HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÔNG QUA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ SÁU SIGMA - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ THỊ QUỲNH HƯƠNG

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI SỞ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÔNG QUA
VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ SÁU SIGMA

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ THỊ QUỲNH HƯƠNG

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC TẠI SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÔNG QUA VIỆC VẬN
DỤNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ SÁU SIGMA

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HỌC TẠI SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH NHỮNG NĂM QUA 11
2.1. Tổng quan công tác quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ ............... 11
2.1.1- Các chương trình khoa học và công nghệ: .............................................................. 11
2.1.2- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ:............................................... 11
2.2. Quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở Khoa học và Công nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh .................................................................................................... 11
2.2.1- Hình thành quy trình............................................................................................... 11
2.2.2. Mô tả quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học:........................................ 12
2.3. Những thành tựu và hạn chế ....................................................................................... 13
2.3.1. Thành tựu................................................................................................................ 13
2.3.2. Hạn chế................................................................................................................... 13
2.4. Đánh giá về quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học.................................. 14
2.4.1. Bản chất của quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học hiện nay................. 14
2.4.2- Đối tượng thực hiện và chịu sự chi phối của quy trình ............................................ 14
Kết luận Chương 2........................................................................................................... 15
3.1. Vận dụng hệ phương pháp Sáu sigma.................................................................... 16
3.2. Xác định căn nguyên gây ra dao động của quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu
khoa học. ............................................................................................................................. 16
3.2.1- Xác định – D (Define) ............................................................................................. 16
3.2.2- Đo lường – M (Measure) ........................................................................................ 17
3.2.3- Phân tích – A (Analyze) .......................................................................................... 17
3.3. Xử lý căn nguyên gây ra dao động trong quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu
khoa học .............................................................................................................................. 18
3.3.1- Cải tiến – I (Improve) ............................................................................................. 18
3.3.2- Kiểm soát – C (Control).......................................................................................... 19
3.3.3- Những yếu tố cần thiết để triển khai thành công...................................................... 20
Kết luận Chương 3........................................................................................................... 20


PHẦN MỞ ĐẦU

Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại
Tp.HCM trên cơ sở vận dụng mô hình Sáu Sigma.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Các nhà quản lý khoa học, nhà khoa học, chuyên viên tác nghiệp, các
cơ quan có liên quan (đặt hàng, ứng dụng, phối hợp thực hiện, tham gia thẩm định, xét
duyệt,…).
Đối tượng nghiên cứu: quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở Khoa học và
Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phạm vi nghiên cứu
Lĩnh vực: Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, trước hết là công tác quản lý
đề tài nghiên cứu khoa học.
Địa bàn: Thành phố Hồ Chí Minh với cơ quan chuyên môn là Sở Khoa học và Công nghệ.


Thời gian: từ năm 2005 đến nay.
6. Vấn đề nghiên cứu


Thực trạng quản lý đề tài nghiên cứu khoa học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
là như thế nào?



Cần có giải pháp gì để hoàn thiện và nâng cao chất lượng quy trình quản lý các đề tài
nghiên cứu khoa học?



Cần có những biện pháp gì để vận hành tốt quy trình theo đề xuất?


Phương pháp so sánh.



Phương pháp chuyên gia.



Phương pháp phỏng vấn sâu.

9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
Chương 3: Xây dựng mô hình và vận dụng


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khoa học và nghiên cứu khoa học.
1.1.1. Khoa học
Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật
chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch
sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra hai hệ thống tri thức: tri
thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
* Công nghệ: là những phương pháp, cách thức dựa trên cơ sở khoa học được sử dụng vào
sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất. Công nghệ là kết quả của quá trình vật chất hoá tri thức
khoa học, vận dụng các quy luật tự nhiên, các nguyên lý khoa học vào sản xuất thông qua các
phương tiện kỹ thuật, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. “Công

