ĐỊNH DẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM SAU TÁI
CƠ CẤU: THÔNG LỆ QUỐC TẾ VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn và Nhóm nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội1
Mở đầu
Vào đầu năm 2012 hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM)
Việt Nam đã bắt đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án được ban hành
(Quyết định số 254/QÐ-TTG, ngày 1/3/2012 của Thủ tướng Chính
phủ: “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015").
Đề án 254 đã đưa ra các mục tiêu chung đến năm 2020 và các mục tiêu
cụ thể đến năm 2015, xác định rõ các quan điểm, định hướng, giải pháp
và lộ trình thực hiện tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCCD) Việt Nam
trong giai đoạn 2011-2015. Riêng đối với các NHTM, đề án chia các
ngân hàng thành 02 nhóm đối tượng: Ngân hàng thương mại Nhà nước
(NHTMNN) và NHTM cổ phần, trong đó NHTM cổ phần lại được chia
thành 03 nhóm: Nhóm ngân hàng lành mạnh, nhóm ngân hàng thiếu
thanh khoản tạm thời và nhóm ngân hàng yếu kém. Trên cơ sở đó, Đề
án cũng đã đưa ra các định hướng và giải pháp tái cơ cấu khác nhau đối
với từng nhóm ngân hàng83.
Sau gần 3 năm thực hiện, các lộ trình của quá trình tái cơ cấu ngân
hàng (NH) được đặt ra rất rõ ràng. Đây là thời điểm cần thiết để các nhà
hoạch định chính sách, lãnh đạo ngân hàng và nhà nghiên cứu đánh giá,
tổng kết lại những kết quả đạt được ban đầu, đồng thời chỉ rõ những
hạn chế còn chưa giải quyết được, dưới góc nhìn khách quan. Để đánh
giá kết quả tái cơ cấu NH, cũng có khá nhiều nghiên cứu và báo cáo đề
83Xem
cụ thể: Đề án: “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015”. http://
www.NHNN.gov.vn, trong bài viết này gọi là Đề án 254.
ra những xung đột về lợi ích và nếu những xung đột này không thể dung
hòa có thể đe dọa tới sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Ngược lại, mô hình ngân hàng chuyên doanh là mô hình ngân
hàng thể hiện đặc trưng khác biệt về mặt pháp lý giữa hai ngành ngân
410
hàng và ngành chứng khoán, tiêu biểu là mô hình ở Mỹ sau năm 1929,
Canada, Hàn Quốc và Nhật Bản. Theo mô hình này, hoạt động kinh
doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong
lĩnh vực chứng khoán đảm nhận. Các ngân hàng không được tham gia
vào việc kinh doanh chứng khoán, hay nói cách khác, công ty chứng
khoán là công ty chuyên doanh độc lập, không có nghiệp vụ ngân hàng.
Ưu điểm của mô hình này là sự tách biệt giữa hoạt động kinh doanh
tiền tệ và hoạt động kinh doanh chứng khoán, qua đó hạn chế được rủi
ro cho hệ thống ngân hàng. Nhược điểm của mô hình kinh doanh này là
không tận dụng được những dịch vụ tiện ích mà hệ thống ngân hàng có
thể cung cấp cho công ty chứng khoán.
1.2. Mô hình cho hoạt động ngân hàng đầu tư
Về cơ bản, ngân hàng đầu tư có thể tồn tại ở dạng độc lập hoặc kết
hợp với hoạt động NHTM, công ty bảo hiểm hình thành nên các tập
đoàn tài chính tổng hợp. Ở Mỹ, xu hướng hình thành các tập đoàn tài
chính tổng hợp xuất phát từ sự ra đời của Đạo luật Gramm-Bliley 2000
thay thế Đạo luật Glass-Steagall 1933. Mỗi mô hình có những ưu nhược
điểm nhất định và phù hợp với từng hoàn cảnh lịch sử.
