên LS buôn bán đủ thứ mà không
buôn bán được và nghìn củ thuỷ tiên nhỉ”, cảm phục dân mình sống một đời binh dị mà toả sang một
nhân cách cao cả: “Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố HN hãy mượn gió mà bay lên
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
cho đất kinh kì choí sáng những ánh vàng”. Với nhân vật tôi, tác phẩm đã có một điểm nhìn trần
thuật chân thật, khách quan mà đúng đắn, sâu sắc.
- Khi trần thuật, nhân vật tôi thường đặt một sự việc, một hiện tượng trước nhiều cách đánh giá,
nhiều cách nhìn (việc hôn nhân, đón mừng độc lập, việc dạy con cái, cách xưng hô, chuyện ứng xử
thiếu văn hoá của thanh niên thời kinh tế thị trường…). Biện pháp này có tác dụng dân chủ hoá văn
học, tạo sự bình đẳng trong quan hệ nhà văn - bạn đọc, đưa đời sống vào cái nhìn nhiều chiều để
khuyến khích bạn đọc tham gia đối thoại, khước từ lối áp đặt chân lí một chiều của nhà văn. kể bằng
đối thoại, bằng phân tích, bình luận nhiều hơn là miêu tả và trần thuật khách quan. Người kể chuyện
như đang nghĩ về câu chuyện và chính suy nghĩ của anh ta hấp dẫn bạn đọc
* Tóm lại: Người kể chuyện là một người rất yêu HN, hiểu HN, say mê nét đẹp văn hoá của HN.
Anh ta có cái nhìn lịch lãm, sâu sắc. Cách kể chuyện vừa thân tình, vừa hóm hỉnh, luôn tạo được
quan hệ bình đẳng, cởi mở với bạn đọc nhưng vẫn khẳng định được giá trị của kinh nghiệm cá nhân.
Anh ta biết đặt một sự việc dưới nhiều cách đánh giá, đồng thời dung những phân tích, bình luận,
ngẫm nghĩ của mình đê định hướng giá trị. Giọng kể thường là chiêm nghiệm triết lý có pha đối
thoại, tranh biện, tự trào. Ngôn ngữ vừa kết hợp được sắc thái giản dị đời thường vừa giàu ngụ ý và
triết lý.
4. Ý nghĩa của câu chuyện "cây si cổ thụ"
+ Hình ảnh ... nói lên qui luật bất diệt của sự sống. Quy luật này được khẳng định bằng niềm tin của
con người thành phố đã kiên trì cứu sống được cây si.

hiểu cách nghĩ của họ, cuộc sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”. Nhận xét này của nhà
nghiên cứu Vương Trí Nhàn thật xác đáng, nhất là đối với truyện ngắn Một người Hà Nội.
III. Luyện tập
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
Cô Hiền không bình luận một lời nào về những nhận xét không mấy vui vẻ của tôi về Hà Nội. Cô
than thở với tôi rằng dạo này cô thường nghĩ ngợi mọi chuyện một cách duy tâm, y hệt một bà già
nhà quê. Mùa hè năm nọ, bão vào Hà Nội gào rú một đêm, sáng ra mở cửa nhìn sang đền Ngọc Sơn
mà hãi. Cây si cổ thụ đổ nghiêng tàn cây đè lên hậu cung, một phần bộ rễ bật gốc chỏng ngược lên
trời. Lập tức cô nghĩ ngay tới sự khác thường, sự dời đổi, điềm xấu, là sự ra đi của một thời.
Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn là thời vàng son. Mỗi thế hệ đều có thời vàng
son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một lứa tuổi. Cô nói
với tôi thế, đã biết nói thế đâu phải đã già. Mấy ngày sau, cô kể tiếp, thành phố cho máy cẩu tới đặt
bên kia bờ, quàng dây tời vào thân cây si rồi kéo dần lên, mỗi ngày một tí. Sau một tháng, cây si lại
sống, lại trổ ra lá non, vẫn là cây si của nhiều thế hệ Hà Nội, nghĩ cứ lạ, tưởng là chết đứt bổ ra làm
củi, mà lại sống. Cô nói thêm : "Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước
được".
( Trích Một người Hà Nội-Nguyễn Khải)
1. Đoạn văn trên được viết theo giọng kể của ai ?
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3. Nêu ý nghĩa hình ảnh cây si qua câu văn : Sau một tháng, cây si lại sống, lại trổ ra lá non, vẫn là
cây si của nhiều thế hệ Hà Nội, nghĩ cứ lạ, tưởng là chết đứt bổ ra làm củi, mà lại sống.
4. Từ văn bản trên , viết một đoạn văn ngắn thể hiện cảm xúc của em về Hà Nội.
Trả lời:
1. Đoạn văn trên được viết theo giọng kể của bà Hiền (nhân vật) và tác giả (xưng tôi)