chương trình không có sự đòi hỏi quá cứng nhắc nhưng những nội dung của một chương trình
phải luôn đồng bộ” [6, tr 51-52]
Tóm lại: đề tài nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ khoa học cụ thể nghiên cứu hoặc triển
khai áp dụng những ý tưởng khoa học hoặc những thành tựu khoa học công nghệ vào hoàn cảnh
cụ thể, được thể hiện dưới các hình thức: đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đề tài
triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai
thực nghiệm.
1.2.2- Bản chất của quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học
Thống nhất với khái niệm đề tài nghiên cứu khoa học là một mô hình tổ chức nghiên cứu
khoa học, như vậy, quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học không đơn thuần chỉ là việc quản lý
một sản phẩm mang tính tư liệu hoặc tài liệu của kết quả nghiên cứu khoa học mà thực chất đó
chính là việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học.
* Có thể xác định quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học là hệ thống các hoạt
động của chủ thể quản lý (từ xác định đề tài cho đến khâu đánh giá, nghiệm thu, kết thúc đề tài,
tiếp tục triển khai), tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ gắn liền với
hệ thống các đề tài, nhằm thực hiện các mục tiêu của các chương trình khoa học và công nghệ.
Nhận thức đúng về bản chất của quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học là cơ sở quan
trọng, quyết định đến hiệu quả của công tác quản lý nói riêng và chất lượng của hoạt động
nghiên cứu khoa học nói chung. Các lý thuyết quản trị chất lượng và mô hình 6 Sigma dưới đây
là một phần trong cơ sở lý luận của việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện
quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học.
1.3. Một số vấn đề cơ bản về quản trị chất lượng và 6 Sigma
1.3.1.Quản lý chất lượng.
Có thể nói: Quản lý chất lượng là một bộ phận hữu cơ của hệ thống quản lý chung, thống
nhất trong bất kỳ một tổ chức, một doanh nghiệp nào. Chất lượng của công tác quản lý là một
trong những yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế của toàn bộ tổ chức.
Một số nguyên tắc trong quản lý chất lượng
Nguyên tắc 1: Hướng vào khách hàng
Nguyên tắc 2: Vai trò của lãnh đạo
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người


Cấp độ sigma

Lỗi phần triệu

Lỗi phần trăm

Một sigma

690.000,0

69,0000%

Hai sigma

308.000,0

30,8000%

Ba sigma

66.800,0

6,6800%

Bốn sigma

6.210,0

0,6210%

* Tiến trình DMAIC
Tiến trình DMAIC là trọng tâm của các dự án cải tiến quy trình Sáu Sigma. Các bước sau
đây giới thiệu quy trình giải quyết vấn đề mà trong đó các công cụ chuyên biệt được vận dụng để
chuyển một vấn đề thực tế sang dạng thức thống kê, xây dựng một giải pháp trên mô hình thống
kê rồi sau đó chuyển đổi nó sang giải pháp thực tế.
1. Xác định - Define (D)
Mục tiêu của bước Xác Định là làm rõ vấn đề cần giải quyết, các yêu cầu và mục tiêu của
dự án. Các mục tiêu của một dự án nên tập trung vào những vấn đề then chốt liên kết với chiến
lược kinh doanh của công ty và các yêu cầu của khách hàng.
2. Đo lường - Measure (M)
Mục tiêu của bước Đo Lường nhằm giúp hiểu tường tận mức độ thực hiện trong hiện tại
bằng cách xác định cách thức tốt nhất để đánh giá khả năng hiện thời và bắt đầu tiến hành việc
đo lường. Các hệ thống đo lường nên hữu dụng, có liên quan đến việc xác định và đo lường
nguồn tạo ra dao động.
3. Phân tích - Analyze (A)


Trong bước Phân Tích, các thông số thu thập được trong bước Đo Lường được phân tích
để các giả thuyết về căn nguyên của dao động trong các thông số được tạo lập và tiến hành kiểm
chứng sau đó.
4. Cải tiến - Improve (I)
Bước Cải Tiến tập trung phát triển các giải pháp nhằm loại trừ căn nguyên của dao động,
kiểm chứng và chuẩn hoá các giải pháp
5. Kiểm soát - Control (C)
Mục tiêu của bước Kiểm Soát là thiết lập các thông số đo lường chuẩn để duy trì kết quả
và khắc phục các vấn đề khi cần, bao gồm cả các vấn đề của hệ thống đo lường.
* Sáu Sigma với các hệ thống chất lượng khác
Sáu Sigma được xây dựng trên những yếu tố thành công của các chiến lược cải tiến chất
lượng trước đây và hợp thành những phương pháp độc đáo của riêng nó. So với các hệ thống
quản lý và cải tiến chất lượng khác, Sáu Sigma nổi bật với hệ phương pháp giúp xác định căn

2.1.2- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ:
Mục tiêu nghiên cứu KH&CN được xây dựng cho từng giai đoạn 5 năm dựa trên các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được đề ra tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và Đại hội
Đảng bộ thành phố. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề bức xúc của
Thành phố, các ngành khoa học và công nghệ ưu tiên có tính lợi thế của Thành phố và các vấn
đề có tính chiến lược phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, mà thành phố Hồ Chí Minh là động lực chính.
Nhìn chung, công tác xây dựng các chương trình, các nhiệm vụ KH&CN và công tác tổ
chức thực hiện trong thời gian qua đã đi vào nề nếp và đạt được những kết quả nhất định. Hệ
thống biểu mẫu và quy trình thực hiện là tương đối hoàn chỉnh. Thành phố Hồ Chí Minh luôn là
địa phương đi đầu trong cả nước về cải tiến phương thức quản lý và tổ chức các hoạt động
KH&CN như xây dựng các chương trình KH&CN trọng điểm, tổ chức chợ thiết bị KH&CN, đấu
thầu trong nghiên cứu khoa học, .v.v.
2.2. Quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở Khoa học và Công nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1- Hình thành quy trình
a- Mục đích
Bắt đầu từ tháng 10 năm 2005, công tác quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở
Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh được chuẩn hóa theo hệ thống quản trị chất
lượng ISO 9001-2000, áp dụng tại Phòng Quản lý khoa học.
Quy trình này được xây dựng với mục đích:


- Thống nhất các bước trong quá trình quản lý các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ;
- Thống nhất các biểu mẫu trong quá trình quản lý đề tài;
- Đảm bảo quá trình quản lý đề tài được thực hiện thống nhất và được kiểm soát;
- Ngăn ngừa rủi ro trong quá trình thực hiện đề tài;
b- Cơ sở của quy trình
Quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học được xây dựng căn cứ trên các văn bản

x- Triển khai kết quả nghiên cứu;
2.3. Những thành tựu và hạn chế
2.3.1. Thành tựu
Việc đổi mới cơ chế quản lý thông qua xây dựng quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu
khoa học theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 đã đưa đến những kết quả khả quan, đáng khích lệ.
a- Về thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học:
Trong 05 năm 2006-2010, đã tổ chức các hội đồng khoa học chuyên ngành xét duyệt và
triển khai thực hiện 712 đề tài, 21 dự án và đề nghị cho thực hiện. Tổ chức nghiệm thu 574 đề
tài, 15 dự án và hỗ trợ triển khai 27 kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu.
Qua khảo sát, 86% người được khảo sát đánh giá là nội dung nghiên cứu phù hợp với nhu
cầu thực tiễn trong phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, trong đó 32% đánh giá là rất phù hợp
và chỉ có 14% cho rằng nội dung nghiên cứu chưa phù hợp với thực tiễn.
b- Chất lượng công tác xét duyệt, thẩm định
Với một quy trình chặt chẽ, trải qua nhiều bước xét duyệt, thẩm định và nghiệm thu bắt
đầu từ khâu sơ tuyển, trong thời gian vừa qua, chất lượng hoạt động này đã được nâng lên rõ nét.
Khảo sát cho thấy, nếu như giai đoạn 2000 – 2005, trên 15% các nhà khoa học đánh giá công tác
này là chưa tốt, thì qua khảo sát lần này, tác giả đã thu được một kết quả khả quan hơn với 94%
người được hỏi cho rằng công tác xét duyệt, thẩm định các đề tài nghiên cứu khoa học được thực
hiện tốt và rất tốt.
c- Chất lượng công tác quản lý
Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO vào quy trình quản lý các đề tài nghiên
cứu khoa học tại Sở Khoa học và Công nghệ trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu
đáng khích lệ trên nhiều mặt. Xét về tổng thể, việc ứng dụng, xây dựng dựng quy trình đã bước
đầu khắc phục được sự trì trệ cố hữu của quản lý hành chính, đồng thời khẳng định xu hướng cải
cách mạnh mẽ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
2.3.2. Hạn chế
Quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học là một hoạt động quản lý nhà nước, và dĩ nhiên,
những cái gọi lại “cố tật” của một hoạt động hành chính là không thể tránh khỏi. Tỷ lệ 26% đánh
giá chưa tốt qua khảo sát trong nghiên cứu này đã phần nào thể hiện điều đó.
a- Hạn chế trong hoàn thành mục tiêu

Quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học hiện nay thực chất chỉ là một quy trình
công tác của Phòng Quản lý khoa học – Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
Yêu cầu đặt ra trong quy trình này là nhằm đảm bảo các bộ phận của Phòng Quản lý khoa học
thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, đảm bảo thời gian trong quá trình tham mưu. Điều này có
nghĩa, đây chỉ là một quy trình thủ tục hành chính đơn thuần của một cơ quan quản lý nhà nước.
Bản thân nó không thể giải quyết mục tiêu và yêu cầu nâng cao chất lượng toàn diện công tác
quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ khoa học – công nghệ đặt ra.
2.4.2- Đối tượng thực hiện và chịu sự chi phối của quy trình
a- Khác với các Hội đồng khoa học được thành lập cho từng đề tài hoặc trong từng
trường hợp cụ thể như xét duyệt, thẩm định, nghiệm thu, Ban chủ nhiệm các chương trình chịu
trách nhiệm về các chương trình và tham gia vào nhiều khâu quan trọng trong quy trình quản lý.
Song, Ban chủ nhiệm các chương trình lại làm việc theo cơ chế “không thường trực” và không


phải là một thành phần chịu trách nhiệm trong thực hiện quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu
khoa học.
b- Sản phẩm cuối cùng mà chúng ta hướng đến là các đề tài nghiên cứu khoa học. Đây là
sản phẩm của các nhà nghiên cứu, các nhóm nghiên cứu nhưng vô hình trung, sản phẩm này lại
thuộc về một quy trình quản lý mà người chịu trách nhiệm chính không phải là người tạo ra sản
phẩm.
Mặt khác, qua khảo sát có một vài ý kiến cho rằng quản lý các đề tài nghiên cứu khoa
học có thể xem là một loại hình dịch vụ công. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, khó có thể xem đây là
một loại hình dịch vụ công bởi vì chủ thể - Phòng Quản lý khoa học hoàn toàn không cung cấp
một “dịch vụ” nào đến khách hàng và ngược lại cũng không nhận được bất kỳ một khoản phí
“dịch vụ” nào từ phía khách hàng.
Kết luận Chương 2: Tác giả xin được kết thúc phần đánh giá thực trạng quy trình
quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí
Minh. Từ đây hé mở vấn đề, đâu là “căn nguyên của dao động” dẫn đến việc, mặc dù một quy
trình được xây dựng và tuân thủ khá chặt chẽ nhưng hiệu quả của công tác quản lý các đề tài
nghiên cứu khoa học nói riêng và việc thực hiện nhiệm vụ khoa học – công nghệ nói chung

Việc cải tiến quy trình, theo quan điểm Sáu sigma, cần đạt mục đích thỏa mãn cao nhất
nhu cầu của khách hàng, lấy khách hàng làm đích phục vụ tối thượng. Chúng ta đang xem xét
một quy trình quản lý nhà nước dưới góc độ của một nhà quản lý, ở đây có hai loại đối tượng
“khách hàng” mà quy trình quản lý của chúng ta cần nhắm đến, đó là: (1) các nhà khoa học và
(2) đơn vị thụ hưởng. Việc thỏa mãn nhu cầu của hai đối tượng này là điều kiện quyết định hiệu
quả, chất lượng của sản phẩm nghiên cứu khoa học.
3.2.1.2- Xác định mốc so sánh
Mọi sự cải tiến, điều chỉnh đều cần có sự đối chiếu, so sánh với cái hiện có, quy trình
quản lý của chúng ta không phải ngoại lệ. Với một đối tượng quản lý đặc thù là hoạt động nghiên
cứu khoa học và sản phẩm cụ thể là các đề tài nghiên cứu khoa học, việc xác định mốc so sánh
không chỉ căn cứ trên một tiêu chí cá biệt mà cần có sự xem xét một cách tổng thể. Một vấn đề
cần lưu ý là sự thích ứng của các bộ phận tham gia vào quy trình với yêu cầu cải tiến. Sự thích
ứng này không đơn thuần về yếu tố kỹ thuật mà nó phải xuất phát từ nhận thức đầy đủ về yêu
cầu cải tiến nâng cao chất lượng quy trình một cách toàn diện, sự cam kết đầy đủ về trách nhiệm.


