ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ GIAO LINH
TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC
CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ GIAO LINH
TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC
CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN
7
SAI LỆCH HOẶC CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT
ĐỘNG CHỨNG KHOÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán
7
1.2.
Khái niệm, đặc điểm pháp lý của các tội phạm về chứng khoán
11
và sự cần thiết quy định các tội phạm về chứng khoán trong
luật hình sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm tội phạm về chứng khoán
11
1.2.2. Các yếu tố cấu thành tội phạm chứng khoán
16
1.4.
Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán trong luật hình sự một số nước
4
41
Chương 2:
THỰC TIỄN XỬ LÝ VI PHẠM VÀ TỘI PHẠM CỐ Ý
46
CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC CHE GIẤU SỰ
THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VỀ TỘI PHẠM NÀY
2.1.
Tình hình vi phạm và phạm tội cố ý công bố thông tin sai lệch
46
hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán và xử lý
hình sự đối với tội phạm này của các cơ quan tiến hành tố tụng
thật trong hoạt động chứng khoán
2.2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
65
Bộ luật Hình sự về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che
giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán
KẾT LUẬN
73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Trong những năm gần đây, chủ trương phát triển thị trường chứng
khoán đã góp phần làm cho nền kinh tế nước nhà có những chuyển biến tích
cực, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Bên cạnh mặt mạnh này, xuất
hiện ngày càng nhiều các vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư và lưu thông
vốn, tác động tiêu cực đến trật tự quản lý kinh tế và nền kinh tế quốc dân.
Thị trường chứng khoán minh bạch là mục tiêu mà bất kỳ quốc gia
nào cũng hướng đến trong đó có Việt Nam. Nhưng tính minh bạch của thị
trường chứng khoán Việt Nam lại chưa được như kỳ vọng của các nhà quản
lý cũng như các nhà đầu tư. Đây cũng là lý do vì sao thị trường chứng khoán
vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nhất định như quy định về định mức hậu quả
nghiêm trọng chưa phù hợp với điều kiện thực tế, những lĩnh vực buộc phải
minh bạch chưa được Bộ luật Hình sự hiện hành quy định chưa bao quát, còn
mang tính chất liệt kê, v.v…
Trước tình hình trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài "Tội cố
ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng
khoán theo luật hình sự Việt Nam" là cần thiết, khách quan, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, dưới những góc độ khác nhau,
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề tính minh bạch trong
hoạt động chứng khoán, điển hình như:
- Dương Tuyết Miên (2010), Về các tội phạm chứng khoán trong luật
sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2;
- Nguyễn Thu Dung (2007), Pháp luật về công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán, Luận văn tốt nghiệp đại học;
- Nguyễn Thị Ánh Vân (2006), Chế độ công bố thông tin theo Luật
Chứng khoán năm 2006, Tạp chí Luật học, số 8;
7
- Phan Anh Tuấn (2011), Các tội phạm về chứng khoán trong luật
hình sự Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật hình sự về các tội này, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4;
- Viên Thế Giang (2012), Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che
giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo Bộ luật Hình sự sửa đổi, Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 1;
- Viên Thế Giang (2013), Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán ở VN hiện nay, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3;
áp dụng các quy định của luật hình sự về tội cố ý công bố thông tin sai lệch
hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể đạt được mục đích đó, trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung
vào những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề chung về chứng khoán, tội phạm chứng
khoán, tội công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động
chứng khoán;
- Phân tích rút ra những tồn tại và hạn chế của các quy định về tội cố ý
công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán
theo Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng;
- Trên cơ sở phân tích sự cần thiết, những yêu cầu của việc hoàn thiện
pháp luật quy định về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật
trong hoạt động chứng khoán, tác giả đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về loại tội này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật, đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Đồng thời được tiến hành bằng những phương pháp nghiên cứu khoa
học cơ bản như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống, logic, đối chiếu thực
tiễn, thống kê, v.v... Nhờ vậy, những vấn đề có liên quan tới tội cố ý công bố
9
thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán được
xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện,
có hệ thống và xác thực.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cố ý công bố thông tin sai lệch
hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn xử lý vi phạm và tội phạm cố ý công bố thông
tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán và một số giải
pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Hình
sự về tội phạm này.
