Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn 2016 cực hay (Phần 7: Kí Kịch giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX) - Pdf 34

1


KHểA CHUYấN LTH Cụ NGUYN THANH MAI

NGI LI ề SễNG - NGUYN TUN (tit 1)

Li m: Tu bỳt l mt th loi vn xuụi cú úng gúp ỏng k vo nn vn hc hin i nc nh.
Cú th k ra nhiu tỏc gi, tỏc phm thnh cụng th loi ny: Thch Lam vi H Ni bm sỏu ph
phng, Nguyn Trung Thnh vi ng chỳng ta i, V Bng vi Thng nh mi hai, Hong
Ph Ngc Tng vi Ngụi sao trờn nh Phu Vn Lõu, Rt nhiu ỏnh la, Ai ó t tờn cho dũng
sụng? V khụng th khụng k n ụng vua ca th tựy bỳt Nguyn Tuõn vi Ngi lỏi ũ Sụng .
I. Tỡm hiu chung
1. Tỏc gi: Nguyễn Tuân (1910 1987) Xut hin trờn n vn vo cui thp niờn 30 v u 40,
Nguyn Tuõn ó khng nh ngay lp tc tờn tui ca mỡnh mt vn phm gn nh t n s hon
thin v hon m ca mt phong cỏch vit: Vang búng mt thi. ễng c coi l cõy i th ca
rng u ngun Vit Nam th k 20 vi mt phong cỏch ngh thut ti hoa, c ỏo. Là cây bút tài
năng c truyện ngắn, nghiên cứu phê bình văn học, ký...Tuy nhiên, v-ơng quốc để Nguyễn Tuân
xõy nờn lâu đài nghệ thuật nguy nga tráng lệ là ở Tuỳ bút. Ng-ời lái đò sông Đà là minh chứng cho
sở tr-ờng của nghệ thuật ở thể tài tuỳ bút. Qua õy, ngi c cú th thy chõn dung ca mt cỏi tụi
ti hoa, uyờn bỏc m mi con ch không chỉ là lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn, ch
nng tấm lòng của nhà văn đối với đất n-ớc, con ng-ời. Chính tấm lòng yêu con ng-ời, yêu đất n-ớc
góp phần làm nên những trang văn thật tài hoa của Nguyễn Tuân: Nói chuyện với Ng-ời lái đò sông
Đà nh- càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông n-ớc". (Lời tác giả).
MOON.V N

2. Tỏc phm
2.1. Xut x, hon cnh ra i, ti, ngun cm hng
- Tựy bỳt Ngi lỏi ũ Sụng rỳt t tp Sụng gm 15 tựy bỳt v mt bi th phỏc tho, ra
i nm 1960 trong khớ th phn khi ho hựng ca nhng nm thỏng min Bc xõy dng ch ngha
xó hi. Khp t nc dy vang Ting hỏt con tu, sc sụi ting gi vng v t on thuyn ỏnh

chính là cái mạch ngầm tư tưởng, cảm xúc có ý nghĩa quyết định đối với công việc sáng tạo của
người nghệ sĩ. Khi phân tích, không chỉ chú ý làm nổi bật cái tôi tài hoa, uyên bác, cần hết sức lưu
tâm đến cái tôi dào dạt, tinh tế trong cảm xúc, chân thành gắn bó với đất nước và dân tộc của một
nhà văn từng có thời kì dài thoát li cuộc sống, chỉ ham mải miết trong xê dịch,….
1. Hình tượng Sông Đà
1.1. Tính cách hung bạo- vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ
MOON.V N

* Vị trí của nhân vật trong tác phẩm: Hình tượng trung tâm của tùy bút là người lái đò, nhưng
những trang đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân lại dành cho con sông mà ở đó, hình như cái ngông của
ngòi bút Nguyễn Tuân đã gặp gỡ với cá tính đặc biệt của sông như một cuộc hẹn hò từ lâu với đứa
con bướng bỉnh của bà mẹ Tây Bắc. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã trân trọng viết hoa
cả hai chữ Sông Đà. Sông nước xứ mình đã chảy bao nhiêu trên trang viết của Nguyễn Tuân, nhưng
chưa ở đâu, hình ảnh dòng sông lại hiện lên sống động như một sinh thể, có tâm trạng, có linh hồn,
có tên riêng trong khai sinh, có lai lịch và tính cách phức tạp, phong phú như sông Đà trên trang văn
của Nguyễn. Sự phức tạp ấy tập trung thể hiện ở hai phương diện mà Nguyễn Tuân gọi là hung bạo
và trữ tình.
* Biểu hiện của tính cách hung bạo, vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của Sông Đà
- Hiện lên qua lời đề từ: Thơ Nguyễn Quang Bích:“Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc
lưu”. Nét riêng của Sông Đà: thế chảy độc đáo, nghịch ngược, không giống ai của Sông Đà. Nguyễn
Tuân tìm thấy sự đồng cảm với cái “ngông” của thiên nhiên.
- Biểu hiện chủ yếu ở khúc thượng nguồn: lắm thác, nhiều ghềnh, độ dốc lớn, nước chảy xiết.
+ Bờ sông có những đoạn rất hiểm trở: Vách đá: “dựng vách thành”, hai bờ sừng sững như áp sát
nhau. Đó là vách đá hẹp, sâu, dốc thẳng đứng được đặc tả bằng một loạt các liên tưởng, so sánh cụ
thể, độc đáo: Mặt sông chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Nó chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu.
Đứng bên này nhẹ tay ném hòn đá qua vách… Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang
bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh…ta có cảm giác thất
thần như ngước nhìn lên một tòa cao tầng nào đó vừa tắt phụt đèn điện. Chưa hết bàng hoàng, ta bị
cuốn theo những âm thanh man dại của âm thanh tiếng nước mặt ghềnh Hát Loóng
- hotline: 04.32.99.98.98