Như vậy, mốc so sánh cần được xác định bằng giai đoạn. Độ dài giai đoạn sẽ cho chúng ta có đủ
dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá chính xác hiệu quả cải tiến quy trình.
3.2.2- Đo lường – M (Measure)
3.2.2.1- Xác định yêu cầu
Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO hiện hành vốn dĩ đã xác định những
mục tiêu chất lượng tổng thể cũng như mục tiêu của từng thủ tục. Trên thực tế, kiểm soát chất
lượng đặt hàng, đăng ký nghiên cứu, thẩm duyệt, nghiệm thu, và đặc biệt là kiểm soát việc hoàn
thành mục tiêu đề ra là việc cần quan tâm. Vấn đề đặt ra ở đây, mặc dù chúng ta có một cơ chế
rất rõ ràng đối với các hoạt động này, nhưng qua đánh giá thực trạng, cơ chế này vận hành không
đạt mục tiêu kỳ vọng.
Một yêu cầu quan trọng đặt ra cho cải tiến quy trình hiện hành chính là cải thiện việc trễ
hạn của các đề tài nghiên cứu khoa học. Như đã trình bày ở phần thực trạng, việc trễ hạn không
chỉ cho thấy hiệu quả quản lý kém mà nghiêm trọng hơn, nó là một sự lãng phí lớn, đôi khi nó
trực tiếp là giảm, thậm chí mất hiệu quả ứng dụng của đề tài - mục tiêu tối cao mà chúng ta

học đóng vai trò Thư ký chương trình. Phân tích này cho thấy một “biên độ dao động” khá lớn
về trách nhiệm, mức độ tham gia của từng thành viên và hiệu quả chung của Ban chủ nhiệm.
Yếu tố “không thường trực” làm suy giảm khả năng bao quát toàn bộ hoạt động của Chương
trình.
b- Nhà nghiên cứu
Qua đánh giá thực trạng, một điều dễ dàng nhận thấy, đại bộ phận các đề tài trễ hạn thuộc
về nhóm nghiên cứu do các nhà quản lý làm chủ nhiệm. Nguyên nhân thứ nhất gây ra dao động
này, có thể thấy ngay, đó là thời gian đầu tư cho nghiên cứu khoa học của các nhà quản lý là rất
hạn chế, do bị chi phối bởi công tác chính đang đảm nhiệm, đặc biệt là đối với các nhà quản lý
cấp cao. Nguyên nhân thứ hai, sự phối hợp trong quá trình nghiên cứu gặp nhiều khó khăn khi
các thành viên của nhóm nghiên cứu không ở trong cùng một môi trường công tác hoặc khác đơn
vị. Trong trường hợp chủ nhiệm đề tài không đầu tư thật sự, thiếu “mặn mà” với đề tài của mình
thì việc không hoàn thành hoặc hoàn thành trễ hạn là hiển nhiên.
Qua phân tích cả hai tác nhân chính, chúng ta có thể thấy rằng sự lệ thuộc quá lớn vào vai
trò cá nhân trong điều kiện kỹ thuật, tài chính hỗ trợ còn hạn chế, cơ chế tập thể chưa phát huy
được hiệu quả như mong muốn chính là vấn đề cần giải quyết. Quy trình quản lý là một chuỗi
liên kết chặt chẽ của nhiều khâu. Khi nhân tố tác động chính hoạt động không hiệu quả thì tất
yếu dẫn đến sự thiếu hiệu quả của cả quy trình.
3.3. Xử lý căn nguyên gây ra dao động trong quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa
học
3.3.1- Cải tiến – I (Improve)
Trên cơ sở xác định mục tiêu, tiêu chí đánh giá, nguồn dao động và căn nguyên gây ra
dao động, tác giả đề xuất hướng cải tiến nhắm đến hai vấn đề: (1) đảm bảo mục tiêu của các
chương trình nghiên cứu khoa học; và, (2) từng bước khắc phục tình trạng trễ hạn của các đề tài
nghiên cứu khoa học.
3.3.1.1- Xác định cách thức giảm thiểu căn nguyên gây dao động
Cách thức để giảm thiểu căn nguyên chính gây ra dao động là nâng cao hiệu quả làm việc
tập thể và tăng cường các biện pháp hỗ trợ.



Việc kiểm soát phải được thực hiện trên cơ sở một hệ tiêu chí. Thực tế hiện nay chúng ta
chỉ có thể đánh giá một cách chung chung về hiệu quả của công tác quản lý các đề tài nghiên cứu
khoa học, hay nói đúng hơn, công tác quản lý chỉ được đánh giá như một phần trong tổng thể
hoạt động nghiên cứu khoa học. Bản thân công tác quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học được
đánh giá căn cứ vào quy trình ISO, nhưng như đã nêu, quy trình ISO thực tế chỉ đảm bảo cho các
cho các đề tài trải qua một quy trình chuẩn đến khi trở thành một sản phẩm chính thức, trọn vẹn.
3.3.2.2- Xây dựng cơ chế kiểm soát
Khi đã có một hệ tiêu chí đánh giá chuẩn xác, chúng ta cần xây dựng cơ chế kiểm soát
hợp lý, hữu hiệu. Chủ thể đóng vai trò quyết định trong thực hiện kiểm soát không ai khác hơn là
Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ trên cơ sở tham mưu, giúp việc của Phòng Quản lý khoa
học.