11
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH
HOẶC CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG
KHOÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỨNG KHOÁN
Thuật ngữ chứng khoán được hiểu theo những nghĩa khác nhau tùy
theo mục đích khi điều chỉnh loại tài sản đặc biệt này.
Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện tại Bỉ vào giữa thế kỷ XV, theo
đó, "các thỏa thuận được xác lập cho các giao dịch thực hiện ngay và các giao
dịch được thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện sau khoảng thời
gian nhất định" [41, tr. 7].
Black Law’s Dictionary lại cho rằng "chứng khoán là công cụ chứng
minh quyền sở hữu công ty, quyền chủ nợ với công ty hoặc chính phủ hoặc
các quyền khác của người nắm giữ" [52, tr. 1358].
Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm
2010 (sau đây gọi tắt là Luật Chứng khoán) quy định:
vốn, đó là "lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai" thì
cả quãng thời gian đó chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro lớn hay không phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam
kết khác chính,… Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ
với tính sinh lời và tính thanh khoản của chứng khoán.
Căn cứ vào quyền của người sở hữu chứng khoán đối với người phát
hành, chứng khoán vốn và chứng khoán nợ.
Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền
liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng
phát hành ra nó. Đặc điểm của loại chứng khoán này có đặc điểm nhà đầu tư
không xác định được thời gian thu hồi vốn, mức thu nhập từ việc đầu tư
nhưng lại có cơ hội tham gia vào kiểm soát hoặc trực tiếp kinh doanh phần
vốn đã thu hút. Chứng khoán vốn có hai dạng cơ bản: cổ phiếu và chứng chỉ
13
quỹ đầu tư. Ngoài ra còn có chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán vốn
như chứng quyền.
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (Khoản 2
Điều 6 Luật Chứng khoán).
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà
đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng (Khoản 4 Điều 6 Luật
Chứng khoán).
Chứng chỉ khoán nợ là loại chứng khoán rất phổ biến, tạo ra sự ổn
định tương đối trong giao dịch trên thị trường là trái phiếu.
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (Khoản 3
Điều 6 Luật Chứng khoán).
hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và
tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có
sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao
dịch (Stock Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over The
Counter Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn
(Future Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu
của chứng khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư
bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh. Thị trường chứng khoán
không giống với thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá của
thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư
bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói,
bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa
cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông
tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình
thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.
15
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG
KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG KHOÁN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm tội phạm về chứng khoán
Có thể nói, chứng khoán và thị trường chứng khoán đã xuất hiện, tồn
tại và phát triển ở Việt Nam như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị
trường. Bắt đầu từ năm 2000 và khởi sắc mạnh mẽ từ năm 2005 đến nay. Chủ
trương phát triển thị trường chứng khoán (kênh huy động vốn đầu tư và lưu
của ngân hàng. Việc Ngân hàng Nhà nước ra chỉ thị trên cùng một số can
thiệp khác của Chính phủ, Ủy ban chứng khoán Nhà nước... đã làm thị trường
ổn định hơn song vi phạm không có biểu hiện giảm.
Trước tình hình chúng ta chưa có một công cụ pháp lý đủ mạnh để
ngăn chặn, kịp thời trừng trị, răn đe người có sai phạm đến mức phải xử lý
hình sự. Thông tư liên tich
̣ số 46/2009, ngày 13/3/2009 giữa Bô ̣ Công an và
Bộ Tài chính hướng dẫn phố i hơ ̣p xử lý vi pha ̣m pháp luâ ̣t trong liñ h vực
chứng khoán và thi trươ
̣
̀ ng chứn g khoán và việc sửa đổi Nghị định 36/NĐ-CP
về xử phạt hành chính trên lĩnh vực thị trường chứng khoán được ban hành đã
giúp công tác quản lý, giám sát, thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
cũng được tăng cường hơn. Trước ngày Luật sửa đổi bổ sung có hiệu lực,
những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán
được giải quyết bằng các biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự bởi một số các tội phạm trong Bộ luật Hình sự nếu ở mức độ nguy
hiểm cho xã hội đến mức đáng kể như Tội lừa đảo, Tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng…
Luật sửa đổi đã bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999
lần đầu tiên quy định ba điều luật (Điều 181a, 181b, 181c) trong lĩnh vực chứng
khoán đã góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực
quản lý, kinh doanh chứng khoán. Với ba tội phạm mới được ghi nhận trong
Luật sửa đổi bổ sung năm 2009 là cơ sở pháp lý hình sự để chúng ta điều tra,
truy tố, xét xử những người có hành vi phạm tội trong lĩnh vực này.
