1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý và
phát triển rừng bền vững tại công ty Lâm nghiệp Bến Hải
Sinh viên thực hiện: Đặng Hoàng Lan
Lớp: Lâm nghiệp 46
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Đặng Thái Dương
Bộ môn: Lâm sinh
1
2
NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
Đến nay, đề tài đã được hoàn thành nhưng vì thời gian cũng như trình độ
bản thân và kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ chuyên môn còn hạn
chế nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy,cô giáo,các cấp lãnh đạo các
anh chị bạn bè đồng nghiệp để tôi có thể rút ra những kinh nghiệm cho những
nghiên cứu sau.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế , ngày 20 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Đặng Hoàng Lan
3
4
4
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
5
6
Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
QLPTR
Quản lý phát triển rừng
QLPTRBV
Quản lý phát triển rừng bền vững
ĐVR
Động vật rừng
UBND
Ủy ban nhân dân
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
BQL
Ban quản lý
BQLPH
Ban quản lý phòng hộ
thấp ,kiến thức bản địa chưa được phát huy, hoạt động khuyến nông khuyến
lâm chưa phát triển, chính sách nhà nước về quản lý bảo vệ rừng còn nhiều
bất cập, cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều thay đổi . Suy thoái tài nguyên
rừng đã làm cho đất đai bị xói mòn, lũ lụt xảy ra với tần suất cao, môi trường
khí hậu biến đổi và diễn biến phức tạp đe dọa tính mạng, tài sản và sự phát
triển bền vững của đất nước.
Vì vậy, vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt
Nam. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được các quốc
gia, các cấp chính quyền coi trọng, đánh dấu sự nhận thức của con người bắt
đầu chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn mà những lo ngại về sự suy
kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự xuống cấp của môi trường toàn cầu
ngày càng tăng trong khi những mong muốn về sự tồn tại và phát triển lâu
dài của nhân loại lại cũng không hề giảm xuống. Có nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề QLPTR, đặc biệt là công tác quản lý và phát triển rùng theo
hướng bền vững, nhưng tựu chung đều có ý nghĩa như sau: “Quản lý rừng bền
vững là quá trình quản lý rừng để đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể
đồng thời xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm
nghiệp, đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất
sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và
8
9
xã hội”.[12]
Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Bến Hải (sau đây gọi tắt là Công ty Lâm
nghiệp Bến Hải) tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị là doanh nghiệp nhà
nước hạng I, đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp,
là doanh nghiệp đi đầu trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhất
nội dung rất đơn giản "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng
tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội
và sự tác động đến môi trường sinh thái học".[19]
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi
rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai..."[20] .Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo
đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được
bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội,
nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục
đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Phát triển kinh
tế (quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (quan trọng
nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết
việc làm) và bảo vệ môi trường (quan trọng nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm,
phục hồi cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy rừng và chặt
phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
Khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng
lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm
chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm
chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên
quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát
triển bền vững.
10
11
2.1.2. Quản lý rừng bền vững
công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường được các chuyên gia kinh tế và các tổ
chức như Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới
11
12
khuyến khích trong hai thập kỷ vừa qua.
Chứng chỉ rừng đảm bảo rằng tất cả các hoạt động lâm nghiệp cần được
thực hiện với sự đồng thuận của các nhóm dân tộc hoặc cộng đồng địa
phương. Về kinh tế, chủ rừng cần phải cố gắng đạt được việc sử dụng tối ưu
và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động
tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến. Sản phẩm khi có dấu
chứng nhận hợp chuẩn chứng chỉ rừng sẽ được cộng đồng tiêu thụ đánh giá
tốt hơn, chấp nhận mua với giá cao hơn. Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay
đổi giá trị của hàng hóa mà trong nhiều trường hợp nó còn làm thay đổi thái
độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môi trường nói chung.
Chứng chỉ rừng hỗ trợ rất nhiều cho vấn đề quản lý rừng bền vững. Ví dụ,
khi chứng nhận nguyên liệu gỗ hợp chuẩn người ta sẽ lưu ý đến việc khai thác
gỗ có làm ảnh hưởng xấu đến các phương thức sử dụng rừng truyền thống
như thu lượm hoa, quả, củi, vật liệu xây dựng hoặc cây thuốc của những
người dân sống trong vùng đó không, đặc biệt là những nhóm người dân tộc
thiểu số. Chứng chỉ rừng không chỉ đem lợi ích đến cho doanh nghiệp chế biến
lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều lợi ích khi có
được chứng nhận này[1].
FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp
nhận, kể các Bắc Mỹ, và Tây Âu[8]. FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại
Toronto – Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc
gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng
đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng
đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất.....; (2) Duy trì các chức
năng sinh thái và thể thống nhất của rừng; (3) Bảo vệ các loại động, thực vật
quý hiếm và môi trường sống của chúng.
- Lợi ích về xã hội: Đảm bảo quyền con người được tôn trọng. Nhiệm vụ
chính là yêu cầu có sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây
dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực.
- Lợi ích về kinh tế: Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách sử
dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu
các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến.
FSC cấp 02 loại chứng chỉ dưới đây:
- Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM (FSC forest management certification)
- Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC (FSC chain of custody
certification )
Trong quá trình đánh giá cấp chứng chỉ sẽ có hoạt động kiểm soát gỗ
(FSC Controlled Wood)
Hiện nay có 18 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ FSC,
thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng.
Quá trình đánh giá để cấp chứng chỉ FSC được thực hiện bởi tổ chức độc
lập gọi là cơ quan đánh giá quản lý rừng. Tổ chức này đánh giá quản lý rừng
đối với các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC cũng như các tiêu chuẩn quốc gia.
Do FSC không đánh giá cấp chứng chỉ nên điều này cho phép FSC vẫn độc lập
với quá trình đánh giá và hỗ trợ tính toàn vẹn của hệ thống chứng nhận FSC.
Các Nguyên tắc của FSC:
Nguyên tắc 1: Phù hợp với tất cả điều luật và công ước quốc tế
Nguyên tắc 2: Quyền và trách nhiệm sử dụng đất
Nguyên tắc 3: Quyền người dân sở tại
14
15
15
16
Khái niệm “bền vững” được thế giới sử dụng từ những năm đầu thế kỷ
18 là tiền đề cho QLRBV sau này, thì đến mãi cuối thế kỷ 20 Việt Nam mới
dùng khái niệm “điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp. Đến nay,
khái niệm này vẫn được coi là công cụ truyền thống để quản lý rừng theo
phương án điều chế thực hiện theo những quy định trong Quyết định
40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác[10].
Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức
quốc tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông
qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ
Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm
12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức
để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến
trình QLRBV và CCR tại Việt Nam. Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp
thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Từ năm 2001, theo quy chế của
FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc
Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng
chỉ rừng).
Các hoạt động chủ yếu của NWG là:
- Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự
thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam,
song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC. Đây là dự thảo lần 9 đã
lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên
gia FSC sang dự hội thảo góp ý. Đang chờ ý kiến FSC thẩm định.
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên
ra những quy định liên quan tới QLRBV thuộc các lĩnh vực: điều tra, đánh giá,
lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ thiên nhiên; bảo vệ đa
dạng sinh học; bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường
trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển
năng lượng sạch.
+ Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng
chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 20062020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là
“Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm
2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu
hecta đất qui hoạch cho Lâm nghiệp...”. Đây là một mục tiêu đầy tham vọng và
để đạt được mục tiêu này cần thiết phải xác lập được những định hướng mới
trong phát triển nguồn lực trong QLRBV thông qua các chương trình đào tạo,
hợp tác và nghiên cứu 5 chương trình trọng điểm của Chiến lược là:
17
18
(1) Quản lý và phát triển rừng bền vững (QLRBV)
(2) Bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH và phát triển dịch vụ môi trường.
(3) Chế biến thương mại lâm sản.
(4) Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm.
(5) Đổi mới thể chế chính sách, kế hoạch, giám sát ngành
2.2.2. Kế hoạch QLRBV tại Việt Nam
Ngày 19/7/1989, Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Chỉ thị 15-LSCNR về công
tác xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản cho các lâm trường, trong đó
hướng dẫn việc xây dựng phương án và quy định kể từ 1991 việc khai thác,
quản lý khai thác phải căn cứ vào phương án điều chế. Sở dĩ chỉ xây dựng
phương án điều chế rừng đơn giản là do thiếu kinh phí, không có điều kiện
xác định chính xác tài nguyên rừng, các cơ sở khoa học để xác định các chỉ
Xác định các biện pháp tác động: khai thác, trồng rừng, nuôi dưỡng rừng, làm
giầu rừng, nông lâm kết hợp cho từng đối tượng...
-
Xác định mạng lưới đường.
Phần kế hoạch tác nghiệp
-
Kế hoạch khai thác cho một luân kỳ 35 năm
-
Kế hoạch tác nghiệp cho 5 năm trước mắt
18
19
-
Trong kế hoạch khai thác tính toán diện tích, sản lượng được phép khai thác
hàng năm, xác định tiểu khu đưa vào khai thác trong 5 năm đầu.