Khi cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ lên tới đỉnh điểm của sự tàn
phá vào tháng 9/2008 với sự sụp đổ của Lehman Brothers và hàng loạt
các định chế tài chính khác, các ngân hàng đầu tư độc lập còn sót lại
bao gồm Goldman Sachs và Morgan Stanley đã phải chuyển sang mô
hình ngân hàng tổng hợp với việc phát triển mảng ngân hàng thương
Goldman Sachs
Merrill Lynch
Morgan Stanley
Ngân hàng đầu tư
Ngân hàng đầu tư
Ngân hàng đầu tư
Chứng khoán vốn
Chứng khoán vốn
Sản phẩm có thu nhập cố định Thị trường toàn cầu
Sản phẩm có thu nhập cố định
Ngân hàng bán buôn
Ngân hàng bán buôn
Quản lý tài sản
Quản lý tài sản
Quản lý tài sản
chính và các công ty bảo hiểm
Greenhill
Chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp,
tái cơ cấu tài chính và tham gia đầu
tư ngân hàng bán buôn.
Lazard
Chuyên cung cấp dịch vụ tư
vấn về mua bán, sáp nhập và
quản lý tài sản
Nguồn: www.sandler.com, www.greenhill.com, www.larzard.com
1.3. Đánh giá cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
1.3.1 Vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hệ thống tài
chính
Cũng giống như các quốc gia khác trong khu vực như Singapore,
Malaysia, Việt Nam là một quốc gia mà hoạt động ngân hàng vẫn đang
là hoạt động chủ chốt trong việc cung ứng và phân bổ vốn cho nền kinh
tế. Trong khi tỷ lệ về mức cung ứng tín dụng ngân hàng cho khu vực tư
nhân so với GDP của thế giới của các nước Đông Á Thái Bình Dương,
cũng như của các nhóm nước có thu nhập thấp và trung bình đều ở mức
trên dưới 40%, tỷ lệ này ở các nước Đông Nam Á đều trên 100%. Điều
này chứng tỏ vai trò rất lớn của khu vực ngân hàng đối với nền kinh tế
các quốc gia này, trong đó có Việt Nam.
413
Một chỉ số cũng giúp thể hiện sự phát triển đa dạng của các kênh
huy động và phân phối vốn trong hệ thống tài chính của các quốc gia là
giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động 14 năm
nhưng vẫn chưa khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống tài
chính. Điều này đã được thể hiện thông qua giá trị vốn hóa của thị
trường chứng khoán Việt Nam chỉ đạt mức 15.4% so với GDP, trong khi
mức trung bình của thế giới là 31.5%, của nhóm nước thu nhập thấp và
trung bình là 23.8%, của các nước Đông Á Thái Bình Dương là 58.7%.
Riêng đối với Singapore, một quốc gia hàng đầu trong khu vực Đông
Nam Á về hoạt động đầu tư chứng khoán, Sàn Giao dịch chứng khoán
Singapore là sàn giao dịch được coi là ngưỡng chuẩn cho các đánh giá
phân tích và niêm yết giao dịch của các quốc gia trong khu vực. Chỉ số
vốn hóa của thị trường chứng khoán Singapore đạt mức 145.2% so với
GDP, trong khi Thái Lan có mức 81.7%.
415
Hình 3. Giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán/GDP ở một số quốc gia
Đông Nam Á và trên thế giới
Nguồn: WorldBank data, 2014
Những phân tích ở trên cho thấy, ở nhiều quốc gia trong khu vực
Đông Nam Á, hệ thống tài chính đã có sự phát triển vượt bậc với sự đa
dạng hóa trong các kênh đầu tư và phân phối. Chẳng hạn, Singapore
có sự phát triển mạnh về thị trường chứng khoán bên cạnh hoạt động
ngân hàng; Malaysia có sự phát triển mạnh về hoạt động phi ngân hàng
song song với hoạt động ngân hàng và hoạt động của thị trường chứng
khoán. Trong khi đó, cấu trúc hệ thống tài chính của Việt Nam chưa đa
Chứng khoán:
• 106 Công ty chứng khoán, 47 công ty quản lý Quỹ, 24 Quỹ đầu tư
• 6 ngân hàng lưu ký và 01 ngân hàng thanh toán chỉ định
• 419 công ty và 583 cổ phiếu được niêm yết trên 2 sàn chứng khoán
Khác: Bảo hiểm xã hội
• Cơ quan bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
• Hệ thống Tài chính không chính thức
Nguồn: Trích lại từ Cấn Văn Lực (2014).
Bộ Tài chính (MOF)
7%
Trái phiếu (Chính phủ, Công ty, Ngân hàng)
NHNN (SBV)
Cơ quan quản lý
80.5%
Tỷ trọng tổng tài sản trong hệ thống tài chính
Ngân hàng và TCTC phi ngân hàng
• 5 NHTM nhà nước là chủ sở hữu chính
• 2 NH chính sách/NH phát triển
• 34 NHTMCP
• 4 NH Đầu tư; 5 NH 100% vốn nước ngoài
84.3
67.2
45.9
Thái Lan
48.4
44.7
45.3
Indonesia
62.6
47.3
44.0
Trung Quốc
57.2
70.1
50.8
những ngân hàng này khá lớn. Sau hơn 10 năm phát triển của hệ thống,
cùng với sự gia tăng về số lượng và quy mô của hệ thống NHTMCP và
ngân hàng nước ngoài (NHNg) - Chi nhánh NHNNg và chương trình
cổ phần hóa hệ thống NHTM Nhà nước thì mức độ tập trung ngân hàng
đã giảm xuống tương đối. Đến năm 2011, mức độ nắm giữ tài sản của
Top 3 ngân hàng có giá trị tổng tài sản lớn nhất (Vietinbank, Agribank
và BIDV) là 45.9% so với giá trị tổng tài sản của hệ thống ngân hàng.
418
Rất khó để có thể đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa mức độ tập
trung ngân hàng với khả năng xảy ra khủng hoảng. Đây cũng là chủ
đề còn nhiều ý kiến tranh luận trên thế giới. Một số ý kiến cho rằng hệ
thống ngân hàng ít tập trung (nhiều ngân hàng nhỏ lẻ) sẽ chịu nhiều tổn
thương khi khủng hoảng xảy ra. Lý do là những ngân hàng lớn thì khả
năng đa dạng hóa rủi ro cao; hệ thống ngân hàng tập trung cao giúp gia
tăng lợi nhuận từ đó giảm thiểu khả năng đổ vỡ; hệ thống ngân hàng với
một vài ngân hàng lớn tập trung thì dễ giám sát hơn là một hệ thống có
nhiều ngân hàng nhỏ lẻ. Ngược lại, tồn tại quan điểm cho rằng hệ thống
ngân hàng có mức độ tập trung lớn thì khả năng xảy ra khủng hoảng
cao hơn. Lý do được đưa ra là những ngân hàng lớn thường nhận được
nhiều hỗ trợ từ phía chính phủ - hiện tượng “quá lớn để đổ vỡ”; quy mô
và hoạt động của những ngân hàng lớn cũng phức tạp hơn so với ngân
hàng nhỏ (như tính chất phức tạp của hệ thống sản phẩm, mạng lưới,
tính sở hữu chéo và sự chi phối đến những NHTM khác); những ngân
hàng lớn có thể tận dụng sức mạnh thị trường của mình để đẩy chi phí
cho vay lên cao khiến các doanh nghiệp phải chấp nhận những dự án có
tỷ suất lợi nhuận không cao hơn lãi suất vay NH..
Tuy nhiên, một nghiên cứu khá uy tín của Beck và cộng sự (2003)
cho thấy, khủng hoảng có xu hướng ít xảy ra hơn ở những hệ thống ngân
33 (2013) trong khi con số của NHNNg - chi nhánh NHNNg không
ngừng gia tăng từ 31 (2006) đến 53 (2013). Diễn biến thị trường tài
chính cũng hoàn toàn giải thích được cho con số thống kê này: Khi các
NHTMCP trong nước trong quá trình tái cơ cấu thì các NHNNg và chi
nhánh NHNNg với nguồn vốn, quy mô quản trị tốt hơn nhìn thấy cơ hội
ở thị trường tài chính trong nước, đồng thời tận dụng cơ hội này để gia
tăng thị phần của mình trên thị trường.
420
Hình 4: Số lượng TCTD 2006-2013
Hình 5: Số lượng các TCTD
đến hết năm 2013
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả.
Sự đa dạng về loại hình và số lượng các NHTM có ưu điểm là gia
tăng khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng về dịch vụ ngân hàng của nhiều
thành kinh tế, đa ngành nghề của nền kinh tế (doanh nghiệp FDI, SMEs,
SOEs, tập đoàn kinh tế, cá nhân- hộ cá thể). Điều này cũng giải thích
cho việc hệ thống NHTM nói riêng và các TCTD nói chung là nơi cung
ứng chủ yếu nguồn vốn cho nền kinh tế so với kênh thị trường trái phiếu
và chứng khoán. Tuy nhiên, số lượng ngân hàng lớn trong khi quy mô
của nền kinh tế không lớn nên đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh thiếu
lành mạnh giữa các TCTD (Fullbright, 2013). Các NHTM do chạy theo
mục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua yêu cầu đảm bảo an toàn kinh doanh nên
dẫn đến hiện tượng vi phạm quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng
thường hay xảy ra (điển hình là việc chạy đua lãi suất).
rất nhiều so với các NHTM lớn ở các quốc gia khác.
Quy mô tín dụng/GDP
Nếu xét quy mô của hệ thống NHTM so với nền kinh tế (độ sâu tài
chính) thì quy mô hệ thống cũng đã có những thay đổi đáng kể (Bảng
6). Năm 2001, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam khá thấp so với các
nước trong khu vực như Thái Lan (101.2), Trung Quốc (107.9) hay
Singapore (109.8), Nhật Bản (151.8). Nhưng sau 10 năm tăng trưởng
422
tín dụng (đặc biệt tăng mạnh trong giai đoạn 2007-2009), tỷ lệ tín dụng/
GDP đạt 107.7% (năm 2011). Quy mô tín dụng gia tăng thể hiện vai
trò quan trọng của hệ thống NHTM trong việc cung ứng vốn cho nền
kinh tế.
Tuy nhiên khi tỷ lệ tín dụng/GDP lớn cũng sẽ khiến cho hệ thống
các NHTM dễ bị tổn thương từ những thay đổi bất lợi của nền kinh tế
và sự bất ổn của hệ thống các NHTM cũng sẽ có tác động lớn đến ổn
định kinh tế vĩ mô. Đây là lý do mà khá nhiều chuyên gia kinh tế đưa
ra khuyến nghị cần phát triển thêm những kênh huy động vốn khác như
thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán để giảm bớt sự phụ thuộc
của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng. Quan sát tỷ lệ tín dụng/GDP ở
một số quốc gia có thị trường tài chính phát triển như Mỹ thì tỷ lệ này
duy trì ở mức khá thấp (52.6).
Bảng 6. Tỷ lệ tín dụng ngân hàng/GDP của Việt Nam và một số quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á và trên thế giới
Quốc gia
Năm 2001
Năm 2006
104.5
121.5
Singapore
109.8
83.7
104.2
Nhật Bản
151.8
99.6
105.2
USA
51.1
57.5
52.6
Nguồn: World Bank Data, 2014.
