ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NHÀN
BIÖN PH¸P §IÒU TRA KH¸M XÐT
THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NHÀN
BIÖN PH¸P §IÒU TRA KH¸M XÐT
THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. LÊ LAN CHI
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2.
Ý nghĩa của việc quy định biện pháp điều tra khám xét trong
luật tố tụng hình sự .......................................................................... 15
1.3.
Lịch sử phát triển của các quy định về biện pháp điều tra
khám xét từ năm 1945 đến trước ngày 01/07/2004 ....................... 17
1.3.1. Từ năm 1945 đến trước năm 1975 ..................................................... 17
1.3.2. Từ năm 1975 đến trước 01/07/2004 ................................................... 20
1.4.
Các quy định về biện pháp điều tra khám xét trong luật tố
tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới .............................. 23
1.4.1. Luật tố tụng hình sự của Nhật Bản..................................................... 23
1.4.2. Luật Tố tụng hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ .......................... 25
1.4.3. Luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga ........................................... 27
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM NĂM 2003 VỀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA KHÁM XÉT
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ........................................................... 33
2.1.
Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
về biện pháp điều tra khám xét ........................................................ 33
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT:
Cơ quan điều tra
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1. Số vụ án thực hiện hoạt động khám xét khẩn cấp
50
Bảng 2.2. Số lượng và tỷ lệ các loại vụ án thực hiện hoạt động
khám xét
51
Bảng 2.3. Số lượng và tỷ lệ các hoạt động khám xét cụ thể được
áp dụng
52
thời kỳ. Biện pháp khám xét được ghi nhận trong Chương XII BLTTHS năm
2003 là kết quả của nhiều lần sửa đổi, bổ sung trên cơ sở thực tiễn áp dụng và
thi hành của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra.
Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm hiện
nay, một số quy định về biện pháp điều tra khám xét trong BLTTHS năm
2003 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định như chưa quy định chặt chẽ
về căn cứ khám xét, thẩm quyền ra lệnh và tiến hành khám xét, thời hạn tiến
hành khám xét, quy định về những hoạt động khám xét cụ thể còn nhiều điểm
chưa hợp lý, những hướng dẫn về việc tiến hành hoạt động khám xét trong
một số trường hợp cụ thể cũng chưa được ghi nhận…
Những tồn tại và hạn chế nêu trên đã gây ra vướng mắc, lúng túng
trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra của các cơ quan chức năng. Mặt
khác, trong thực tiễn áp dụng, hoạt động khám xét của các cơ quan này, đặc
biệt là cơ quan điều tra (CQĐT) còn xảy ra một số vi phạm về trình tự, thủ
tục, thẩm quyền, dẫn đến việc xâm phạm các quyền cơ bản của công dân, làm
giảm hiệu quả của hoạt động khám xét nói riêng và hoạt động điều tra, giải
quyết vụ án hình sự nói chung.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của
BLTTHS hiện hành về biện pháp điều tra khám xét và thực tiễn áp dụng để
làm sáng tỏ về mặt khoa học, thực tiễn đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn
thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng của những quy định đó có ý nghĩa
lý luận, thực tiễn và pháp lý sâu sắc.
2
cứu một cách toàn diện, sâu sắc, riêng biệt về biện pháp khám xét dưới cả hai
góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng.