-
Sau 5 năm thực hiện sẽ được phúc tra lại về tài nguyên, đánh giá tình hình
thực hiện và xây dựng lại kế hoạch cho giai đoạn 5 năm tiếp theo.
20
hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ.
Nhưng cần nhìn vào lợi ích trong tương lai, QLRBV là xu thế tất yếu đối
với đơn vị kinh doanh lâm nghiệp. Những khó khăn trở ngại nêu trên trở
thành những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển
đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một
phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng.
Mục tiêu của CTLN Bến Hải là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững
tuy nhiên trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn tồn tại nhiều
thiếu sót vậy nên đề tài : “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp
quản lý và phát triển rừng bền vững tại công ty Lâm nghiệp Bến Hải”
nhằm đánh giá những công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của công ty
đồng thời đưa ra một số giải pháp, định hướng cho hoạt động của công ty
trong thời gian tới.
PHẦN 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
3.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được hiện trạng rừng; hiện trạng quản lý và phát triển rừng
bền vững. Làm cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển rừng bền
vững phù hợp tại công ty Lâm nghiệp Bến Hải.
3.1.2.Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng rừng.
- Đánh giá hiện trạng quản lý và phát triển rừng bền vững tại CTLN Bến
Hải.
- Đánh giá quản lý rừng theo 10 nguyên tắc QLRBV của FSC.
rừng, mô hình trồng rừng để phát triển phù hợp tại CTLN Bến Hải.
- Điều tra, phỏng vấn người dân, cán bộ quản lý bằng bộ câu hỏi.
b) Thu thập số liệu thứ cấp
- Kế thừa các tài liệu từ CTLN Bến Hải, các cơ quan địa phương.
- Tìm hiểu các thông tin từ mạng internet.
- Thu thập bản đồ hiện trạng các loại rừng.
- Tìm hiểu quản lý rừng theo chứng chỉ rừng FSC.
3.3.2. Xử lý số liệu
- Phân tích đa tiêu chí AHP để xác định được giải pháp quản lý và phát
triển các loại rừng phù hợp.
- Tổng hợp phân tích, đánh giá để lựa chọn giải pháp quản lý phù hợp.
- Phân tích SWOT để lựa chọn giải pháp quản lý phù hợp.
- Phân tích phương sai để chọn loài và dạng lập địa cây trồng.
- Tìm hiểu quản lý rừng theo chứng chỉ rừng FSC.
3.4. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Công ty Lâm nghiệp Bến
Hải.
22
23
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của công ty Lâm nghiệp Bến Hải
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1.Vị trí địa lý
CTLN Bến Hải nằm trên địa bàn hành chính của 6 xã (Vĩnh Thủy, Vĩnh
Sơn, Vĩnh Long, Vĩnh Khê, Vĩnh Chấp, Vĩnh Hà) thuộc huyện Vĩnh Linh tỉnh
- Kiểu địa hình đồi thấp và trung bình (độ cao tuyệt đối < 200 m) có độ
dốc bình quân 150, chiếm 80% diện tích. Điển hình là các tiểu khu 544, 547,
548, 549, 560, 562, 563, 571 và 572.
Diện tích Công ty quản lý có nhiều lợi thế về địa lý và kinh tế, thể hiện qua
các yếu tố sau:
Trên địa bàn có nhiều tuyến giao thông nội vùng từ quốc lộ 1A trung tâm
huyện lỵ nối liền với các xã trung du miền núi, có lực lượng lao động nhàn rỗi
nên thuận lợi về giao thông đi lại và thuê mướn lao động.
4.1.1.3. Khí hậu và thủy văn
1. Khí hậu
- Khí hậu khu vực mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình năm từ 23-25 0C, nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 6 đến
tháng 7) khoảng 350C, có ngày nhiệt độ trên 40 0C, tháng thấp nhất (tháng 1
và tháng 12) khoảng 180C có khi xuống tới 8-90C.
- Độ ẩm không khí trung bình năm 85%, phân thành 2 mùa rõ rệt: mùa
khô nóng kéo dài 4 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 với độ ẩm trung bình từ 7080% và đạt cực tiểu vào tháng 7 xuống 65 – 70%; độ ẩm tăng nhanh khi
bước vào mùa mưa và duy trì ở mức cao, với độ ẩm trung bình từ 85 –90%.
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước kéo dài đến tháng 2 năm sau,
đạt cực đại vào tháng 10,11, chiếm 70% lượng mưa năm. Từ tháng 3 đến
tháng 7 lượng mưa ít nhất, tổng lượng mưa trong thời kỳ này chỉ chiếm dưới
30% lượng mưa năm. Tổng lượng mưa bình quân năm từ là 2.376mm.
25