Tổng vốn Trong đó:Vốn và
Tỷ lệ sở
Tổng vốn
hữu vốn
và các các quỹ thuộc Sở
hữu vốn
điều lệ
của nước
quỹ
hữu Nhà nước
nhà nước
ngoài
Tỷ lệ sở
hữu vốn
của cổ
đông khác
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
55,000
35,453
37,000
64.46%
19.73%
15.81%
4. Agribank
49,000
49,000
28,741
100.00%
0.00%
0.00%
5. Tổng 4 NHTM NN
170,870
Đề án tái cơ cấu các TCTD đang được ngành NH tích cực triển
khai với các hình thức hợp nhất, sáp nhập, tự tái cơ cấu và sẽ hoàn thành
giai đoạn đầu vào năm 2015. Một số chuyên gia cho rằng, cùng với việc
xây dựng các ngân hàng có quy mô tầm cỡ khu vực thì việc hình thành
những ngân hàng chuyên doanh, phục vụ chuyên ngành hay một lĩnh
vực cụ thể là điều cần thiết. Tuy nhiên, dựa trên lịch sử phát triển của
mô hình ngân hàng đa năng và chuyên doanh trên thế giới, có thể có
một số nhận xét và hàm ý sau:
Thứ nhất, mô hình hoạt động ngân hàng đa năng là xu thế phát
triển chung của các ngân hàng trên thế giới. Toàn cầu hóa và phát triển
của thị trường tài chính với sự đa dạng các dịch vụ và công cụ tài chính
đã xóa đi ranh giới giữa các dịch vụ chứng khoán và dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên, mức độ phát triển của hệ thống ngân hàng đa năng phụ thuộc
vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia.
Thứ hai, khi phát triển theo định hướng ngân hàng đa năng, cần
nhìn nhận rõ những nhược điểm lớn của hệ thống này là sự xung đột về
lợi ích và tính rủi ro của toàn hệ thống sẽ cao. Do vậy, lộ trình thích hợp
và các biện pháp giải quyết phòng ngừa các vấn đề này cần phải được
chú ý, đặc biệt các vấn đề liên quan đến giám sát cẩn trọng vĩ mô và an
toàn hệ thống.
Thứ ba, Cần xác định rõ cấu trúc sở hữu: nhà nước, tư nhân, nước
ngoài theo xu hướng giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước. Trong một số
nghiên cứu trong và ngoài nước, đã chỉ ra tỷ lệ sở hữu nhà nước càng cao
trong các DNNN cổ phần hóa hoặc trong các NHTM thì hiệu quả hoạt
động của tổ chức đó càng thấp (Nguyen Hong Son và cộng sự, 2014).
Chính phủ đã có chủ trương và chính sách thoái vốn trong các DNNN
cổ phần hóa. Tuy nhiên, hiện tỷ lệ vốn nhà nước trong các NHTMNN
425
426
nỗ lực và thời gian dài của không chỉ các cơ quan chức năng mà tất cả
các chủ thể tham gia thị trường mới có thể giải quyết được.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh của thị trường vốn Việt Nam đã
thu hút sự quan tâm của các ngân hàng đầu tư lớn trên thế giới. Hầu
hết các tên tuổi lớn trong ngành ngân hàng đầu tư đã xuất hiện tại Việt
Nam cung cấp dịch vụ và kinh doanh như Credit Suise, Goldman Sachs,
Morgan Stanley, J.P.Morgan, Normura Securities và Daiwa Securities.
Các công ty chứng khoán liên doanh cũng bắt đầu xuất hiện từ 2007.
Theo cam kết gia nhập WTO, từ năm 2012, Việt Nam đã cho phép các
công ty chứng khoán và quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài thành lập
tại Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy, theo xu hướng phát triển tất yếu của thị trường
tài chính Việt nam, trong bối cảnh tái cơ cấu và hội nhập môi trường
tài chính toàn cầu, tiềm năng hình thành và phát triển các định chế tài
chính theo mô hình ngân hàng đầu tư toàn diện là một thực tế khách
quan. Quan điểm của nhóm nghiên cứu là các nhà quản lý, giám sát thị
trường, các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu sớm để tạo dựng
hành lang pháp lý cho các định chế tài chính mới này, từ đó tạo sân chơi
bình đẳng, cạnh tranh và phát triển bền vững.
3.3. Một số gợi ý về định dạng hệ thống NH Việt Nam sau tái
cơ cấu
Xác định rõ cấu trúc sở hữu: Nhà nước, tư nhân, nước ngoài
theo xu hướng giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước.