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây đã lần nữa cho thấy việc nghiên
cứu đề tài: “Biện pháp điều tra khám xét theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”
là đòi hỏi khách quan, mang tính lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biện pháp điều tra khám xét theo
luật tố tụng hình sự Việt Nam.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là từ việc giải mã các vấn đề lý
luận, đánh giá các quy định của pháp luật về biện pháp điều tra khám xét
và thực tiễn áp dụng, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các
quy định về khám xét trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời đề
xuất những giải pháp khác nâng cao hiệu quả của biện pháp điều tra này
trong thực tiễn thực hiện.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về biện pháp điều tra khám xét như:
khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa;
- Khái quát sự phát triển của các quy định về khám xét trong lịch sử
pháp luật tố tụng hình sự của nước ta để rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về biện pháp điều tra khám
xét trong pháp luật Tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới, đưa
ra những đánh giá, nhận xét và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp
điều tra này;
4
5
điểm cơ bản của biện pháp điều tra này cũng như ý nghĩa của việc quy định
hoạt động điều tra khám xét trong luật tố tụng hình sự Việt Nam;
- Chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá trình hình thành và phát triển
của biện pháp điều tra khám xét trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ
năm 1945 đến nay;
- Trình bày, đánh giá, nhận xét pháp luật Tố tụng hình sự của một số
quốc gia trên thế giới về biện pháp điều tra khám xét;
- Làm sáng tỏ tình hình thực hiện hoạt động khám xét của CQĐT các
cấp và một số cơ quan khác có thẩm quyền điều tra; những tồn tại, hạn chế
của thực tiễn pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động khám xét cũng như
những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế đó;
- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng
cao hiệu quả áp dụng biện pháp điều tra này ở Việt Nam trong thời gian tới.
Luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các
nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên
cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các
cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc
trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác
tại các CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
bảo đảm khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1:
Một số vấn đề chung về biện pháp điều tra khám xét
vụ án theo lệnh của người có thẩm quyền theo quy định tại điều
141- Bộ luật tố tụng hình sự, để tìm kiếm và thu hồi công cụ phạm
tội, tiền bạc và đồ vật do phạm tội mà có, cũng như mọi đồ vật và
tài liệu khác có thể có ý nghĩa đối với vụ án. Có thể tiến hành phát
hiện những người đang bị truy nã và phát hiện tử thi [38, tr.92].
Có thể thấy, việc định nghĩa khám xét theo Từ điển nêu trên đã nêu lên
được khám xét là hoạt động tố tụng hình sự đồng thời là biện pháp nghiệp vụ
điều tra của các cơ quan có thẩm quyền, áp dụng đối với tội phạm nhằm phát
hiện những người đang bị truy nã và phát hiện tử thi. Tuy nhiên, định nghĩa
này lại chưa khẳng định được bản chất của khám xét là sự tìm tòi, lục soát,
cưỡng chế của các cơ quan có thẩm quyền trên những đối tượng nhất định,
7
cũng chưa thể hiện đầy đủ mục đích của khám xét là nhằm phát hiện những
chứng cứ, tài liệu có liên quan đến vụ án, hoặc tìm kiếm người đang bỏ trốn,
người bị bắt cóc, hoặc phát hiện các phần của tử thi… dẫn đến việc hiểu
không thật sự đầy đủ về bản chất, mục đích của hoạt động khám xét. Bên
cạnh đó, việc quan niệm khám xét là một hoạt động điều tra được tiến hành
ngay sau khi khởi tố vụ án là chưa phù hợp. Bởi lẽ, khám xét là một trong
những biện pháp điều tra ban đầu nên biện pháp này hoàn toàn có thể được
thực hiện trước hoặc sau khi khởi tố vụ án hình sự.
Dưới góc độ khoa học luật Tố tụng hình sự, trong những cuốn sách
chuyên khảo hoặc giáo trình luật tố tụng hình sự, các nhà nghiên cứu cũng
đã đưa ra nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về biện pháp điều tra
khám xét:
Giáo trình Khoa học điều tra hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội
năm 2014 định nghĩa:
Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm
tòi, lục soát, cưỡng chế người, chỗ ở, địa điểm, thư tín, bưu kiện,
thẩm quyền tiến hành khám xét cũng chưa được thể hiện hoặc thể hiện không
đầy đủ. Có định nghĩa không thể hiện nội dung thẩm quyền khám xét, có định
nghĩa lại thể hiện nội dung này không đầy đủ khi chỉ quan niệm thẩm quyền
tiến hành khám xét thuộc về CQĐT. Trên thực tế, khám xét là biện pháp điều
tra được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nên bên cạnh CQĐT,
hàng loạt các cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực
lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có
thẩm quyền tiến hành khám xét trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy
định của pháp luật.
Theo chúng tôi, dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, khám xét
cần được hiểu đầy đủ là: “một biện pháp điều tra được quy định trong luật tố
9
tụng hình sự, do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục
soát, cưỡng chế người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu
kiện, bưu phẩm để tìm kiếm, thu thập dấu vết của tội phạm, tài liệu, vật chứng
hoặc những đồ vật khác có liên quan đến vụ án theo các căn cứ, trình tự, thủ
tục luật định”.
