Đề xuất giải pháp quản lý và đánh giá chất lượng đối với học sinh phổ thông Việt Nam - Pdf 34

Đề xuất giải pháp quản lý và đánh giá chất lượng
đối với học sinh phổ thông Việt Nam
ThS. Hồ Sỹ Anh
Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh
(Bài viết đã được đăng kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Khoa học giáo dục ngày
24/2/2011, tại Tp Hải Phòng)
I. Tình hình quản lý chất lượng (QLCL) giáo dục phổ thông Việt nam hiện
nay
Nền Giáo dục Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn đã góp phần nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhiều thế hệ thanh niên, học
sinh Việt Nam đã không tiếc tuổi xuân, máu xương của mình để làm nên chiến
thắng của dân tộc. Họ sống và chiến đấu không chỉ có kiến thức và kỹ năng học
được ở nhà trường mà họ sống và chiến đấu bằng nhân cách và bản lĩnh Việt
Nam, tiêu biểu như Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc,...Những phẩm chất đó
được hình thành từ quá trình lớn lên trong gia đình, quê hương, nhà trường và
thực tiễn cuộc sống. Trong hòa bình và xây đựng đất nước, nền giáo dục Việt
Nam đã tạo nên lớp người lao động mới, nhiều nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức
đóng góp cho sự phát triển của đất nước và đưa Việt Nam hội nhập quốc tế.
Về Quản lý CLGD, hiện nay, Bộ GD&ĐT đã thành lập Cục Khảo thí và Kiểm
định chất lượng giáo dục. Tất cả các Sở đã có phòng Khảo thí và Kiểm định
CLGD. Bộ đã ban hành quy trình và tiêu chuẩn, tiêu chí về Kiểm định chất
lượng đối với cơ sở giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, công tác kiểm định chỉ mới
là giai đoạn đầu, các trường triển khai tự đánh giá (đánh giá trong). Ở cấp
Phòng, cấp Sở, do đội ngũ cán bộ làm công tác Kiểm định còn hạn chế về số
lượng và trình độ chuyên môn nên việc triển khai đánh giá ngoài còn chậm. Vì
vậy, kết quả kiểm định chất lượng các trường chưa công bố cho cộng đồng biết.
Trong khi đó yêu cầu của nhà trường và xã hội thì mong muốn có kết quả kiểm
định chất lượng nhanh chóng, kịp thời để cải tiến công tác quản lý và nâng cao
1


nhất vào các kỳ thi để rồi lấy kết quả thi làm thước đo quan trọng đối với chất
2

You created this PDF from an application that is not licensed to print to novaPDF printer ()


lượng của học sinh, của nhà trường và địa phương. Đã quan niệm như thế thì
các yếu tố khác như đạo đức, sức khỏe, nhân cách, kỹ năng sống bị coi nhẹ. Bởi
vậy, trong thực tế, những nơi có nhiều mặt yếu kém nhưng tỷ lệ thi đỗ cao vẫn
được xem là có chất lượng tốt. Từ đây, một số trường nảy sinh một hiện tượng
phấn đấu và chạy theo tỷ lệ thi đỗ. Trước năm 2007, nhiều tỉnh thành có tỷ lệ tốt
nghiệp THPT trên 95%. Năm 2007, 2008 và 2009, do ảnh hưởng của cuộc vận
"Hai không", tỷ lệ tốt nghiệp THPT của các trường thấp (năm 2007 có trường
0%). Chỉ đến khi học sinh vào đời hoặc thi vào đại học, thì thực trạng yếu kém
mới bộc lộ và hậu quả chất lượng thấp không chỉ ảnh hưởng đến học sinh mà cả
xã hội.
Thứ hai, về phương pháp tiếp cận, QLCL chủ yếu nhằm vào mục tiêu mà coi
nhẹ quá trình. Ai cũng biết trong mọi sự việc, quá trình diễn ra thế nào thì kết
quả nhận được thế ấy. Quy luật này càng đúng trong giáo dục nhân cách. Bởi
hình thành nhân cách là cả một quá trình với sự hội tụ của nhiều yếu tố, biểu
hiện của nhân cách ở mỗi con người thể hiện ở nhiều khía cạnh và cấp độ khác
nhau. Để có một Nhà khoa học lớn như Ngô Bảo Châu, thì nhân tài đó phải trải
qua cả một quá trình giáo dục và tự học ở những môi trường giáo dục tiên tiến.
Chúng ta phải xây dựng một hệ thống đánh giá chất lượng theo quá trình một
cách khoa học, đối với chất lượng học sinh cũng như chất lượng nhà trường.
Thứ ba, về chuẩn mực, ngành GD&ĐT đã ban hành bộ các tiêu chí, quy trình và
phương pháp kiểm định chất lượng đối với các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, bộ
tiêu chí trên rất rộng, liên quan đến nhiều vấn đề như: cơ sở vật chất, đội ngũ
giáo viên, đội ngũ quản lý, công tác xã hội hóa...Trong khi đó tiêu chí về chất
lượng học sinh đưa ra rất ít, và tiêu chuẩn về đạo đức, nhân cách, kỹ năng mềm