Một số nghiên cứu trong và ngoài nước, đã chỉ ra rằng tỷ lệ sở
hữu Nhà nước càng cao trong các DNNN cổ phần hóa hoặc trong các
NHTM thì hiệu quả hoạt động của tổ chức đó càng thấp (Nguyễn Hồng
Sơn và cộng sự, 2014, Trần Thị Thanh Tú & Nguyễn Mạnh Hùng).
chính bản thân các Công ty chứng khoán cũng đang phải đối mặt với
rủi ro đạo đức khi các mâu thuẫn lợi ích phát sinh từ việc cung cấp các
dịch vụ tư vấn đầu tư, tự doanh, margin trong bối cảnh khung pháp lý
cho các hoạt động này cũng chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, với quy mô
thị trường chứng khoán còn khiêm tốn như hiện nay, việc chuẩn hóa
các hoạt động của Công ty chứng khoán theo mô hình ngân hàng đầu tư
chuyên doanh là hoàn toàn hợp lý, tránh tình trạng để đối tượng bị quản
428
lý phát triển quá mức rồi cơ quan quản lý mới “đưa vào khuôn phép”.
Đề án tái cơ cấu các Công ty chứng khoán đang được Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước và Bộ Tài chính xây dựng sẽ nghiên cứu một cách cẩn
trọng mô hình hoạt động của Công ty chứng khoán trong giai đoạn hậu
tái cơ cấu.
IV. Kết luận
Quá trình tái cơ cấu các TCTD ở Việt Nam là một quá trình tái cơ
cấu chủ động (SBV, 2012), và đã đạt được một số kết quả ban đầu theo
lộ trình đặt ra, tránh được rủi ro hệ thống. Song, để đạt được các mục
tiêu dài hạn nhằm phát triển ổn định, bền vững, đáp ứng các yêu cầu của
hội nhập, cần nghiên cứu làm rõ các vấn đề liên quan đến định dạng của
hệ thống các TCTD - mà trọng tâm là các ngân hàng. Đây cũng là một
trong những vấn đề mấu chốt của việc đánh giá kết quả của tái cơ cấu
hệ thống NH. Nhóm nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng cấu
trúc hệ thống NH theo thông lệ quốc tế, từ đó đã chỉ ra những khoảng
cách giữa thông lệ quốc tế và thực tế ở Việt Nam. Các khuyến nghị của
nhóm tập trung vào: (i) giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các NHTMNN
đã cổ phần hóa, (ii) xây dựng các tiền đề cho việc hình thành các NH
đầu tư nhằm chuẩn hóa hoạt động của các CTCK và (iii) định dạng các
NHTM và tổ chức tài chính qui mô lớn phát triển theo mô hình tập đoàn
thức phải đối mặt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Đức Huấn (2003). Mô hình hoạt
động ngân hàng đa năng trên thị trường chứng khoán. Ủy ban chứng
khoán Nhà nước.
9. Nguyễn Thu Trang, Trần Thị Thu Hòa (2012). Tái cơ cấu, cải
cách hoạt động ngân hàng trên thế giới - Thực tiễn và bài học cho Việt
Nam. Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước.
430
10. Barth J.R. et al. (1997). Commercial banking structure,
regulation, and performance: An international comparison. Comptroller
of Currency, Working paper number 7.
11. The Economist. (1999). The business of banking. London,
Xuan Thanh và Thu Trinh (dịch)
12. Beck, T., Demirguc Kunt, A. và Levine, R, 2003, Bank
Concentration and Crisis, World Bank Policy Research working paper
3041 ( />13. Fullbright, 2013, Định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống
ngân hàng Việt Nam 2011-2015
14. KPMG, 2013a, Mainland China Banking Survey (http://www.
kpmg.com/CN/en/IssuesAndInsights/ArticlesPublications/Documents/
Mainland-China-Banking-Survey-201312-v1.pdf)
15. KPMG, 2013b, Khảo sát ngành ngân hàng Việt Nam
năm
2013
( />ArticlesPublications/Documents/Advisory/Vietnam%20Banking%20
Survey%202013%20-%20VN.pdf)
16. European, Banking structure report, 2013
17. World Bank, 2014, The little Data book on Financial
Development.