Như vậy, theo khái niệm trên, biện pháp điều tra khám xét phải bao
hàm những yếu tố sau:
- Được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền khi có đủ căn cứ và
theo một trình tự, thủ tục luật định.
- Khám xét chủ yếu bao gồm các hoạt động: tìm tòi, lục soát, cưỡng chế.
- Các biện pháp khám xét cụ thể bao gồm: khám người, chỗ ở, chỗ làm
việc, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm.
- Mục đích chung của biện pháp khám xét là phát hiện, thu thập những
chứng cứ, tài liệu hoặc đồ vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự.
luật tố tụng hình sự để buộc các đối tượng bị áp dụng phải tuân theo những
mệnh lệnh, yêu cầu nhất định. Trong tố tụng hình sự, có nhiều biện pháp
cưỡng chế khác nhau được ghi nhận như các biện pháp ngăn chặn bắt bị can,
bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội
quả tang hoặc đang bị truy nã, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt
tiền để bảo đảm… hoặc các biện pháp điều tra thể hiện tính cưỡng chế như
khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực
tiếp đến vụ án, xem xét dấu vết trên thân thể, áp giải, dẫn giải, kê biên tài
sản… Khi thực hiện những biện pháp này, các cơ quan có thẩm quyền phải
căn cứ vào các quy định của luật tố tụng hình sự và những quy định liên quan
khác để buộc các đối tượng bị áp dụng phải tuân thủ.
Có thể thấy khám xét là biện pháp điều tra có tác động mạnh đến những
quyền cơ bản của công dân đã được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Đó là các quyền
bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của
11
công dân được ghi nhận tại BLTTHS “Không ai được xâm phạm về chỗ ở, an
toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân” [31, Điều 8]; quyền bảo
hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân ghi nhận tại
BLTTHS “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật”… [31, Điều 7].
Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn âm mưu, hành động phạm tội của tội
phạm và thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án hình sự, luật tố tụng hình sự vẫn
ghi nhận quyền tiến hành khám xét của các cơ quan có thẩm quyền nếu những
cơ quan này có đủ căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa
điểm của của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do
phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc khi cần phát
hoạt động này, các cơ quan có thẩm quyền cần triệt để tuân theo các quy định
của pháp luật. Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ: Mọi cuộc
khám xét phải đảm bảo tính hợp pháp về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền
khám xét và không được xâm phạm các quyền cơ bản của công dân. Cụ thể:
- Chỉ được khám xét khi có các căn cứ nhận định những nơi định khám
xét đang cất giấu các vật chứng, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án hoặc ở
đó có đối tượng đang bị truy nã lẩn trốn, người bị bắt cóc, xác chết hoặc các
phần của nó... Nếu chưa có đủ căn cứ ra lệnh khám xét thì các cơ quan có
thẩm quyền cần phải thu thập những tài liệu bổ sung, nếu việc thu thập tài liệu
bổ sung vẫn chưa đủ căn cứ khám xét thì không được ra lệnh khám xét.
- Phải tuân thủ những quy định của Luật tố tụng hình sự về thẩm quyền
ra lệnh khám xét: Việc khám xét chỉ được tiến hành khi có lệnh của những
người có thẩm quyền. Trừ trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng
định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người những đồ vật, tài liệu
cần thu giữ thì việc khám người có thể được tiến hành mà không cần có lệnh.
- Khi tiến hành khám xét, các cơ quan có thẩm quyền phải tuân những
quy định về trình tự, thủ tục khám xét đối với các đối tượng khám xét cụ thể.
13
- Trong quá trình khám xét, những người thi hành lệnh khám xét không
được có những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự,
nhân phẩm của công dân. Để đảm bảo thực hiện nội dung này, lực lượng
khám xét phải tiến hành khám xét nghiêm túc, đúng pháp luật. Trước khi tiến
hành khám xét, các cơ quan thi hành lệnh phải lên kế hoạch chuẩn bị khám
xét một cách kỹ lưỡng, chu toàn bao gồm: nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập,
phân tích, đánh giá những tài liệu liên quan đến cuộc khám xét, lập kế hoạch
khám xét (xác định thời gian khám xét, thành phần lực lượng khám xét, dự
kiến những tình huống xảy ra và các biện pháp giải quyết). Khi tiến hành
khám xét, người chủ trì cần giải thích, phổ biến kế hoạch khám xét cho các
thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án [31, Điều 64, khoản 1].