hút nước mà còn bộc lộ bản chất nham hiểm, xảo quyệt. Mặt sông Đà “cả một chân trời đá nó bày
thạch trận trên sông đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngay trên sông đòi ăn chết cái
thuyền”. Có những đoạn mặt ghềnh “nước xô đá đá xô sóng sóng xô gió cuồn cuộn những luồng
ghùn ghè suốt năm...”. Mặt hòn đá nào cũng ngỗ ngược, “nhăn nhúm”, méo mó. Nó đứng, ngồi, nằm,
nghiêng với những nhiệm vụ riêng, bày sẵn thạch trận thành ba tuyến. Bày ba trùng vi nhằm tước
đoạt và hủy diệt đến cùng sự sống của con người: giở mọi thủ đoạn, mưu ma chước quỷ để dẫn dụ,
phục kích, đó là “binh pháp” sâu hiểm của “thần sông thần đá”. Chúng đã chọn khúc ngoặt – khi tầm
nhìn bị hạn chế để đánh phục kích, dụ người vào sâu thế trận, đánh quật vu hồi, cô lập hóa, chặn mọi
đường sinh. Khi giáp lá cà: giở mọi ngón đòn hiểm ác: nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, uy
hiếp tinh thần đối phương.
Với cách miêu tả mang cảm giác mạnh, nhà văn Nguyễn Tuân đã dựng nên một nét tính trội của
sông Đà đó là rất dữ dội hung bạo nhưng đồng thời nó cũng rất sống động như một sinh thể sống. Vì
thế tác giả thường gọi con sông Đà chứ ít gọi là dòng sông.
+ Tuy nhiên, để thấy hết cái dữ dội của Sông Đà, phải cùng ông bước vào trận thủy chiến với cả
một đội quân hùng hậu, đông đảo, dữ dằn, hung hãn của sông gồm có lực lượng: đá hậu, đá tướng, đá
tiền vệ với nhiều thủ đoạn nham hiểm. Chúng giăng sẵn trận đồ bát quái với ba trùng vi, tập đoàn cửa
sinh cửa từ, hệ thống boongke, pháo đài đá chìm nổi, lộ diện hay giấu mặt... Trùng vây thứ nhất có
bốn cửa tử, một cửa sinh. Sóng trận địa phóng thẳng vào mình, mặt nước hò la vang dậy (…), ùa vào
- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
mà bẻ gẫy cán chèo võ khí trên cánh tay ông lái, chúng dọa dẫm, sấn sổ, hiếu chiến, sóng nước như
quân liều mạng đội thuyền lên với vẻ hùng hổ, nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò
đòi lật ngửa mình giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, hung hăng như một đấu sĩ bất bại. Chúng
đã dùng đến miếng đòn hiểm độc nhất: luồng nước (..) bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò. Chúng muốn
giở ngón đòn hiểm hóc quyết định nhằm nốc ao đối phương.
- Trùng vây thứ hai, chúng tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí
lệch qua phía bờ hữu ngạn. Chúng bộc lộ bộ mặt nham hiểm, xảo quyệt. Dòng thác hùm beo đang
hồng hộc tế mạnh trên sông đá- thiên nhiên hùng mạnh như thú dữ. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải

KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - NGUYỄN TUÂN (tiết 2)

Ngòi bút Nguyễn Tuân không chỉ vẫy gió tuôn mưa khi nói về vẻ đẹp hùng vĩ của dòng sông mà tâm
hồn còn dào dạt mênh mông khi viết về dòng sông trữ tình. Có thể nói, tất cả những đối cực khác
nhau của cái đẹp đều được nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân phô khoe hết vẻ đa dạng phong phú
trong ngòi bút...
1. Hình tượng Sông Đà (tiếp)
1.2. Vẻ đẹp nên thơ và trữ tình
- Vẻ đẹp trữ tình thể hiện trong lời đề từ thứ hai, thơ của nhà thơ Ba Lan:“Đẹp vậy thay tiếng hát
trên dòng sông”: cảm thán về vẻ đẹp nên thơ, thi vị của các dòng sông- hé mở vẻ đẹp trữ tình của
Sông Đà và vẻ đẹp tâm hồn con người gửi vào tiếng hát.
- Tính trữ tình thể hiện tập trung ở khúc hạ lưu với dòng chảy và màu nước. Dòng chảy êm,
phẳng, rộng, tạo nét tính cách tương phản với sự hung bạo được miêu tả cụ thể, chân thực bằng rất
nhiều hình ảnh gợi cảm và màu nước biến ảo theo mỗi mùa.
- Tính trữ tình thể hiện trong điểm nhìn động: theo thời gian (mùa); theo không gian (trên cao- xa);
từ tư thế (ngồi thuyền- đi).
+ Từ trên cao, xa nhìn xuống, Sông Đà như một cái Dây thừng ngoằn nghèo. Tuôn dài, tuôn dài
như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo
tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Đó là vẻ đẹp duyên dáng, thơ mộng, e ấp
như mang cả hương thơm quyến rũ của núi rừng (áng tóc thơm hương hoa ban hoa gạo). Nguyễn
Tuân khi phản ánh sự vật sự việc bao giờ cũng tìm cách đẩy sự vật sự việc đến độ tột cùng tột đỉnh.
Vì thế sông Đà trong con mắt của Nguyễn Tuân hung bạo bao nhiêu thì cũng rất trữ tình bấy nhiêu.
Sông Đà không chỉ đẹp ở hình dáng mà còn đẹp ở sự thay đổi sắc màu ấn tượng.
+ Từ điểm nhìn theo thời gian, ta còn được tác giả cho thấy sự kì ảo của màu nước: Mùa xuân dòng
xanh ngọc bích chứ Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước
Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người
bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về- Những dòng văn ngậm đầy chất họa, chất nhạc, chất thơ cho thấy
khả năng quan sát tinh tế, ngôn ngữ cá thể hóa cao độ nhờ những so sánh độc đáo, chân xác.

Nguyễn Tuân sông Đà là một cố nhân và sẽ càng đẹp hơn trong khúc hát xây dựng tương lai.
1.3. Tiểu kết
- Để xây dựng hình tượng con sông Đà như một sinh thể có số phận, nhà văn đã huy động tổng hợp
nhiều thủ pháp nghệ thuật: nghệ thuật tả thực và lãng mạn, sự phối hợp nhiều thủ pháp của hội họa,
của điện ảnh, nghệ thuật sử dụng ngôn từ một cách đa dạng sáng tạo, nhờ thế vẻ đẹp và đặc tính của
dòng sông được hiện lên rất đa diện. Xây dựng hình tượng con sông Đà nhà văn vừa để chứng minh
tài nghệ của người lái đò sông Đà vừa để người đọc thấy răng, sông Đà là một con sông đặc biệt đầy
triển vọng trong khúc hát xây dựng tương lai.
- Ngòi bút tài hoa và biến hóa của Nguyễn Tuân đã thổi linh hồn cho Sông Đà, để vật thể vô tri hiện
lên với những tính cách đối nghịch mà thống nhất. Từ đó, nét tài hoa, uyên bác trong nhìn nhận,
khám phá, miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Tuân được thể hiện một cách đầy thuyết phục.
2. Hình tượng người lái đò
2.1. Khái quát
- Khắc họa trong tương quan với hình ảnh Sông Đà hung bạo, hùng vĩ.
- Ông lái đò không tên, dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Tuân là khắc sâu phẩm chất dũng cảm, gan
dạ, kiên cường (bộc lộ rõ nhất khi nhân vật đương đầu với khó khăn, thử thách) của những con người
bình thường, vô danh. Giả sử có một cái tên hoặc đặt ông lái trong khung cảnh thi vị trữ tình của
Sông Đà thì nhân vật sẽ trở thành một nghệ sĩ đa tình, giống như thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân
trước cách mạng. Ông lái đò chỉ trở thành người anh hùng - nghệ sĩ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt
thác.
2.2. Phẩm chất tài năng, trí dũng
- Nắm chắc qui luật của thần sông thần đá. Thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở.
Hé mở vấn đề mang ý vị triết học sâu xa: trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù bốn chân,
con người am hiểu và làm chủ quy luật là con người tự do, dẫu đó là quy luật đầy khắc nghiệt, chỉ
cần một chút lơi tay, do dự và mất bình tĩnh là có thể trả giá bằng cái chết.
- Trong cuộc giao tranh với thạch trận: Bút pháp tương phản dựng lên cuộc tranh chấp quyết liệt,
gay gắt, căng thẳng trên thạch trận Sông Đà giữa một bên là thạch trận Sông Đà (thiên nhiên), một
bên là Ông đò (con người). Lực lượng kẻ thù gồm tất cả bọn đá hậu, đá tướng, đá tiền vệ với nhiều
thủ đoạn nham hiểm. Cả một đội quân hùng hậu, đông đảo, dữ dằn, hung hãn. Chúng còn giăng sẵn
trận đồ bát quái: ba trùng vi, tập đoàn cửa sinh cửa từ, hệ thống boongke, pháo đài đá chìm nổi, lộ

- Vượt trùng vây thứ hai: Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt, ông nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng
luồng, ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vòa cửa sinh, lái miết một
đường chéo về phía cửa đá. Những động tác thành thạo, chính xác, dũng mãnh...
- Vượt trùng vây thứ ba: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa. Thuyền vút qua cổng đá
cánh mở cánh khép. Hành động dũng cảm, động tác nhanh gọn, dứt khoát. Với nhịp văn gấp gáp,
hơi văn căng thẳng, câu văn dồn dập gợi không khí cuộc giao tranh quyết liệt, một sống một chết
giữa ông Đò và thủy thần. Với sự tương phản hai lực lượng: một bên là thiên nhiên – thác đá Sông
Đà bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song, một bên là con người – ông lái đò bé nhỏ, cạn kiệt sức, tác
giả đã tạo nên một khúc tráng ca ca ngợi bản lĩnh, sự dũng cảm và khả năng chinh phục tự nhiên của
con người. Kết hợp kiến thức uyên bác của nhiều lĩnh vực: võ thuật, thể thao, quân sự… và trí tưởng
tượng phong phú cùng kho chữ nghĩa phong phú, tài hoa, biến câu chuyện bình thường của người lao
động trên sông thành bản trường ca về người anh hùng – nghệ sĩ lái đò trong nghệ thuật vượt thác.
2.3. Ông đò vừa là một dũng sĩ vừa là một nghệ sĩ.
- Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Khái niệm
tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ,
viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ,
nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân
đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ
thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.
- Song, quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính
xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác
nó dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ như người Mèo kêu mỏi chân khi dẫm lên đồng bằng thiếu dốc
thiếu đèo. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò không chỉ thuộc dòng sông,
thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này mà còn phải nắm chắc binh pháp của thần
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