17
hẹp này mà còn cả các tội phạm khác xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán, thị
trường chứng khoán. Các tội phạm khác này có thể được gọi chung là tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán không có tính riêng biệt (có thể xảy ra
trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng
khoán). Như vậy, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán theo nghĩa rộng bao
gồm tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có tính riêng biệt và tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán không có tính riêng biệt. Do có các cách hiểu khác
nhau như vậy mà cũng có thể có những định nghĩa khác nhau về tội phạm
trong lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, chúng tôi
chỉ đề cập, làm rõ khái niệm tội phạm chứng khoán theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán
là hành vi xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt
động chứng khoán qua việc vi phạm trực tiếp các quy định của pháp luật
chứng khoán về công bố thông tin chứng khoán, về vấn đề sử dụng thông tin
nội bộ trong lĩnh vực chứng khoán, về giá của chứng khoán, qua đó xâm
phạm chế độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội.
Thông thường, các hành vi vi phạm trực tiếp pháp luật chứng khoán ở
mức độ nghiêm trọng được các quốc gia quy định là tội phạm ngay trong các
văn bản luật về chứng khoán hoặc trong Bộ luật Hình sự tại các điều luật
riêng biệt. Ở Việt Nam, trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa
đổi, bổ sung năm 2009, trong Bộ luật Hình sự hiện hành không có các điều
luật riêng về tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán; còn trong các văn bản luật
về chứng khoán cũng không có quy định về tội phạm cụ thể mà chỉ quy định
chung là cho phép có thể truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi vi phạm có
dấu hiệu tội phạm. Trong trường hợp này, các hành vi vi phạm trực tiếp pháp
luật chứng khoán chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh
chung tương ứng đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Như vậy, đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình
sự chỉ là Bộ luật Hình sự như Việt Nam thì tội phạm trong lĩnh vực chứng
20
khoán dù thuộc nhóm nào - nhóm chỉ xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán hay
nhóm có thể xảy ra ở các lĩnh vực khác nhau đều chỉ được quy định trong Bộ
luật Hình sự. Đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình sự
không chỉ là Bộ luật Hình sự mà còn có thể là các luật khác thì tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán có thể được quy định trong Bộ luật Hình sự và trong
các luật khác. Các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có tính riêng biệt có
thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hoặc trong chính các luật riêng biệt
về chứng khoán. Trong các luật riêng biệt về chứng khoán, nhà làm luật có
thể quy định các hành vi vi phạm và các tội phạm, trong đó tội phạm là các
hành vi vi phạm luật chứng khoán ở mức độ nghiêm trọng và do vậy có tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Bộ luật Hình sự cũng có thể quy định các
tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán tương đối thông thường và ổn định trên
cơ sở pháp điển hóa các hành vi phạm tội đã được quy định trong các luật
riêng biệt về chứng khoán.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành tội phạm chứng khoán
Xét về nội dung chính trị - xã hội và nội dung pháp lý, tội phạm nói
chung cũng như tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có các dấu hiệu (đặc
điểm) như đã được trình bày; xét về cấu trúc, tội phạm nói chung cũng như tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán có bốn yếu tố hợp thành. Đó là khách thể,
mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.
* Khách thể của tội phạm về chứng khoán. Quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, theo khoa học luật hình sự, được coi là
khách thể của tội phạm. Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ
xã hội bị gây thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại ở mức độ nhất định, được
của một doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt động
của doanh nghiệp đó trong hiện tại và dự doán tương lai. Khi giá cổ phiếu của
một doanh nghiệp cao (hay thấp) biểu hiện trạng thái kinh tế tức là khả năng
mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của doanh nghiệp đó. Triển
vọng tương lai của các doanh nghiệp cũng được thể hiện một cách trực tiếp
trên thị giá cổ phiếu và cũng như sự biến động của nó. Ngoài ra, với phương
22
pháp chỉ số hóa thị giá của các loại chứng khoán chủ yếu trong nền kinh tế và
việc nghiên cứu phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ số giá chứng khoán
trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với thị trường thế
giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một hoặc hàng loạt các
nước trên thế giới. Như vậy, chứng khoán, thị trường chứng khóa có vai trò,
tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế, nó cần phải được bảo vệ khỏi sự
xâm hại bằng những công cụ pháp lý trong đó có luật hình sự.
Với việc quy định Bộ luật Hình sự về ba tội phạm trong lĩnh vực
chứng khoán thì có thể hiểu rằng các quan hệ xã hội trong lĩnh vực chứng
khoán là nhóm quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và có thể trở
thành khách thể của tội phạm. Đó là quan hệ giữa các chủ thể - Nhà nước, các
tổ chức chứng khoán, người tham gia chứng khoán. Quan hệ này được hình
thành, duy trì và phát triển là nhằm mục đích tạo vốn cho nền kinh tế của Nhà
nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu
quả hơn, và tạo lợi nhuận trực tiếp cho người tham gia chứng và qua đó đảm
bảo cho sự ổn định của xã hội nói chung. Quan hệ xã hội trong lĩnh vực
chứng khoán chỉ có thể duy trì và phát triển để thực hiện chức năng xã hội tốt
đẹp đó khi các chủ thể thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Như
vậy, với tầm quan trọng của chứng khoán, thị trường chứng khoán đối với sự
ổn định xã hội và hơn nữa với nguy cơ dễ bị xâm phạm, các quan hệ xã hội
nhà đầu tư, người tham gia chứng khoán, ảnh hưởng đến vấn đề quản lý nhà
nước về quản lý thị trường chứng khoán, gây xáo động lớn trong nền kinh tế.
Trong các cấu thành tội phạm của tội phạm trong lĩnh vực chứng
khoán, hành vi khách quan đòi hỏi phải được mô tả và là dấu hiệu bắt buộc
của tất cả các cấu thành tội phạm cơ bản. Tuy nhiên, việc xác định biểu hiện
cụ thể của hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như việc quy định, mô tả dấu
hiệu này như thế nào trong cấu thành tội phạm hoàn toàn không giống nhau
giữa các quốc gia. Thông thường, hậu quả của các tội trong lĩnh vực chứng
khoán không được xác định là thiệt hại được tính ra bằng tiền mà hậu quả của
những hành vi phạm tội trong lĩnh vực chứng khoán đó là gây lũng đoạn thị
24
trường giao dịch chứng khoán hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của nhà đầu tư
hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của doanh nghiệp bị thông tin sai sự thật... và
để cấu thành tội phạm thì thiệt hại này phải đạt mức độ nhất định. Ngoài ra,
thiệt hại ở mức độ cao hơn còn có thể được mô tả là dấu hiệu định khung tăng
nặng trong các cấu thành tội phạm.
* Chủ thể của tội phạm về chứng khoán. Chủ thể của tội phạm là cá
nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi theo luật hình sự quy định đã
thực hiện tội phạm về chứng khoán theo luật hình sự quy định.
Theo luật hình sự của các nước trên thế giới cũng như luật hình sự
Việt Nam, cá nhân có thể là chủ thể của tội phạm nếu có hành vi thỏa mãn các
dấu hiệu định tội của các tội phạm cụ thể. Đối với tội phạm nói chung hay tội
phạm trong các lĩnh vực chuyên biệt cũng vậy, cá nhân khi là chủ thể của một
tội phạm có thể là chủ thể thường mà cũng có thể là chủ thể đặc biệt. Trong
đó, chủ thể thường chỉ đòi hỏi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi
luật định; còn chủ thể đặc biệt đòi hỏi phải có thêm dấu hiệu đặc biệt khác.
Trong lĩnh vực chứng khoán, chủ thể của các tội phạm trong lĩnh vực này chỉ