sống nhờ họ hàng nên sớm vất vả. Năm 1943, theo anh vào Sài Gòn vừa kiếm sống vừa tự học. Năm
1945, ông tham gia cách mạng rồi gia nhập lực lượng vũ trang, vừa chiến đấu vừa hoạt động văn
nghệ. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc. Năm 1962, tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam và hi
sinh trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân năm 1968. Một số tác phẩm tiêu biểu: “Trăng sáng”, “Đôi
bạn”, “NĐCTGĐ”,..
- Đây là một cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong KCCM. Quê ông ở
miền Bắc nhưng lại gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự xứng đáng với danh hiệu: Nhà
văn của người dân Nam Bộ. Nhân vật của Nguyễn Thi có cá tính riêng nhưng tất cả đều có những
đặc điểm chung "rất Nguyễn Thi". Đó là: Yêu nước mãnh liệt, thủy chung đến cùng với Tổ quốc,
căm thù ngùn ngụt bọn xâm lược và tay sai của chúng, vô cùng gan góc và tinh thần chiến đấu rất
cao- những con người dường như sinh ra để đánh giặc ; Tính chất Nam bộ: thẳng thắn, bộc trực, lạc
quan, yêu đời, giàu tình nghĩa. Tác phẩm tiêu biểu của ông là : Người mẹ cầm súng , Những đứa con
trong gia đình , …
- Là cây bút có năng lực phân tích tâm lí sắc sảo, văn Nguyễn Thi vừa giàu chất hiện thực, đầy
những chi tiết dữ dội, ác liệt của chiến tranh vừa đằm thắm chất trữ tình với một ngôn ngữ phong
phú, góc cạnh, đậm chất Nam Bộ có khả năng tạo nên những nhân vật có cá tính mạnh mẽ.
2. Tác phẩm
2.1. Hoàn cảnh sáng tác
Tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt khi Nguyễn Thi công tác với tư cách là
một nhà văn- chiến sĩ ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng năm 1966. Sau được in trong Truyện và
kí NXB Văn học Giải phóng, 1978.
2.2. Ý nghĩa nhan đề
- Truyện viết về những đứa con Việt, Chiến,... của một gia đình có truyền thống yêu nước, cách
mạng. Đó là những con người được nuôi dưỡng và trưởng thành trong gia đình có truyền thống tốt
đẹp, đáng tự hào và đã tiếp nối xứng đáng truyền thống cách mạng của gia đình.
- Gia đình ở đây là hình ảnh thu nhỏ của cả miền Nam đau thương và anh dũng trong thời chống Mĩ.
Họ đã gánh chịu bao tang tóc do kẻ thù gây ra, đồng thời cũng lập được những chiến công lừng lẫy.
Tất cả đều được ghi rõ trong cuốn sổ gia đình do chú Năm cất giữ .
- Mặt khác, qua truyền thống gia đình và những đau thương mà gia đình chịu đựng, có thể thấy đó
cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của cả dân tộc Việt Nam, muôn người như một, đoàn kết chiến đấu

“trong cuộc) làm câu chuyện trở nên chân thật hơn; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian,
đan xen tự sự và trữ tình.
- Cách thức trần thuật:
+ Truyện Những đứa con trong gia đình được trần thuật theo phương thức thứ 3. Nghĩa là của người
trần thuật tự giấu mình nhưng cách nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật.
+ Lối trần thuật này có hai tác dụng về mặt nghệ thuật: Câu chuyện vừa được thuật, kể cùng một lúc
tính cách nhân vật cũng được khắc họa; Câu chuyện dù không có gì đặc sắc cũng trở nên mới mẻ,
hấp dẫn vì được kể qua con mắt, tấm lòng và bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng của nhân vật.
3. Phân tích nhân vật
3.1. Nhân vật chú Năm
Những đứa con trong gia đình đã khắc họa cụ thể và sinh động hình tượng những thế hệ khác nhau
trong một gia đình cách mạng. Các thành viên trong gia đình này, từ ba, má, chú Năm, hai chị em
Chiến, Việt đều gan góc, kiên cường, giàu lòng yêu thương anh em, làng xóm nhưng cũng sục sôi ý
chí căm thù quân giặc. Họ tự hào về truyền thống gia đình, khát khao chiến đấu và sẵn sàng chiến
đấu, hi sinh vì Tổ quốc, vì cách mạng. Tuy nhiên, mỗi người một cá tính.Trước hết là nhân vật mà
Việt gọi là chú Năm, người con của đồng đất quê hương gắn vơi nghề đò giang sông nước, một nhân
vật mang đậm hơi thở nồng nàn và khí chất Nam Bộ.
3.1.1. Xét về phương diện gia đình, chú là người thân lớn tuổi duy nhất còn lại. Chú là người đùm
bọc, cưu mang các cháu khi cha mẹ Việt hi sinh, chăm lo từng li từng tí cho các cháu như con đẻ của
mình. Trong trích đoạn, chú Năm chỉ xuất hiện trong hai khoảnh khắc, trực tiếp nói hai câu, nhưng
hình bóng của chú in rất đậm nét trong tâm trí bạn đọc. Trong câu chuyện của chị em Chiến, Việt
đêm trước lúc lên đường, không mấy câu không nhắc đến chú Năm. Chỉ qua một câu của chú Năm,
qua đó thấy cả nỗi lo lắng, tình yêu thương, sự động viên, lời cảnh bao nghiêm khắc...
- Chú luôn gắn bó với truyền thống gia đình, dòng họ, có ý thức lưu giữ truyền thống để giáo dục con
cháu. “Chú thường ví chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẻ chia cho mỗi người
một khúc mà ghi vào đó”. Nếu coi truyền thống gia đình là một dòng sông thì chú Năm là khúc
thượng nguồn, kết tinh những vẻ đẹp truyền thống ấy.
- Dù “chữ viết lòng còng” chú vẫn ghi chép tỉ mỉ truyền thống gia đình trong một cuốn sổ thiêng
liêng- có thể coi đó là cuốn gia phả trứ danh - lịch sử bi hùng của dòng họ. Trước, chú ghi tên tuổi,
công trạng, ngày giỗ kị, nay để ghi tội ác kẻ thù và những chiến công của các thành viên trong gia