3.3.3- Những yếu tố cần thiết để triển khai thành công
3.3.3.1- Sự cam kết của lãnh đạo
Việc cải tiến và kiểm chứng kết quả đòi hỏi một quá trình lâu dài, kiên trì. Sự cam kết
cấp cao là đảm bảo hiệu lực trong dài hạn của quá trình cải tiến này, cũng như đảm bảo quá trình
được tiến hành liên tục, xuyên suốt trong dài hạn.
3.3.3.2- Cơ chế hỗ trợ
Quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học, như tác giả đã nhấn mạnh, không thể
thoát ly hoàn toàn khỏi những ràng buộc về mặt cơ chế và quy định của quản lý nhà nước. Như
vậy, cần thiết phải có sự linh hoạt trong cơ chế vận hành quy trình đối với đặc thù của Thành phố
Hồ Chí Minh – một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ của cả nước.
Kết luận Chương 3: Xác định căn nguyên của dao động là mấu chốt của nghiên cứu
này. Nghiên cứu cho thấy, bản chất vấn đề nằm ở những thành phần tham gia vào quy trình
quản lý nhưng lại hoàn toàn không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào của chính quy trình đã đặt
ra. Khi soi rọi dưới ánh sáng của lý thuyết quản trị hiện đại, có thể thấy một yếu tố quan
trọng là “làm việc với và thông qua những người khác” đã không được chú ý một cách đúng
mức. Bên cạnh đó, để một quy trình có thể vận hành trơn tru, hiệu quả thì các cơ chế hỗ trợ,
sự cam kết, trong đó có cam kết pháp lý cần phải được đặt ra và tuân thủ một cách nghiêm

ra, song tác giả nhận thấy nghiên cứu của bản thân còn những hạn chế nhất định.
Thứ nhất, do điều kiện công tác nên không thể tập trung thời gian cho việc đào sâu
nghiên cứu các vấn đề có liên quan. Hạn chế về thời gian tất nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng, tính thuyết phục của đề tài.
Thứ hai, năng lực nghiên cứu của tác giả chịu tác động lớn của phạm vi kiến thức, khả
năng chuyên môn, ngoại ngữ. Tác giả nhận thức rõ từ những hạn chế này của bản thân, đã bộc lộ
những lúng túng, khó khăn trong giải quyết các vấn đề nghiên cứu, tính liên kết của các phần,
các nội dung nghiên cứu, việc lựa chọn phương pháp tiếp cận, việc tiếp thu, phân tích, vận dụng
các kiến thức, dữ liệu trong quá trình nghiên cứu. Tác giả cũng đã chưa lường trước được những


khó khăn khi lựa chọn vấn đề nghiên cứu, cụ thể là việc ứng dụng mô hình quản lý vốn chỉ mới
áp dụng trong sản xuất, kinh doanh vào một quy trình quản lý nhà nước. Hơn nữa, đây cũng là
lần đầu tiên tác giả tự thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, do vậy sự lúng túng, khó khăn
là không thể tránh khỏi. Điều kiện về nguồn tài liệu, dữ liệu và khả năng tiếp cận cũng là một
hạn chế không nhỏ trong quá trình nghiên cứu của tác giả
Thứ ba, tác giả tiếp cận vấn đề với tư cách là một chuyên viên thừa hành, tham gia vào
quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học. Sự hạn chế của kinh nghiệm và vị trí công tác
không cho phép tác giả có được cái nhìn toàn diện, sâu sắc về vấn đề nghiên cứu trong khi quản
lý một hoạt động đòi hỏi tính toàn diện, bao quát nhiều lĩnh vực.
3- Đề xuất những vấn đề có liên quan cần tập trung nghiên cứu trong thời gian tới
Qua nghiên cứu quy trình quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở Khoa học và
công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả mạnh dạn đề xuất hướng nghiên cứu trong thời gian
tới cần tập trung vào ba vấn đề sau:
-

Nhằm đạt đến mục tiêu đưa khoa học và công nghệ thâm nhập sâu, rộng vào đời
sống kinh tế - xã hội, cần tiếp tục hoàn thiện quy trình quản lý bao quát cho đến
khâu ứng dụng và đánh giá hiệu quả ứng dụng trên thực tế của các đề tài nghiên
cứu khoa học chứ không chỉ dừng lại ở việc nghiệm thu và tiếp nhận các kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status