Đến với những tác phẩm của Nguyễn Tuân là ta đang đến với một tâm hồn vô cùng phong
phú, với những phát hiện hết sức tinh tế, độc đáo về quê hương. Chỉ có N.T mới không nhọc công dò
đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh ra sông Đà, để biết chỗ phát
nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam và thoạt kì thủy, dòng sông mang những cái
tên Trung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên, theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên TQ của SĐ lại là Bả
Biên Giang, từ biên giới Việt Trung tới ngã ba Trung Hà (chỗ sông Đà chan hòa vào sông Hồng) là
500 cây số lượn rồng rắn, và tính toàn thân sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét chảy qua
hai nước VN và TQ. Cũng chưa có nhà văn nào trước N.T có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác
lớn nhỏ nằm lô nhô suốt một dải sông từ Lai Châu về đến chợ Bờ. Cũng không có ai như Nguyễn, để
có thể hạ bút viết đúng ba câu về màu sắc nước sông Đà đã phải có mấy lần bay ngang qua miền
sông ấy. SĐ như áng tóc mun dài ngàn vạn vạn sải...như một con cá bị chúa đất từng vùng cắt ngang
ra thành từng khúc nhỏ. Con sông đã ác như người dì ghẻ, chúa đất chia bến ngăn sông lại càng làm
cho sông Đà ác thêm, đế quốc đóng đồn bốt ven sông, tính dữ ác của con sông càng tăng lên mấy
lần...
TIẾT 3
Đề 1: Đọc hiểu.
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi
lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích,
giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa
rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da
cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá.
Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất
hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số
hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn
nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. (Trích Tuỳ bút Sông Đà-Nguyễn Tuân)
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3. Trong đoạn văn trên, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều biện pháp tu từ về từ. Xác định biểu hiện các
phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì ?

1. Phân tích nhân vật người lái đò sông Đà
1.1. Vài nét về hình ảnh con sông Đà: Sông Đà hiện lên thật hung dữ nhưng cũng không kém phần
thơ mộng, trữ tình là cái nền để người lái đò xuất hiện..
1.2. Nhân vật người lái đò sông Đà:
a. Ông lái đò có ngoại hình và những tố chất khá đặc biệt
b. Ông lái đò là người tài trí, luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ:
c. Ông lái đò rất mực dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy nguy hiểm:
d. Ông lái đò là một hình tượng đẹp về người lao động mới. Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân
muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong
cuộc sống lao động thường ngày. Ông lái đò chính là một người anh hùng như thế.
2. So sánh với nhân vật Huấn Cao
2.1. Nhân vật Huấn Cao
a. Nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một con người tài hoa, khí
phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng.
b. Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, có sức chinh phục, cảm hóa mãnh liệt đối
với những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”.
c. Hình tượng ông Huấn Cao là hình tượng điển hình cho vẻ đẹp “vang bóng một thời” nay đã lùi
vào quá khứ chỉ còn dư âm trong tâm trạng của những tấm lòng tích cổ thương kim (Những người
muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ- Vũ Đình Liên)
2.2. Từ việc tìm hiểu vài nét về vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao, chúng ta sẽ dễ thấy
được chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau
Cách mạng tháng Tám.
a- Nét chung (tính thống nhất)
- Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ.
- Vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa
nghệ thuật khác nhau trong miêu tả và biểu hiện.
- Vẫn sử dụng vốn ngôn từ hết sức tinh lọc, phong phú, độc đáo. Khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy
giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng. Các phép tu từ được nhà văn phối
hợp vô cùng điêu luyện.
b- Nét riêng (tính khác biệt)

3. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân còn ở phong cách tài hoa uyên bác.
Sự Tài hoa khiến phong cách Nguyễn Tuân phải nóng rẫy sự sống, nó phải nổi hình, nổi âm
thanh, nổi cảm giác. Nguyễn Tuân đúng là ng-ời nghệ sĩ của ngôn từ với những sáng tạo từ mới lạ
độc đáo mà chính xác tinh tế. Khi tác giả viết sông Đà tuôn dài tuôn dài nh- áng tóc trữ tình khi
chữ áng th-ờng nói về tác phẩm hay hay tác phẩm đẹp biến sông Đà thành một tác phẩm tuyệt mỹ
mà thiên nhiên ban tặng cho con ng-ời. Ông lái đò đ-ợc miêu tả khi bị th-ơng nén chịu nỗi đau,
Nguyễn Tuân dùng ba chữ mặt méo bệch chứ không phải là mặt méo xệch, nếu là mặt méo xệch là
diễn tả nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt, còn méo bệch thì không những làm biến dạng khuôn mặt
mà còn nhợt nhạt. Khuôn mặt là méo bệch qua nôĩ đau mới càng khắc hoạ và làm nổi bật lên nghị lực
của lòng quả cảm của ông lái đò. Hai chữ ặc ặcgợi tả hút n-ớc sông Đà là hai chữ rất thần tình
n-ớc ặc ặc lên nh- vừa rót dầu sôi vào hai chữ ặc ặc miêu tả rất tài thứ âm thanh quái vật khiến
sông Đà nh- là thứ thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại.
Hình ảnh trong văn Nguyễn Tuân đ-ợc xây dựng trên những liên t-ởng bất ngờ độc đáo. - Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân còn là phong cách nghệ thuật uyên bác.
Nhà văn lao động công phu nghiêm túc trong nghệ thuật. Tr-ớc khi viết Nguyễn Tuân tìm hiểu sâu
sắc đối t-ợng với sự hiểu biết t-ờng tận. Để viết tác phẩm Ng-ời lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đi từ
thực địa nhiều lần ông đến với sông Đà vào mùa xuân để thấy cảnh n-ớc xanh màu ngọc bích, đến
thăm cảnh vào mùa thu để thấy cảnh n-ớc sông Đà lừ lừ chín đỏ. Nhà văn có khi đi bằng thuyền có
khi lại ngồi trên máy bay để có cái cảm giác dòng sông Đà nh- chiếc dây thừng loằng ngoằng d-ới
cánh máy bay. Nguyễn Tuân còn đọc trong sách vở, th- tịch cổ. Đọc cả D- địa chí của Nguyễn Trói
tr-ớc khi đặt bút viết về sông Đà.
Nhà văn huy động nhiều tri thức nhiều ngành nghề văn học nghệ thuật khác nhau để tìm hiểu,
phản ánh đối t-ợng. Miêu tả sông Đà tác giả vận dụng những hiểu biết về địa lý, lịch sử ngôn ngữ
văn học. Với hiểu biết về địa lý nhà văn có thể nói t-ờng tận sông Đà bắt nguồn từ đâu, đến
đoạn nào thì nhập quốc tịch Việt Nam. Tr-ớc Nguyễn Tuân ch-a có nhà văn nào có thể kể ra
vanh vách 50 trong tổng số 73 con thác dữ. Sông Đà đ bao lần đổi tên qua các triều đại, đ từng
có những chiến công nào trong quá khứ và trong cuộc kháng chiến chống Pháp đ bị bọn thực dân đổi
tên và gọi bằng cái tên Tây lếu láo. Với những tri thức về ngôn ngữ văn học, Nguyễn Tuân đ bác bỏ
luận điệu của bọn thực dân cho rằng chữ Đà là đen nên gọi là sông Đà là sông Đen. Nhà văn nêu rõ
chính bọn thực dân đ đè ngửa con sông rồi đổ mực Tây lên đó để ghi bừa lên bản đồ sông Đà là sông
Đen. Thực ra n-ớc sông Đà mang vẻ đẹp huyền diệu không lờ lờ nh- một màu canh hến nh- n-ớc

- Sc hp dn ca tựy bỳt xột n cựng l s hp dn ca cỏi tụi- ngi cm bỳt.
- Qua õy, ngi c cú th thy chõn dung ca mt cỏi tụi ti hoa, uyờn bỏc m mi con ch không
chỉ là lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn, đó là tấm lòng của nhà văn đối với đất n-ớc, con
ng-ời. Chính tấm lòng yêu con ng-ời, yêu đất n-ớc góp phần làm nên những trang văn thật tài hoa
của Nguyễn Tuân: Nói chuyện với ng-ời lái đò sông Đà nh- càng lai láng thêm cái lòng muốn đề
thơ vào sông n-ớc". (Lời tác giả).

MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG - HOÀNG PHỦ
NGỌC TƯỜNG (tiết 2)
Mở: Không cuồn cuộn tuôn về biển Đông như dòng sông Bạch Đằng, không hùng vĩ tạo khúc hát
hùng ca như sông Đà hay đẹp một cách xót xa kì ảo như dòng sông Đuống trôi nghiêng trong thơ
Hoàng Cầm, sông Hương bao đời vẫn mang vẻ mê hoặc quyến rũ riêng khiến có người gắn bó cả đời
với Huế vẫn phải thảng thốt: Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Giờ học này, mời các em hãy cùng đến với bài bút kí nổi tiếng Ai đã đặt tên cho dòng sông? để cảm
nhận vẻ đẹp đa dạng của sông Hương trong tấm lòng của người dân Châu Hóa xưa mãi chung tình
với quê hương xứ sở.
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Sinh 9/9/1937 tại thành phố Huế, học trung học và đại học ở Huế, nhiều năm sống và hoạt động
cách mạng, công tác tại Huế, gắn bó với đất và người nơi đây, am hiểu sâu sắc cội nguồn và linh hồn
văn hóa xứ sở. Là một trí thức yêu nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Ông có làm
thơ, viết nhàn đàm (bàn chuyện thế sự hàng ngày), nhưng sở trường vẫn là bút kí, tùy bút. “Trong
bút kí, HPNT phát hiện ra nhiều giá trị nghệ thuật mới mẻ, đẹp đến nao lòng, nhân ái ngập tràn từng

đời thường.
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
+ Kí có nhiều tiểu loại: kí sự, bút kí, phóng sự, nhật kí, hồi kí, tùy bút...Bút kí là thể loại ghi chép các
sự kiện, qua đó ghi lại những cảm xúc suy nghĩ của tác giả. Tùy bút là một thể loại của kí, nhưng đó
là thể giàu chất trữ tình nhất, khá tự do trong quá trình sáng tạo. Ngôn ngữ trong tùy bút giàu hình
ảnh, giàu chất thơ...Trong thành tựu của kí không thể không khắc đến Nguyễn Tuân, Nguyễn Trung
Thành, Nguyễn Thi, HPNT....
- Đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường: + Kí HPNT bộc lộ một trí tuệ sắc sảo uyên bác.
+ Kí HPNT thiên về tùy bút. Thể loại chuyên ghi chép các sự việc xác thực qua ngòi bút HPNT lại
thấm đẫm chất trí tuệ, nặng trĩu nỗi trầm tư.
+ Kí HPNT thường có tính chất tự do tản mạn. Cách tổ chức văn bản thường mang tính nghệ thuật
cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi cảm.
+ Nguồn mạch xuyên suốt các tác phẩm kí HPNT là lòng yêu quê hương đất nước, là tâm huyết với
tinh hoa dân tộc.
II. Đọc hiểu văn bản
“Quê hương ai cũng có một dòng sông”, nên dòng sông luôn là một hình ảnh biểu tuợng cho quê
hương. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng vậy, sông Hương chính là Huế. Dòng sông “vừa là một
cảnh quan thiên nhiên, vừa là một thành phần của văn hóa phi vật thể của cố đô Huế”; và là “tấm
lòng người dân nơi Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”.
1. Hình tượng sông Hương trong vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên
1.1. Vẻ đẹp sông Hương nhìn từ nguồn cội
+ Nhìn từ cội nguồn: có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn: như một “bản trường ca của rừng
già” với nhiều tiết tấu trầm bổng.- Rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn- hùng tráng.- Mãnh liệt vượt qua
ghềnh thác- ào ạt.- Cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực sâu- dữ dội.
- Dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên rừng- nên thơ, tình tứ, mê


- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
• Bút pháp: kể và tả, sự liệt kê được thơ hoá bằng thụ cảm tài hoa, tinh tế.
+ Sông Hương khi chảy vào thành phố:
- Giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long: Vui tươi hẳn lên, đó là tâm trạng của một
người đi xa “tìm đúng đường về”, nao nức bồi hồi giữa bờ bãi thân thuộc của quê hương.
- Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến, làm cho dòng sông
mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Một so sánh lạ, dùng tiếng “vâng” vốn
trừu tượng, e ấp, ngập ngừng, ý vị, thiêng liêng trên bờ môi cô gái đang yêu để tả hình dáng mềm
mại nơi cánh cung của dòng sông, thể hiện cái nhìn tình tứ, thống nhất, đem lại cho người đọc những
khoái cảm thẩm mĩ độc đáo.
- Liên tưởng và suy tư của nghệ sĩ:
• So sánh sông Hương với sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, những tên sông đã trở
thành linh hồn của thủ đô các nước, thành biểu tượng văn hóa của quốc gia, ngầm thể hiện lòng tự
hào về sông Hương và kinh thành Huế. (Liên hệ với Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo”: đặt
các triều đại Việt Nam sánh ngang với các triều đại Trung Hoa)
• Liên tưởng khi từ khói lửa miền Nam tới Lê –nin-grát, đứng nhìn sông Nê-va, lâu năm xa Huế:
Sống dậy giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại: muốn hóa làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con
tàu thủy tinh để đi ra biển. Cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho
lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo… Hai nghìn năm trước:
triết gia Hi Lạp “khóc suốt đời vì dòng sông trôi đi quá nhanh”. Nhớ lại con sông Hương: “quý điệu
chảy lững lờ của nó khi đi ngang thành phố”, điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế.
Khám phá vả cảm nhận sâu sắc đặc trưng riêng của dòng sông khi chảy qua kinh thành Huế: điệu
chảy êm đềm, chậm mềm, lặng lẽ, như không vương vấn chút nào cái xô bồ của thời gian, sự nuối
tiếc của con người vì mọi thứ một đi không trở lại. Sông Hương nguyên sơ, trăm năm không đổi
thay, như mang thần thái, quan niệm vũ trụ tuần hoàn của Phương Đông, như điệu chảy thời gian bất
di bất dịch trong thơ ca cổ điển Việt Nam và Trung Hoa. Sông Hương mang cảm nghiệm thời gian



KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
hoa phù dung và đôi khi màu nước không biết từ đâu mà có, không giống với màu trời. Đó là một nét
động trong cái tĩnh của thành phố...” (Sử thi buồn). Là biểu tượng cho lẽ vô thường, nên dòng sông
cũng đồng thời là biểu tượng cho đời người. Người Trung Hoa cũng cho rằng 64 quẻ trong Kinh
dịch, quẻ kí tế (đã qua sông) lại ở trước quẻ vị tế (chưa qua sông) mang một ý nghĩa thật sâu xa về
cuộc đời, nói lên cuộc hành hương vô tận của con người trong thời gian, vũ trụ. Đúng là trong
mỗi con người cũng có những dòng sông, là “những dòng máu, vận hành trong lẽ tuần hoàn của
vũ trụ và chuyên chở biết bao điều huyền nhiệm của cuộc sống”. Ngược lại, mỗi dòng sông cũng
gói trong lòng nó biết bao thân phận đời người. Tiếp nhận sông Hương từ phương diện triết học,
Hoàng Phủ Ngọc Tường cho ta thấy rõ hơn sự ám ảnh về nỗi bất lực của kiếp người hữu hạn trước
dòng trôi vô thủy vô chung của thời gian. Nhìn dòng Hương trôi chảy, ông nhớ đến xưa kia: “Có một
người Hi Lạp tên là Hêraclit đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi quá nhanh!”. Thời gian với
những quy luật nghiệt ngã của mất - còn luôn là nỗi trăn trở của loài người. Sông đây đã chảy, đang
chảy và vẫn sẽ luôn chảy nhưng bờ sông bồi lở, vật đổi sao dời, đời dâu bể và cái gì còn, cái gì mất?
Đọc tác phẩm Thiên văn của Nguyễn Huy Thiệp, ta cũng thấy bi kịch đau đớn này: Này nhé: này là
dòng sông/ Định mệnh cứ cuồn cuộn chảy/ Bồi và lở. Thấu hiểu hơn ai hết, Hoàng Phủ Ngọc Tường
đã nhập thế, sống hết mình, hòa cái tôi của mình vào dòng chảy cuộc sống để nâng niu trân trọng
những giá trị đang hiện hữu. Mà có lẽ cũng vì thế, ông mới yêu quý tha thiết “điệu chảy lặng lờ” như
“điệu slow tình cảm” của sông Hương khi nó ngang qua thành phố...

MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG - HOÀNG PHỦ

bình thường – những người sáng tạo ra văn hóa, văn học, lịch sử là những người “đã đặt tên cho
dòng sông”
- Một vài đặc sắc nghệ thuật
+ Ngôn ngữ: phong phú, giàu hình ảnh, gợi cảm.
+ Hình ảnh: so sánh độc đáo bằng liên tưởng lãng mạn, đậm chất trữ tình.
+ Thủ pháp: nhân hóa. Sông Hương được cảm nhận như một sinh thể sống động, là người con gái
dịu dàng đằm thắm với tất cả các cung bậc cảm xúc, thuận lợi để đan cài những suy tưởng về văn
hóa, lịch sử, về truyền thống con người và đất nước Việt Nam.
3. Cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: Uyên bác (kiến thức về lịch sử, địa lí, văn hóa…). Tinh tế, tài
hoa (cảm nhận những khía cạnh khuất lấp của con sông: nét hoang dại…; ngôn so sánh độc đáo,
ngôn từ phong phú gợi cảm…). Giàu trí tưởng tượng, lãng mạn, bay bổng (tưởng tượng hành trình
tìm về cố đô như hành trình tìm về với “người tình mong đợi”…). Gắn bó máu thịt và tự hào với
cảnh vật và con người Huế (những suy tưởng, đối sánh khi đứng trước sông Nê-va…).
3.1. Một cái tôi dạt dào cảm xúc - Đó là cái tôi người trí thức yêu nước vừa bước ra từ trong khói
lửa chiến tranh nên có một tư thế tự do, tự tin và tự hào để mà nhìn vào mối quan hệ và dòng chảy
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
của lịch sử dân tộc để khẳng định sức sống, sức mạnh của nó. Đó cũng là cái tôi - một người nghệ sỹ
giàu rung động và rất lãng mạn khi chọn cho mình một điểm nhìn thật đặc biệt về con sông.
3.2. Một cái tôi nghiêm túc cẩn trọng trong tìm kiếm và phát hiện
+ Kiến thức: phong phú và có chiều sâu. Nhà văn đã cung cấp cho bạn đọc một lượng thông tin đa
dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên con người xứ Huế. Những kiến thức tổng
hợp nhiều mặt về con sông Hương từ địa lý, lịch sử, văn hoá, văn chương và đời sống, tự nhiên và
khảo cổ, cái hiện sinh và những gì thuộc về xa xưa. Ví dụ địa lý: chảy từ rừng già, giữa lòng Trường
Sơn, êm đềm trong thành phố rồi chia tay Huế ở thị trần Bao Vinh...Về lịch sử các triều đại, về văn
hóa âm nhạc, thi ca... Đọc bài viết có thể thấy công phu nghiên cứu, tìm hiểu của nhà văn thật đáng

Phủ Ngọc Tường có thể nhận ra nét riêng của Sông Hương trong nhịp điệu, trong sắc thái văn hoá
và trong quan hệ của nó với thành phố của mình. Trong những chuyến đi dọc sông Hương, chuyến
đi về làng Thành Trung có một vai trò quan trọng đặc biệt bởi nó cho nhà văn không chỉ những
thông tin, dấu vết về một khu thành cổ, một vùng đất chiến lược thuở xa xưa mà còn là một cơ hội để
nhận rõ bản lĩnh Việt sâu sắc, một sức sống Việt thật mãnh liệt, một tâm hồn Việt thật giàu có phong
phú, một khí đất thật hùng hậu và hương đất thật nồng nàn…+ Đi suốt dọc sông Hương để
trải nghiệm bao nhiêu cảm xúc, cảm giác để hiểu thấu bao nhiêu giá trị, nhận ra bao nhiêu vẻ đẹp của
địa lí và văn hoá, đời sống và lịch sử, cuối cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm được câu trả lời cho
câu hỏi khắc khoải vẫn luôn vang vọng trong suốt bài tuỳ bút: “Con người đã đặt tên cho dòng
sông như nhà thơ chọn bút hiệu cho mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và
tiếng Thơm để xây đắp văn hoá và lịch sử”. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết về sông Hương không
chỉ bằng cảm nhận và hiểu biết về dòng sông mà còn bằng cảm nhận và hiểu biết về con người
Huế để từ đó mà thấy một cách sâu sắc và thấm thía rằng, không chỉ đặc điểm địa lý mà quá trình
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
lịch sử cùng với diện mạo văn hoá do con người tạo nên đã hình thành cho sông Hương một diện
mạo, dáng vẻ và cả một tâm hồn.
3.3. Một cái tôi tài hoa và vô cùng lãng mạn
+ Trí tưởng tượng mạnh mẽ và phong phú: nhà văn không thuần tuý chỉ ghi chép một cách chính
xác khách quan mà còn biết tạo cho mình rất nhiều cơ hội để tưởng tượng: Viết về con sông lại bắt
đầu từ việc đọc Kiều để cảm nhận văn chương hoà quyện với cảm nhận về con sông xứ Huế. Và phút
nhận ra cuộc gặp gỡ giữa âm hưởng sâu thẳm của Huế với cảnh sắc thiên nhiên qua ngòi bút miêu tả
của Nguyễn Du trên mỗi trang Kiều cũng chính là lúc nhà văn tưởng tượng về mối quan hệ giữa sông
Hương và thành phố của nó là mối quan hệ của một cặp tình nhân lý tưởng. Cũng trong trí tưởng
tượng bay bổng của nhà văn, sông Hương khi là một dòng nhạc đa âm sắc (bản trường ca rầm rộ
của rừng già, điệu slow của tình cảm, bản đàn lúc đêm khuya với tiếng nước rơi bán âm của

3.4. Đánh giá: Với vốn cảm xúc, kho kiến thức dồi dào, trí tưởng tượng phong phú và sự trải
nghiệm thực tế lại cộng thêm vốn chữ nghĩa rất đẹp, rất thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thực sự
mê hoặc được người đọc để hoàn toàn chủ động trong việc dẫn dắt chúng ta đi theo nhà văn để
hào hứng thưởng thức vẻ đẹp của một dòng sông như một người con gái có nhan sắc, có tâm hồn,
có sức sống và cũng đầy sức mạnh để đi hết cuộc hành trình, sống trọn vẹn đời sống và khẳng
định mạnh mẽ bản lĩnh và lý tưởng của nó.
III. Kết luận: Không biết tự bao giờ, sông Hương đã trở thành đối tượng thẩm mĩ khơi nguồn cảm
hứng dạt dào cho các thế hệ thi nhân. Ta đã từng biết đến dòng sông êm trong thơ Tố Hữu, dòng
sông trắng lá cây xanh trong thơ Tản Đà, con sông nửa thực nửa mơ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo.
- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
Là một nhà văn, nhà giáo từng tham gia tích cực các phong trào yêu nước chống Mỹ ngụy, có tình
yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đất nước, với truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời của dân tộc,
HPNT cũng đã đem đến cho bạn đọc bao khoái cảm thẩm mĩ về sông Hương qua những lời văn thật
đẹp, thật sang để dạy ta biết quí yêu hơn tổ quốc.

MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG - HOÀNG PHỦ
NGỌC TƯỜNG (tiết 3)
DẠNG 1 : ĐỌC HIỂU
Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói
rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều

(...) Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây
trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.
Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà
nhìn xuống dòng sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứa nước sông Đà không xanh màu
xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người
bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về (...)
(Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, nâng cao, tập 1, NXB giáo dục, 2009, tr.157)
(...) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu
dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở lên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy núi, đồi
sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bạo mà từ
đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ
bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền
trời Tây Nam thành phố, "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím" như người Huế thường miêu tả (...)
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
(Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tưởng, Ngữ văn 12, nâng cao, tập 1, NXB giáo
dục, 2009, tr.197)
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm- Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ lớn, với phong cách nghệ thuật độc
đáo, nổi bật là nét tài hoa, uyên bác, đặc biệt sở trưởng về tùy bút. Người lái đò sông Đà là một tùy
bút đặc sắc kết tinh nhiều mặt của phong cách Nguyễn Tuân viết về vẻ đẹp và tiềm năng của con
người Tây Bắc - Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nghệ sĩ tài hoa, mang đậm chất Huế, có nhiều thành
tựu về thể kí. Ai đã đặt tên cho dòng sông? lầ một tùy bút giàu chất trữ tình viết về vẻ đẹp sông
Hương với bề dày lịch sử và văn hóa Huế, rất tiêu biểu cho phong cách của ông
2. Về đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò sông Đà
- Về nội dung+ Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp đầy chất tạo hình của sông Đà với hình dáng thơ
mộng, đường nét mềm mại, ẩn hiện; màu sắc dòng nước biến đổi tương phản theo mùa, gây gấn

vậy. Đó là những áng văn, câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp
đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ, mới mẻ...
Và theo Lê Uyển Văn, thì: Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp
trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa
lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh, những Nguyễn Du, những Bà huyện
Thanh Quan, những Tố Hữu...đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây trời. Cũng như tình
yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá
trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình...
Anh/chị có đồng ý với hai ý kiến trên không? Hãy trình bày suy nghĩ và cảm nhận của bản thân về vẻ
đẹp riêng của sông Hương xứ Huế qua trang viết tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT - LƯU QUANG VŨ (tiết 1)

I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả: Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) Đà Nẵng, sinh tại: Phú Thọ.
- Là nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết truyện ngắn, viết kịch, lĩnh vực nào cũng có những thành công.
- “ Nhà viết kịch xuất sắc của thời kì hiện đại”.
2. Tác phẩm
- Sáng tác 1981, công diễn 1984.
- Từ cốt truyện dân gian, xây dựng vở kịch nói hiện đại.
- Đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc.
- Kết cấu: 7 cảnh và 1 màn kết thúc.
- Phần trích thuộc cảnh 7 và màn kết.
- Tóm tắt:

- Đang trong sự bế tắc vô vọng, Trương Ba chợt nghe thấy những lời nói từ Xác chỉ biết đáp lại
bằng chính sự kinh ngạc vốn có của mình: “A, mày cũng biết nói kia à?”. TB ngạc nhiên, trả lời lại
bằng cách đưa ra một câu hỏi, sau đó liên tục phản đối Xác, giọng vẫn còn khinh bỉ. Cách xưng hô
“mày”; “tao” thể hiện rõ sự khinh bỉ, miệt thị đối với Xác “Vô lí! Mày không thể biết nói ! Mày
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI
không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt âm u đui mù..” . Hồn Trương Ba buông ra những lời thóa mạ
Xác.
- Thấy Hồn vừa phủ định vừa khinh miệt mình, Xác khẳng định lại vị trí và tác động suy nghĩ của
mình: “Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến” và “sức mạnh ghê
gớm, lấn át cả linh hồn cao khiết”.
- Hồn tiếp tục phủ định tiếng nói của Xác: “Mày chỉ là vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không
có tư tưởng, không có cảm xúc”.
-Nghe thấy Hồn đánh giá mình thấp kém, xác hỏi lại đầy thách thức, giọng thay đổi linh hoạt đầy
châm chọc “Có thật thế không?”.
- Câu hỏi của Xác khiến cho Hồn chùn bước và đuối lí, buộc phải dần nhượng bộ, xác nhận sự ảnh
hưởng của Xác: “Nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được : Thèm
ăn ngon, thèm rượu thịt…”
- Lại bị Hồn tiếp tục khinh miệt, Xác chuyển sang châm chọc, mỉa mai : “Tất nhiên, tất nhiên” đầy
mỉa mai: Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực,
cổ nghẹn lại… “Đêm hôm đó, suýt nữa thì…” Đó là cảm giác “xao xuyến” “lâng lâng cảm xúc”.
- Với bằng chứng cụ thể, Hồn xấu hổ và kiên quyết phủ định: “là mày chứ, chân tay mày, hơi thở
mày”. Xác vừa khẳng định vừa tấn công tiếp: “Thì tôi có ghen đâu! Ai lại đi ghen với chính thân thể
mình…nhưng ta nên thành thực: Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Để thỏa mãn tôi, chẳng nhẽ
ông không tham dự chút đỉnh gì?”
- Như vậy Xác dẫn dắt Hồn vào sự thật không thể phủ nhận – Hồn ít nhiều đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi

ngộ nhận về chính mình khi hồn cho rằng “Ta vẫn có một đời sống riêng trong sạch, nguyên vặn,
thẳng thắn…”. Linh hồn và thể xác vốn không tách rời được nhau, cuộc tranh đấu giữa hồn và xác là
MOON.V N

- hotline: 04.32.99.98.98


Trích đoạn HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT LƯU QUANG VŨ (tiết 2) Cuộc đối thoại giữa hồn và xác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status