nhiều quốc gia đang phát triển và ở nước ta trước đây, hiện nay chưa thực sự coi
trọng. Với việc tổ chức thi tuyển sinh đại học, cao đẳng (ĐH,CĐ) hiện tại, chỉ
những học sinh thực sự xuất sắc có thể tự học, còn đa số học sinh cần phải học
thêm mới thi đỗ. Theo GSVS Nguyễn Cảnh Toàn thì "nạn" luyện thi, dạy thêm,
học thêm tràn lan vẫn là một thách thức lớn đối với nền giáo dục nước nhà.
Cũng theo GSVS Nguyễn Cảnh Toàn từ lý giải việc nhờ đâu mà học sinh thời
xưa có hiệu suất học tập cao như vậy. Không phải nhờ thầy giỏi (vì đa số thầy
không đạt chuẩn), cũng không phải nhờ cơ sở vật chất tốt, đó là nhờ "phát huy
nội lực ở người học quyết định chất lượng học tập". Theo nghiên cứu của John
Hattie, trường đại học Auckland (Australia-2003), chất lượng của học sinh được
tạo nên bởi chính học sinh chiếm (50%), giáo viên (30%), gia đình (5-10%),
4

You created this PDF from an application that is not licensed to print to novaPDF printer ()


nhà trường (5-10%), bạn bè và xã hội (5-10%). Ông cũng cho rằng, muốn nâng
cao chất lượng cần tác động đến học sinh và giáo viên là 2 yếu tố quan trọng
nhất.
Thứ năm, về cơ chế quản lý, nét nổi bật là quản lý giáo dục phổ thông vẫn theo
mô hình quản lý tập trung. Cơ quan quản lý tuyến trên (Bộ, Sở, Phòng GD) vừa
hoạch định mục tiêu chất lượng, ban hành hệ thống quy chế và các văn bản chỉ
đạo, ban hành nội dung, kế hoạch dạy học, vừa tổ chức thanh tra, kiểm tra, thi
cử, kiểm định, đánh giá chất lượng . Trong khi đó, việc QLCL hoàn toàn có thể
giao phần lớn cho từng nhà trường để nâng cao tính tích cực, chủ động thực
hiện quyền tự quản lý quá trình tạo ra chất lượng trong điều kiện cụ thể của
mình. Ở nhiều nước trên thế giới, nhờ các hệ thống đánh giá chất lượng được
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ các cấp quản lý
giáo dục biết mà mọi giáo viên, học sinh đều biết. Một vấn đề được nhiều
trường phản ánh trong các hội thảo mới đây, đó là: Hiện nay nhà trường phải

lượng học sinh lớp 12 thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học như thế nào? Tuy
nhiên, theo ý kiến của Cục Công nghệ thông tin, thì bảng kết quả này chỉ là số
liệu tham khảo, đây chỉ là kết quả của một kỳ thi, chưa phản ánh đầy đủ CLGD
vì còn liên quan đến nhiều tiêu chí khác.
2.1 Tại sao không lấy kết quả tốt nghiệp THPT để đánh giá CL các trường
Kỳ thi tốt nghiệp THPT là một kỳ thi quốc gia, nhằm kiểm tra đánh giá học sinh
lớp 12 phổ thông và bổ túc, cấp bằng tốt nghiệp THPT cho những học sinh đủ
điều kiện tốt nghiệp theo quy chế của Bộ GD&ĐT. Đề thi tốt nghiệp của Bộ
GD&ĐT sát với chương trình lớp 12, mức độ vừa phải đảm bảo cho mọi học
sinh học lực trung bình có thể tốt nghiệp. Kỳ thi được tổ chức trên phạm vi toàn
quốc, có sự thanh tra, giám sát của thanh tra Bộ và thanh tra Sở. Kết quả kỳ thi
phản ánh được sự nỗ lực cố gắng của học sinh, giảng dạy của giáo viên và công
tác chỉ đạo của các cấp quản lý. Đa số các trường học coi đây là thước đo để
phấn đấu. Tuy nhiên, dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp mà đánh giá CLGD, xếp hạng
các trường THPT cũng như đánh giá CLGD phổ thông của từng tỉnh thì không
thể chính xác, do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, kết quả của kỳ thi của một trường không chỉ phụ thuộc vào năng lực
của học sinh mà còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác, đặc biệt là khâu coi thi.
Chính vì vậy mà có trường miền núi, vùng sâu, điều kiện học tập khó khăn
nhưng tỷ tốt nghiệp cao hơn các trường đồng bằng, thuận lợi. Có khi một trường
miền núi, học sinh dân tộc có kết quả tốt nghiệp cao và có điểm bình quân của
một số môn cao hơn trường chuyên của tỉnh. Thứ hai, tỷ lệ tốt nghiệp của tỉnh
6

You created this PDF from an application that is not licensed to print to novaPDF printer ()


hay cả nước phụ thuộc vào đề thi của Bộ, năm 2010, cả nước đỗ cao (93%),
theo dư luận là bộ đề thi năm nay có phần dễ hơn năm trước.
Chúng tôi xin nêu bảng tỷ lệ tốt nghiệp của một số trường THPT ở Quảng Trị

lượng một trường THPT, mà cần có giải pháp để xếp hạng phù hợp, đánh giá
toàn diện về chất lượng học tập và các kỹ năng của học sinh.
2.3 Giải pháp do một số Sở GD&ĐT đưa ra
Với mong muốn có một cách đánh giá, xếp hạng các trường học một cách toàn
diện hơn, một số sở GD&ĐT đã đưa ra một số cách xếp hạng khác nhau. Ví dụ,
Sở GD&ĐT Quảng Trị đánh giá xếp hạng của các trường dựa vào kết quả của 4
kỳ thi: Thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp, tuyển sinh, thi thể dục thể thao, văn
nghệ. Các bảng xếp hạng này là những con số tham khảo có giá trị cho việc
đánh giá CLGD và thi đua hàng năm. Việc đánh giá, xếp hạng các trường dựa
vào nhiều kỳ thi đã phản ánh một cách khá chính xác CLGD của nhà trường,
tuy nhiên vẫn chưa đầy đủ và toàn diện.
Trên quan điểm QLCL theo quá trình, được một số Sở GD&ĐT và Cục CNTT
của Bộ cung cấp dữ liệu, bao gồm: dữ liệu tốt nghiệp THCS năm 2007, tốt
nghiệp THPT và tuyển ĐH, CĐ năm 2010, trong đó có Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu. Viện nghiên cứu Giáo dục trường
ĐHSP Tp Hồ Chí Minh đã xây dựng phần mềm kết nối dữ liệu, để biết được
một học sinh học THCS, THPT ở trường nào, dự thi vào trường ĐH, CĐ nào,
đạt bao nhiêu điểm. Chúng tôi đã tổng hợp và thống kê số liệu cho nhiều tỉnh, ở
đây xin nêu số liệu của tỉnh Quảng Trị. Là một tỉnh có thu nhập GDP thấp,
nhưng CLGD phổ thông trên mức trên trung bình của các nước. Năm 2010
Quảng Trị được Cục CNTT xếp hạng tuyển sinh ĐH, CĐ là 27/63 tỉnh, thành

8

You created this PDF from an application that is not licensed to print to novaPDF printer ()


phố.

Nhận xét: Qua bảng tổng hợp số liệu trên, trong số 15.139 học sinh TN THCS

PISA được thực hiện đánh giá 3 năm một lần. Mỗi đợt bao gồm các đánh giá
của cả ba phần, nhưng chỉ có một phần được đánh giá sâu. PISA đã dược Bộ
GD&ĐT quyết định chọn tham gia đánh giá quốc tế cho học sinh phổ thông
(năm 2012).
IV. Xây dựng giải pháp đánh giá, xếp hạng CL đầu ra của học sinh phổ
thông
Đề xuất các tiêu chí theo mục tiêu của GDVN, theo Luật Giáo dục năm 2005,
"Mục tiêu của Giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp. Trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc"
Như vậy mục tiêu của giáo dục là tạo ra sản phẩm con người có đầy đủ phẩm
chất và năng lực, chúng tôi tạm chia ra các tiêu chí sau:

10

You created this PDF from an application that is not licensed to print to novaPDF printer ()


4.1 Mô hình giải pháp

4.2. Đặc điểm của hệ thống quản lý, đánh giá CLGD phổ thông
1) Hệ thống được xây dựng theo quan điểm Đánh giá hướng đến quá trình học
tập, rèn luyện của học sinh và lượng hóa các tiêu chí.

2) Hệ thống quản lý CLGD Phổ thông thu nhận dữ liệu từ phiếu điều tra, phiếu
và lấy dữ liệu từ các hệ thống khác như QL học sinh, thi tuyển sinh, tốt nghiệp,
học sinh giỏi.



Góp phần công khai chất lượng giáo dục cho cộng đồng



Tiết kiệm được ngân sách và cũng như công sức rất lớn (nhờ việc thu
nhận dữ liệu từ các trường, không phải mất công nhập liệu, phát huy hiệu
quả của các kỳ thi)



Cải tiến và nâng cao CLGD



Khi đã có công cụ quản lý tốt, ta có thể định hướng các trường đi theo
mục tiêu giáo dục mà Luật Giáo dục Việt Nam đã đặt ra và phù hợp với
từng giai đoạn.

Nâng cao CLGD, đặc biệt là nhân cách, phẩm chất của học sinh đang là vấn đề
12

You created this PDF from an application that is not licensed to print to novaPDF printer ()


bức xúc hiện nay. Đã đến lúc cần kiên quyết và khẩn trương khắc phục các bất
cập nói trên trong QLCL giáo dục. Để làm được điều đó, ngoài nỗ lực của cả hệ
thống giáo dục, chúng ta cần nghiên cứu, chọn lọc, tham khảo, vận dụng một
cách sáng tạo các thành tựu của khoa học quản lý thế giới, trong đó có thành
tựu ứng dụng CNTT trong QLCLGD.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status