3.1.3. Là người lao động chất phác và mộng mơ, chú thường gửi hồn mình qua những câu hò
điệu hát. Ở đó ta thấy có “tấm áo vá quàng, hay “con sông dài cá lội”, có lúc là “người nghĩa quân
Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công hoặc ngôi sao sáng Tháp Mười”… ẩn chứa bao trân trọng,
yêu thương. Không phải là điệu hò Trương Chi mà chỉ là giọng hò “đục và tức như tiếng gà gáy”
...chú đặt tay lên vai Việt, “đôi mắt mở to, đọng nước”, lúc đó, dường như mọi nhọc nhằn, gian nan,
cay đắng đều tan biến, chỉ còn lại một tâm hồn bay bổng mộng mơ, dạt dào cảm xúc. Ngày chị em
Chiến lên đường, chú cũng cất tiếng hò “không phải giọng hò trong trẻo trong đêm bay ra hai bên
bờ sông” mà nó cất lên giữa ban ngày và “như một hiệu lệnh ...rồi kéo dài từng tiếng một vỡ ra,
nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”. Tiếng hò của chú chất chứa sự ấm ức
và hi vọng, tức tối và thiết tha, gửi gắm niềm tâm sự, nhắn gửi một lời nguyền... Tiếng hò ấy vừa dữ
dội, vừa trang nghiêm, lại vừa tha thiết. Dường như đó là lúc hồn thiêng của đất nước, cha ông đang
hiện về: "Truyền con cháu phải ngẩng cao mà bước...", truyền cho con cháu ý chí chiến đấu và khát
vọng chiến thắng của gia đình, dòng tộc. Tiếng hò đã nối liền con sông gia đình với biển cả, đại
dương mênh mông của đất nước, dân tộc.
3.1.4. Nhận xét: Là con người của một gia đình, chú Năm mang cốt cách người nông dân Nam Bộ :
khẳng khái, bất khuất, kiên trung. Chú Năm có dáng dấp của ông Tư Đờn, ông Năm Hạng, ông Tư
Vườn chim, ông Tám Xẻo Đước...những nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Nam Bộ trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Chú Năm cũng là một hình tượng đậm chất sử thi, gơi liên tưởng
đến hình tượng cụ Mết trong “Rùng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, bởi sự gắn bó với lịch sử oai
hùng của cộng đồng, như là kết tinh vẻ đẹp của truyền thống. Nhưng nếu cụ Mết đại diện cho một
buôn làng, gây ấn tượng bằng một câu chuyện trầm hùng, bi tráng bên bếp lửa xà nu, thì chú Năm
đại diện cho một dòng họ, đọng trong trí nhớ bạn đọc cùng với cuốn gia phả trứ danh và điệu hò
khàn đục giữa ban ngày. Chú Năm là một thành công trong xây dựng nhân vật của Nguyền Thi trong
tác phẩm.
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

Cảnh hai chị em Chiến, Việt khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm đã thể hiện cô đọng và cảm
động những tình cảm yêu thương chân thành ấy: “Nào đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi
đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về”.
+ Sục sôi căm thù: Càng yêu thương ba má, gia đình, càng gắn bó với quê hương xứ sở, họ càng
căm thù quân xâm lược. Hai chị em ghi xương khắc cốt mối căm giận không đội trời chung với kẻ
thù dân tộc – kẻ đã tàn phá quê hương, đã cướp đi sự bình yên hạnh phúc trong gia đình họ: ông bà,
ba má đã bị sát hại một cách dã man. Mang nặng thù nhà, nợ nước, chị em Việt đều chung một ước
nguyện được cầm súng giết giặc, trả thù cho ba má và quê hương. Bước vào tuổi thanh niên, cả hai
đều náo nức tòng quân. Nguyễn Thi đã miêu tả một cách cụ thể, sinh động cảnh tượng hai chị em
giành nhau trong cái đêm tòng quân ấy
“... anh cán bộ của huyện đội vừa dứt lời cả hai chị em Việt giành nhau chạy lên:
- Tôi tên là Việt, anh cho tôi đi bộ đội với.
Chị Chiến đứng sau Việt thở:
- Đề nghị mấy anh xét cho. Nó là em tôi mà cái gì nó cũng giành...”.
Đoạn văn làm sống lại cái không khí lên đường tòng quân đánh Mỹ sôi nổi ở cả hai miền
Nam Bắc trong những năm tháng quyết liệt của dân tộc. Chiến có thể nhường em trong mọi chuyện
nhưng kiên quyết không nhường Việt trong chuyện này. Còn Việt đã phải khai tăng tuổi để trở thành
chiến sĩ. Và họ đã toại nguyện. Hai chị em đã lên đường với ý chí quyết tâm sắt đá. Ta hãy lắng nghe
một đoạn đối thoại của họ trong cái đêm trước ngày lên đường:
“Chú Năm nói mày với ta đi kỳ này là ra chân trời mặt biển, xa nhà ráng học chúng học bạn,
thù nhà chưa trả mà bỏ về thì chú chặt đầu.
Việt lăn kềnh ra ván cười khì khì:
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
- Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị.
- Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu. Nếu giặc

bởi “sắp tới đây còn bao nhiêu chuyện phải lo, ngay bây giờ cũng còn bao nhiêu việc phải nhớ”. Cô
lo lắng việc gửi thằng út cho chú Năm, gửi nhà cửa cho xã làm trường học, ruộng vườn chia cho cô
bác, và lo cả việc gửi bàn thờ má sang nhà chú năm. Chiến sắp xếp việc nhà đâu vào đấy khiến cả
chú Năm phải kinh ngạc khen “Khôn! Việc nhà nó thu xếp được gọn thì việc nước nó mở được rộng
gọn bề gia thế, đặng bề nước non”. Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất về Chiến vẫn là quyết tâm sắt đá ở
trong câu nói “nếu giặc còn thì tao mất”, là sự vững vàng, khoẻ khoắn trong hình ảnh “dang cả thân
người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên”. Trong hình ảnh Chiến như có sự
âm vang, cộng hưởng của ý chí chiến đấu của chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng”. Phải chăng vì
những phẩm chất ấy mà Việt luôn yêu quý, tự hào, tin tưởng chị, coi chị như báu vật của riêng mình!
Xây dựng nhân vật Chiến, nhà văn có ý thức tô đậm đức tính gan góc, đảm đang, tháo vát mà
cô được kế thừa từ người mẹ. Vận hội mới của cách mạng đã tạo điều kiện cho Chiến được trực tiếp
cầm súng đánh giặc để trả thù nhà, thực hiện lời thề chắc nịch như dao chém đá của mình. Nguyễn
Thi đã xây dựng nhân vật Chiến vừa có cá tính, lại vừa phù hợp với lứa tuổi, giới tính. Dù chỉ hiện
lên qua sự hồi tưởng của Việt, nhưng Chiến đã để lại ấn tượng cho người đọc như là sự tiếp nối đáng
tự hào của truyền thống gia đình, đất nước.
3.4. Nhân vật Việt
*Trong tác phẩm, Việt là nhân vật xuất hiện nhiều lần nhất. Dường như tác giả đã “trao
quyền” cho người lính trẻ này để anh tự viết về mình bằng một ngôn ngữ và giọng điệu riêng.
Bằng cách ấy, Việt đã hiện lên cụ thể sinh động trước mắt bạn đọc, vừa có dáng vẻ của cậu con
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
trai mới lớn vừa gan góc tuyệt vời, rất bình dị, hồn nhiên mà anh dũng vô song của người chiến sĩ
giải phóng quân – con người đẹp nhất thời đại.
- Đêm trước ngày nhập ngũ: Là em,Việt có nét dễ mến của cậu con trai lộc ngộc, hồn
nhiên, vô tư, hiếu động và rất trẻ con. Người lính trẻ ấy mới hôm nào còn giành phần hơn với chị
khi đi bắt ếch, lúc đánh tàu giặc trên sông Định Thủy và khi ghi tên tòng quân còn phải khai tăng

đấu: chỉ còn một ngón tay nhúc nhích được, Việt đặt vào cò súng: một viên đạn đã lên nòng. Và bằng
một nghị lực phi thường, một niềm tin sắt đá “Việt đã bò được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai
cùi tay lôi người theo...”. Bởi vì, Việt đã có thể xác định phương hướng cho mình. ở nơi ấy, có
những đồng đội thân yêu của anh, ở nơi ấy, anh có thể góp phần mình vào chiến thắng.
Có thể nói: trẻ trung, hồn nhiên, mà chiến đấu vô cùng dũng cảm... là những phẩm chất đẹp
đẽ của Việt cũng là phẩm chất chung của người lính những năm đánh Mỹ. Và hành động giết giặc để
trả thù nhà, đền nợ nước đã trở thành một trong những thước đo quan trong nhất về phẩm cách con
người trong sáng tác của Nguyễn Thi. Họ chính là “hoa mùa xuân Nam Bộ” – một bài thơ viết như
để dành riêng cho Việt và cả một thế hệ của anh: Họ như hoa mùa xuân thắm ngọt trên cành/ Hoa
nở đầu môi ánh sáng cười trong mắt/ Tuổi mười chín áo chưa sờn đã chật/ Bước vụng về nhưng
rắn chắc hăng say/ Đánh giặc chưa quen chỉ biết cuốc cày/ Ra trận lần đầu đã xung phong đuổi
giặc...Vậy thì đâu là cội nguồn cho những phẩm chất anh hùng ấy?
- Không chỉ gan góc kiên cường, Việt còn có một trái tim giàu tình cảm yêu thương. Bị
trọng thương, nằm lại giưa chiến trườg khói lửa, hình ảnh quê hương, gia đình trở đi trở lại trong nỗi
nhớ tình thương của Việt. Đặc biệt là cảnh hai chị em khiêng bàn thờ má gửi bên nhà chú Năm. Việt
đã thầm hứa trước vong linh má “Nào, con đưa má sang ở tạm nhà chú. Chúng con đi đánh giặc trả
thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, con lại đưa má về”. Việt trò chuyện, tâm tình với má
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
như với người đang sống. Má vẫn sát cánh cùng hai chị em trong ngày ra trận, và vẫn sống trong
niềm tin của hai chị em vào ngày toàn thắng trở về. Phải chăng, con người VN đang chiến đấu với cả
sức mạnh của những người đang sống và cả những người đã khuất? Có phải ngẫu nhiên khi trong
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, NĐC viết: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp
cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia”, thì trong “Đất nước”, nhà thơ NĐT viết: “Đêm đềm rì
rầm trong tiếng đất, những buổi ngày xưa vọng nói về”, còn trong “Lá thư Bến Tre”, nhà thơ Tố
Hữu viết: “Người chết đi cùng người sống đây, thuỷ chung một dạ trả thù này”….

đối thoại trong diễn tả tâm lí, khắc họa tính cách, cá tính nhân vật. Điều này được thể hiện rất rõ ở
nhân vật Việt. Qua những dòng hồi tưởng đứt đoạn làm hiện lên hình ảnh rõ nét cả một gia đình cách
mạng, đặc biệt là hình ảnh hai chị em. Mỗi người một vẻ, họ bổ sung và gắn bó với nhau, tạo thành
vẻ đẹp lấp lánh trong tâm hồn và tính cách.
Từ hai nhân vật này, Nguyễn Thi ca ngợi và khẳng định những phẩm chất cao đẹp của một
lớp người mới được sinh ra và lớn lên trong khói lửa của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Anh dũng
vô song mà lại hồn nhiên, bình dị, nhà văn ca ngợi nhưng không thần thánh hóa nhân vật. Chiến và
Việt vừa tươi mới những phẩm chất thời đại lại vừa ẩn chứa trong mình những giá trị vững bền của
truyền thống cha anh. Như nhà thơ Tố hữu đã có lần khẳng định: Lớp cha trước lớp con sau- Đã
thành đồng chí chung câu quân hành. Họ đã kế tục xứng đáng sự nghiệp giải phóng dân tộc của
lớp người đi trước và đã thúc đẩy sự nghiệp đó bằng chính sự gan góc quả cảm, sự thông minh, sung
sức của thế hệ mình.
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH – NGUYỄN THI (tiết 3)
4. Tính sử thi
4.1. Giới thiệu chung
4.2. Khái niệm
- Một trong những đặc điểm của văn học Việt Nam 1945- 1975 là có khuynh hướng sử thi,
NĐCTGĐ không ngoài đặc điểm đó.
- Sử thi vốn là một thuật ngữ chỉ một thể loại xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học nhân loại. Có
người gọi nó là anh hùng ca. Chúng ta từng biết đến những sử thi nổi tiếng như…còn khi nói một tác
phẩm hiện đại có tính sử thi nghĩa là nói đến việc tác phẩm đó có những đặc điểm thường thấy trong
sử thi. Cụ thể là:
+ Tác phẩm viết về những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử lớn lao, gắn với lợi ích sống còn

len lỏi vào những con người này, chỉ thấy họ là đất nước, là dân tộc, là thời đại đánh Mĩ. Nếu có tình
cảm riêng tư thì gác lại, như hai chị em mang bàn thờ ba má sang gửi nhà chú. Không ai nghĩ đến
hạnh phúc cá nhân, vì còn thằng Mĩ thì không ai có hạnh phúc nổi cả.
4.3.4. Thứ tư, lời văn trong tác phẩm trang trọng hào hùng, hình ảnh kĩ vĩ, giọng điệu ngợi ca.
Nếu Rừng xà nu có âm hưởng của núi rừng Tây Nguyên làm nền cho tác phẩm thì ở NĐCTGĐ lại là
cái dài rộng của dòng sông đất nước. Việt là một thiếu niên bình dị, nhưng chiến công thì được miêu
tả hào hùng, theo những dòng suy nghĩ của Việt, ta thấy hình ảnh Việt thật lớn lao, phi thường, gan
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
góc từ nhỏ, bị thương khắp người đang rỉ máu, ngất đi tỉnh lại nhiều lần, hai mắt không nhìn được,
vẫn bò trong bãi chiến trường. Một loạt súng văng vẳng...Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn
đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ sugs. Thật là một ý chí thép, một tư tưởng lớn lao phi
thường, không khác nào tinh thần của những nhân vật sử thi xưa.
4.3.5. Hình ảnh, hình tượng chói lọi: Thể hiện qua cuốn sổ của gia đình với truyền thống yêu nước,
căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương.
+ Cuốn sổ là lịch sử gia đình mà qua đó thấy lịch sử của một đất nước, một dân tộc trong cuộc chiến
chống Mĩ.
+ Số phận của những đứa con, những thành viên trong gia đình cũng là số phận của nhân dân miền
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ khốc liệt. Mỗi nhân vật trong truyện đều tiêu biểu cho truyền
thống, đều gánh vác trên vai trách nhiệm với gia đình, với Tổ quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại.
+ Truyện của một gia đình dài như dòng sông còn nối tiếp. "Trăm dòng sông đổ vào một biển, con
sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm…, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả
nước ta…". Truyện kể về một dòng sông nhưng nhà văn muốn ta nghĩ đến biển cả. Truyện về mọt
gia đình nhưng ta lại cảm nhận được cả một Tổ quốc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh ra
từ những đau thương.


- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH – NGUYỄN THI (tiết 4)
DẠNG ĐỀ 1: Phân tích nhân vật
1. Phân tích nhân vật Việt
Ý 1: Việt là một chàng trai có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và trẻ con:
- Hay tranh giành với chị : từ việc soi ếch đến việc ghi tên tòng quân.
- Là một chiến sĩ giải phóng quân, cầm súng tự động, đánh Mĩ bằng lê mà cái ná thun vẫn nằm gọn
trong túi.
- Bị thương nặng đến ngày thứ hai, trong bóng đêm vắng và lạnh lẽo, Việt không sợ chết mà sợ bóng
đêm và sợ ma.
Ý 2: Tình thương yêu gia đình sâu nặng:
- Việt rất thương chị: lúc khiêng bàn thờ má sang gởi nhà chú Năm, Việt thấy thương chị lạ. Vào bộ
đội, Việt giấu chị như giấu của riêng.
- Rất thương chú Năm: nhớ câu hò của chú…
- Lúc bị thương, hình ảnh ba má hiện về chập chờn trong hồi ức Việt.
Ý 3: Tính cách người anh hùng, tinh thần chiến đấu dũng cảm:
- Dòng máu trong người Việt là dòng máu anh hùng: Dòng máu ấy chảy qua nhiều thế hệ từ ông bà,
cha mẹ đến thế hệ Việt và Chiến. Chính truyền thống gia đình là động lực tình cảm, tinh thần thúc
đẩy Việt chiến đấu.
- Bị thương ở trận địa, lạc đồng đội, người đầy thương tích, lúc tỉnh lúc mê, Việt vẫn ở tư thế sẵn
sàng chiến đấu.
- Tỉnh dậy lần thứ tư giữa đêm sâu thẳm, nghe tiếng súng đồng đội, Việt vẫn cố bò về hướng đó
“Chính trận đánh đang gọi Việt đến”
Ý 3: Đánh giá:
- Nguyễn Thi đã miêu tả nhân vật một cách sắc nét từ tính tình, tình cảm đến tinh thần chiến đấu

duyên dáng nhưng cũng rất mực anh hùng. Cô tiếp nối và làm rạng rỡ truyền thống đánh giặc cứu
nước của gia đình và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật thành công trong việc
xây dựng hình tượng nhân vật nữ anh hùng thời chống Mỹ.
3. Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật Việt và Chiến
Trên cơ sở hiểu biết về tác giả Nguyễn Thi và truyện ngắn Những đứa con trong gia đình, học sinh
biết cách chọn, phân tích những chi tiết tiêu biểu để làm nổi bật điểm giống và khác nhau của hai
nhân vật Việt và Chiến. Bài viết có thể trình bày nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu bật những ý
chính sau:
Ý1/ Những điểm giống nhau của nhân vật Chiến và Việt: - Là con của một gia đình cách mạng, giàu
truyền thống anh hùng: Ông bà, ba má đều bị giặc sát hại. - Cả hai đều rất yêu thương, kính trọng và
tự hào về cha mẹ mình: hai chị em cùng ước nguyện lên đường đánh giặc trả thù cho ông bà, ba má
“giành nhau đi bộ đội”. - Tuổi đời còn rất trẻ, cái hồn nhiên, ngây thơ vẫn còn in đậm trong mỗi nhân
vật: Tranh nhau việc bắt ếch, tranh nhau thành tích bắn tàu chiến trên sông Định Thuỷ, tranh nhau
ghi tên tòng quân. - Dũng cảm, gan góc và từng lập nhiều chiến công: nhận thức về thù nhà nợ nước,
về nghĩa vụ đánh giặc để giải phóng miền Nam vô cùng sâu sắc.
Ý2/ Những điểm khác nhau của nhân vật Chiến và Việt:
- Cơ bản nhất là hai nhân vật khác nhau về giới tính, Chiến lại là chị của Việt nên tính cách, cư xử
cũng khác nhau:
+ Chiến giống má ở tính gan góc, tháo vác, biết lo toan thu xếp việc nhà đâu vào đấy. Là gái, Chiến
cần mẫn, chăm chỉ, kiên nhẫn trong mọi việc còn Việt thì nôn nóng, hiếu động.
+ Là chị, Chiến rất thương em, hầu như mọi chuyện tranh giành cuối cùng chị đều nhường nhịn (trừ
việc ghi tên tòng quân).
+ Chiến hầu như đã trưởng thành còn Việt thì vẫn còn tính trẻ con: Việt hiếu thắng, hay tranh giành
với chị, việc nhà phó mặc cho chị. Việt thích đánh giặc, dũng cảm trong chiến trận nhưng rất trẻ con:
Bị thương không sợ chết mà sợ ma, là anh giải phóng quân bắn súng tự động mà trong túi vẫn mang
theo cái ná thun.
Ý 3: Đánh giá :
- Miêu tả nhân vật tự nhiên, ngôn ngữ mang đậm chất Nam Bộ phù hợp với hoàn cảnh, tính cách
nhân vật. - Vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật liên tưởng, hồi ức đã phản ánh chân thực tính cách,
hành động của Việt và Chiến – người dân Nam Bộ, đã góp phần lí giải mối tương quan giữa cái bình

Nam Bộ.
- “Những đứa con trong gia đình” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi.
- Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ
- những con người giàu lòng yêu nước, gắn bó với quê hương mà tiêu biểu nhất là Việt và Chiến. Ý
2. Cảm nhận về đoạn kể hai chị em Việt và Chiến khiêng bàn thờ mà sang gửi bên chú Năm Lối kể
chuyện tự nhiên làm nổi bật tính cách nhân vật:
- Chị Chiến: Vừa giống má vừa tỏ ra mạnh mẽ, cứng cỏi, trưởng thành: hai bắp tay tròn vo, thân
người to và chắc nịch, nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên.
- Nhân vật Việt:
+ Có quyết tâm đánh giặc trả thù cho ba má và có niềm tin “chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba
má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về”
+ Có lòng căm thù giặc sâu sắc: từ nhỏ đã nung nấu lòng căm thù, lúc này khi khiêng bàn thờ má.
Việt càng cảm nhận rõ: “mối thù thằng giặc Mỹ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng trên vai”
+ Sắp xa chị Chiến, Việt thấy thương chị nhiều hơn: Việt thấy chị giống y như má, nhất là khi nghe
tiếng chân chị “bịch bịch phía sau”. Lúc này Việt thấy rõ lòng mình và ý thức được mục đích đi bộ
đội của mình. Lối kể chuyện lôi cuốn có sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ qua hình ảnh hai chị em
khiêng bàn thờ má trên “con đường hồi trước má vẫn đi”. Đó là con đường thân quen “men theo
chân vườn thoảng mùi hoa cam”, gợi hình ảnh má đã tần tảo “ lội hết đồng này sang bưng khác”.
Trong tâm hồn Việt và Chiến, tình cảm đối với gia đình và quê hương là động lực để họ ra đi chiến
đấu.
Ý 3: Đánh giá:
- Đoạn văn đã khắc hoạ được vẻ đẹp trong tâm hồn, tình cảm của Việt và Chiến – những con người
giàu lòng yêu quê hương đất nước. Chính sự hoà quyện giữa tình cảm gia đình và đất nước đã tạo
nên sức mạnh tinh thần to lớn cho con người Việt Nam.
- Nhà văn đã chọn lọc chi tiết tiêu biểu, giọng văn tự nhiên giàu cảm xúc.
DẠNG 3: So sánh
1. So sánh sự giống nhau và khác nhau cơ bản của hai tác phẩm "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung
Thành và "Những đứa con trong gia đình"của Nguyễn Thi.
2. Chất sử thi qua hai tác phẩm: Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia
đình – Nguyễn Thi.

- Nguyễn Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu (5/9/1932)
chàng trai quê ở một huyện Thăng Bình kề biển Quảng Nam, nhưng lại có duyên đặc biệt với núi
rừng. 1950, khi đang học trung học chuyên khoa trong vùng kháng chiến, gia nhập quân đội, lăn lộn
trong phong trào kháng chiến ở Liên khu 5. Sau Hiệp định Giơ ne vơ, tập kết ra Bắc, công tác tại Tạp
chí Văn nghệ quân đội. Năm 1962, lại trở lại chiến trường miền Nam, hoạt động ở Khu Năm. Hơn
chục năm ròng sống và chiến đấu hết sức kiên cường trên những chiến trường nóng bỏng, trực tiếp
chịu đựng và chứng kiến bao nhiêu gian khổ và hy sinh đã cho Nguyên Ngọc một vốn sống rất
phong phú về Tây Nguyên. Từ thuở thanh xuân cho tới khi đầu bạc, chưa bao giờ Nguyên Ngọc thôi
suy tư, tìm hiểu, sống sâu với văn hóa Tây Nguyên. Có thể nói, ông là người vinh dự cầm bó đuốc
mở đầu cho nền văn học hiện đại viết về Tây Nguyên và cho đến nay, dường như ông vẫn là nhà văn
viết hay nhất về mảnh đất này.
- Một vài tác phẩm tiêu biểu: tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” (1956), truyện ngắn “Rẻo cao” (1962),
truyện ngắn “Rừng xà nu” (1965), tiểu thuyết “Đất Quảng” (1971)…
2. Tác phẩm
2.1. Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời truyện ngắn “Rừng xà nu”
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đất nước chia làm hai miền. Kẻ
thù phá hoại hiệp định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi khắp miền Nam. Cách mạng rơi vào thời
kì đen tối. Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc.
Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm
được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ, ra mắt lần đầu tiên trên tạp
chí “Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ” số 2/1965, sau đó in trong trong tập “Trên quê
hương những anh hùng Điện Ngọc”. Đây cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của
Nguyễn Trung Thành viết trong những năm kháng chiến chống Mĩ.
2.2. Cốt truyện
- Ý chính: Sau ba năm đi lực lượng, Tnú trở về thăm làng Xô Man. Cụ Mết kể cho dân làng nghe về
cuộc đời, sự trưởng thành của Tnú cùng quá trình quật khởi của làng Xô Man: Tnú mồ côi từ nhỏ,
dân làng Xô Man nuôi dưỡng, được giác ngộ, tham gia cách mạng, Tnú chiến đấu gan góc, thông
minh, trở thành người chỉ huy cuộc đồng khởi của làng Xô Man. Sau đó, Tnú tham gia lực lượng
Giải phóng quân. Như vậy, tác phẩm có sự đan cài hai chiều: hiện tại- quá khứ - hiện tại, gắn với hai
câu chuyện lồng ghép: cuộc đời đau thương mà anh dũng của Tnú- tuyến chính, phần cốt lõi và sự

- Ở hệ thống các tình tiết: xuất hiện rải rác trong thiên truyện: Trong đời sống sinh hoạt: khói xà nu
xông bảng nứa để Tnú và Mai học,…và gắn với các sự kiện quan trọng của dân làng Xô man: sự
vùng dậy, cả làng bí mật mài vũ khí, Tnú bị tra tấn…xà nu trở thành một bộ phận không thể thiếu
trong đời sống sinh hoạt và cuộc kháng chiến chống Mĩ của người Tây Nguyên.
1.3. Ý nghĩa tả thực: được miêu tả cụ thể như một loài cây đặc thù, tiêu biểu của miền đất Tây
Nguyên, gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân Tây Nguyên trong sinh hoạt hàng ngày, trong
đấu tranh chống giặc; trong kí ức của người Xô man...
1.4. Ý nghĩa biểu tượng:
- Rừng xà nu là biểu tượng của đau thương: đồi xà nu ở trong tầm đại bác… ngay từ những dòng
đầu tiên, xà nu đã được đặt trong cảnh liên quan đến sự huỷ diệt dữ dội, tàn bạo. Đây là thử thách
lớn, nghiệt ngã với rừng xà nu. Hàng vạn cây không có cây nào không bị thương như khi giặc kéo
đến làng Xô Man, ngọn roi của chúng không trừ một ai...tả ba cái chết của xà nu, hình ảnh những
cây non bị huỷ diệt tạo cảm giác xa xót.
- Rừng xà nu là biểu tượng của vẻ đẹp nên thơ và sức sống bất diệt: Ở chỗ vết thương: nhựa ứa
ra, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, tác giả đã huy động ấn tượng khứu giác (thơm ngào
ngạt) và ấn tượng thị giác (long lanh) để miêu tả chất nhựa xà nu với vẻ đẹp thi vị. Trong rừng ít loại
cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy- so sánh làm nổi bật sức sống hiếm có của xà nu.
- Rừng xà nu là biểu tượng cho sự nối tiếp các thế hệ: Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn
năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời- nguồn sống bền bỉ,
ngạo nghễ, ngang tàng, như cỏ dại, như suối nguồn ào ạt.
- Rừng xà nu là biểu tượng cho niềm khao khát tự do, sức mạnh kiên cường bất khuất: Ham
ánh sáng măt trời, phóng lên rất nhanh để đón lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên
cao xuống từng luồng thẳng tắp, long lanh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng.
Câu văn có sự thăng hoa của hai vẻ đẹp: vẻ nên thơ và sức mạnh cường tráng, bất khuất, sự khao
khát tự do. Ham ánh sáng mặt trời là bản năng tồn sinh dẻo dai, luôn hướng về phía ánh sáng, hướng
về sự sống. Những động từ mạnh: ham, phóng, đón- tư thế chủ động chiếm lĩnh- khao khát sống, khả
năng sống tiềm tàng mãnh liệt. Hương thơm của nhựa cây tiếp tục được đan chiếu ánh xạ trong hai
chiều cảm nhận: thị giác, khứu giác. Hạt bụi vàng: những hạt bụi dưới ánh sáng mặt trời từ trên cao
rọi xuống giống như những hạt bụi long lanh- tác giả đã thơ hoá một hình ảnh bình thường. Thơm mỡ
màng: không phải “thơm ngào ngạt” (cùng sắc độ đậm đặc, mạnh), không phải “thơm dìu dịu” (sắc

biểu tượng nghệ thuật độc đáo, là “linh mộc” của người Tây Nguyên, mang tinh thần, sức mạnh, vẻ
đẹp Tây Nguyên.
- Tả con người trong quan hệ liên tưởng so sánh với xà nu: cụ Mết ngực căng như một cây xà nu lớn
(rừng xà nu uỡn tấm ngực lớn), Tnú bị chém ngang lưng, vết thương tím thẫm như nhựa xà nu
(những vết thương đen, đặc quyện thành cục máu lớn). Các thế hệ xà nu nối tiếp nhau- gợi sự liên
tưởng các thế hệ dân làng Xô man chống giặc bất khuất. Sự chuyển hoá nhuần nhuyễn giữa hình
tượng thiên nhiên và con người, hướng về tư tưởng nghệ thuật chủ đạo: sự vùng lên và sức sống bất
diệt của con người Tây Nguyên trong đau thương.
1.6. Kết luận: Cây xà nu tượng trưng cho số phận đau thương và phẩm chất anh hùng của dân làng
Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
- Được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn.
- Kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
Qua hình tượng cây xà nu, người đọc hiểu biết thêm cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên và nhất là
thêm yêu quí, tự hào về những phẩm chất cao đẹp của họ.
Nhan đề mang tính hình tượng, vừa hiện thực, cụ thể (sức sống bất diệt của cây); vừa biểu
tượng, khái quát (tinh thần bất khuất của người), thâu tóm được chủ đề tác phẩm (sức sống của dân
tộc) và làm nên sức hấp dẫn riêng (không khí Tây Nguyên) của tác phẩm.
2. Hình tượng những con người Tây Nguyên tiêu biểu: cụ Mết, Tnú, Mai, Dít...
2.1. Cụ Mết: Từ một nhân vật có thật ngoài đời, cụ Mết bước vào văn học như một nhân vật trong
thần thoại mà vô cùng sống động.
2.1.1. Vị trí của nhân vật: một nhân vật rất lạ. Ông chính là linh hồn của làng Xô man, cũng là linh
hồn của truyện ngắn, nhân vật làm nên bản sắc Tây Nguyên đậm đà nhất trên trang viết, là nhân vật
tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần của Tây Nguyên.
2.1.2. Ngoại hình, diện mạo: Sau ba năm “đi lực lượng”, Tnú trở về thăm làng, được gặp lại cụ Mết.
Anh thấy ông cụ “vẫn quắc thước như xưa”, dù râu đã dài tới ngực nhưng vẫn đen bóng”, mắt “sáng
và “xếch ngược”. Ông ở trần, “ngực căng như một cây xà nu lớn” còn tiếng nói thì “ nặng trịch”, "ồ
ồ dội vang trong lồng ngực” tưởng như tiếng vọng của núi rừng. Bàn tay nặng trịch nắm chặt vai anh
như cái kìm sắt. Không bao giờ khen “Tốt! Giỏi!” Lúc ông nói, mọi người đều im bặt, nói như ra
lệnh…Bằng vài nét phác thảo về ngoại hình, diện mạo có phần ước lệ, cụ Mết hiện lên vững vàng,
mạnh mẽ, tráng kiện tựa như một cây xà nu cổ thụ trong đại ngàn Tây Nguyên.

siêu phàm của các ông già trong thần thoại. Mang ý chí, lòng quả cảm và kinh nghiệm của con
người dày dạn trong đấu tranh, lựa thế để chiến đấu với kẻ thù. Những lời nói của cụ Mết giản
dị mà giống như những lời tổng kết thể hiện đường lối cách mạng“Năm nay làng không đói nhưng
phải để dành, dự trữ mỗi bếp cho đủ ba năm, đánh Mỹ phải đánh lâu dài”. Trong cuộc chiến đấu
quyết liệt với kẻ thù, cụ đã rút ra một chân lý đúng đắn: không thể tay không đương đầu với giặc.
“Tnú cũng không cứu được vợ con. Còn mày, chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay
trắng… Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không”. “Tay trắng”, “tay không”
làm sao có thể đương đầu với kẻ thù! …” Cụ Mết đã dặn dò tạc vào lòng con cháu một chân lí bất di
bất dịch: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ đã dẫn đám thanh niên vào rừng tìm
giáo mác. Trong ánh đuốc xà nu, với giáo mác trong tay, cụ Mết cùng dân làng xông lên diệt gọn
tiểu đội lính địch, mở đầu cho cuộc nổi dậy vũ trang khởi nghĩa của làng. Dưới lưỡi mác của cụ,
thằng Dục tàn ác đã phải đền tội. Tiếng hô của cụ vang động khắp núi rừng: “Chém! Chém hết!”.
Sau hiệu lệnh ấy, bão táp đã nổi lên, xác quân thù ngổn ngang quanh đống lửa đỏ trong nhà ưng.
Tiếng cụ Mết như tiếng hịch vang rền sông núi:“Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già,
người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây
vụ, một cây rựa. Ai không có chông thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!” …
2.1.4. Kết luận
Nhân vật cụ Mết trầm ngâm, lừng lững như cây cổ thụ, tiêu biểu cho sức mạnh tinh thần và
vật chất có tính truyền thống của dân tộc Tây Nguyên, vừa mang nét chung của những người dân
Tây Nguyên: yêu làng, yêu nước, tuyệt đối trung thành với cách mạng, mang trong tim dòng máu bất
khuất của một dân tộc anh hùng, căm thù giặc sâu sắc, hành động quyết liệt nhưng cũng khôn khéo
để trả thù, đời sống nội tâm sâu sắc, giàu tình cảm yêu thương; vừa mang nét riêng, khác nhân vật
chú Năm (Những đứa con trong gia đình- Nguyễn Thi); Bok Pak, Bok Sung (Đất nước đứng lênNguyên Ngọc), “Ông già Mết là nhân vật có thật. Nguyên Ngọc giữ nguyên tên. Và cũng y hệt như
trong truyện, ở ngoài đời, ông Mết là ngọn cờ tập hợp dân chúng. Ông thông minh, dũng cảm, chỉ
huy đánh giặc rất tài” (Trần Đăng Khoa)
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98



con đường, cái máng nước đầu làng, dể cho vòi nước mát lạnh của làng mình giội lên khắp người
như ngày trước.
- Cụ Mết kể chuyện cuộc đời Tnú trước đông đủ dân làng và có mặt cả Tnú. Không gian: Nhà
ưng- thời gian: Đêm rừng, bên ngoài lấm tấm một trận mưa đêm. Giọng kể: trầm và nặng. Cách kể:
trang trọng, tôn nghiêm, kể “khan” cùng lời dặn dò: Sau này tau chết, chúng mày phải kể lại cho con
cháu nghe- câu chuyện về Tnú trở thành truyện thiêng của cộng đồng Strá, thành di huấn, báu vật
tinh thần truyền từ đời này sang đời khác.
- Tác dụng:
+ Vừa tạo màu sắc sử thi huyền thoại, giữa người nghe và người kể có khoảng cách không gian, thời
gian vời vợi, xa xăm, với thái độ chiêm ngưỡng thiêng liêng, thành kính, vừa có chất hiện đại: nhân
vật được kể hiện hữu, chứng kiến, chỉ im lặng ngồi nghe, không tham gia vào câu chuyệện lên thật rõ
ràng và đầy đủ qua lời kể của cụ Mết.
+ Kể một câu chuyện mang màu sắc huyền thoại về một nhân vật đang sống, biến câu chuyện của cá
nhân anh hùng thành câu chuyện của dân tộc anh hùng, Tnú là sự tiếp nối của Đăm san, Xinh Nhã…
thuở trước trong thời đại kháng chiến chống Mĩ, bao bọc nhân vật trong không khí sử thi, huyền
thoại “truyện kể một đêm, một đêm dài bằng cả đời người”.
2.2.3. Cuộc đời Tnú qua dòng hồi ức của cụ Mết
* Trước khi cầm vũ khí:
Dù sinh ra trong thân phận mồ côi, cuộc sống khổ nghèo, nhưng Tnú có tất cả:
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


Trích đoạn CHIẾC THUYỀN NGOÀI X A NGUYỄN MINH CHÂU (tiết 2) Đặc sắc nghệ thuật Nghệ thuật: kết cấu độc đỏo, cỏch triển khai cốt truyện rất sỏng tạo, khắc họa nhõn vật khỏ sắc sảo của một cõy bỳt bản lĩnh và tài hoa Tỡnh huống truyện (3 tỡnh huống rừ ràng) giỳp cỏc nhõn vật được
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status