Theo khái niệm này, chứng cứ chỉ được coi là hợp pháp và có giá trị
chứng minh khi thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính khách quan, tính liên quan và
tính được thu thập hợp pháp. Nếu thiếu đi một trong các thuộc tính này,
chứng cứ sẽ mất đi giá trị chứng minh, trong đó thuộc tính được thu thập hợp
pháp là thuộc tính cần được chú trọng bởi nó dễ bị xâm phạm nhất.
Khi thực hiện hoạt động khám xét, để đảm bảo thuộc tính được thu thập hợp
pháp của chứng cứ, các cơ quan có thẩm quyền phải tránh việc xâm phạm các
quyền cơ bản của công dân. Trong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta, các quyền
bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng, bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí
mật thư tín, điện tín… của công dân luôn được ghi nhận. Hiến pháp 2013 quy định:
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm…” [35, Điều 20]. Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Mọi
người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật
gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” [35, Điều 21]. Bản Hiến pháp
này cũng quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không
ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Việc
khám xét chỗ ở do luật định…” [35, Điều 22]. Nếu chỉ căn cứ theo những quy
15
định này thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự, trong đó có khám
xét đối với công dân sẽ bị coi là không hợp pháp. Tuy nhiên, khi những quy
định về hoạt động khám xét đươc ghi nhận trong tinh thần của Hiến pháp
cũng như trong luật tố tụng hình sự thì hoạt động khám xét của các cơ quan
có thẩm quyền đã được đảm bảo về cơ sở pháp lý, từ đó tính hợp pháp của
những chứng cứ thu thập được từ hoạt động khám xét cũng được khẳng định.
Thứ hai, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Quyền con người được hiểu:
đưa tội phạm ra xét xử trước pháp luật. Trong khi đó, khám xét lại là một biện
pháp điều tra tổng hợp, bao gồm nhiều hoạt động lục soát, tìm kiếm với mục
đích là phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do
phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác
chết hay người đang bị truy nã, người bị bắt cóc, từ đó đưa ra kế hoạch,
phương hướng cho những hoạt động tố tụng hình sự tiếp theo. Như vậy, việc
pháp luật ghi nhận hoạt động khám xét đã giúp các cơ quan có thẩm quyền
điều tra sớm phát hiện, thu thập các chứng cứ hoặc tài liệu liên quan đến vụ
án, từ đó nhanh chóng chứng minh tội phạm, rút ngắn thời gian và nâng cao
hiệu quả trong việc giải quyết vụ án hình sự.
1.3. Lịch sử phát triển của các quy định về biện pháp điều tra
khám xét từ năm 1945 đến trước ngày 01/07/2004
1.3.1. Từ năm 1945 đến trước năm 1975
Lịch sử phát triển của các quy định về khám xét gắn liền với lịch sử
xây dựng và hoàn thiện của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Năm 1945, cách
mạng tháng Tám thành công, đánh dấu sự ra đời của pháp luật xã hội chủ
nghĩa, song trong thời gian này, nước ta chưa có BLTTHS thống nhất, pháp
luật tố tụng hình sự chỉ bao gồm những văn bản đơn hành, riêng rẽ… Cho tới
trước năm 1957, các quy định về khám xét cơ bản là không được đề cập.
Tuy nhiên, bản Hiến pháp năm 1946 và sau đó là Hiến pháp năm 1959
đã có những quy định tương đối rõ ràng về một số nội dung cốt lõi để bảo vệ
17
quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tạo cơ sở cho các
quy định về khám xét sau này. Cụ thể: Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nhà ở
và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái
pháp luật” [25, Điều 11]; Hiến pháp năm 1959 ghi nhận: “Quyền bất khả xâm
phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được bảo
đảm… Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng