Luận văn thạc sỹ kinh tế Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Móng Cái, Quảng Ninh - Pdf 34

1
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ của tôi được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp
đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến giáo viên hướng dẫn TS.Vũ Xuân Dũng.
Người đã chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam
Chi nhánh Móng Cái đã nhiệt tình trao đổi, góp ý và cung cấp thông tin tài liệu, kinh
nghiệm thực tế bổ ích giúp tôi có điều kiện tốt nhất để hoàn thành luận văn.
Tôi sẽ cố gắng tích lũy những kiến thức đã được trang bị trong khóa học đào
tạo thạc sỹ chuyên ngành tài chính - ngân hàng của khoa sau đại học trường đại học
Thương Mại để vận dụng một cách tốt nhất cho bản than, trong cuộc sống và xã hội.


2
MỤC LỤC


3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BIDV
KBNN
KKH
NHNN
NN&PTNN
NHTM
TCKT
TCTD
TDH
Techcombank
TG

tiềm lực về kinh tế của đất nước; trong đó các ngân hàng thương mại đóng vai trò
trung gian để chu chuyển vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn như các doanh
nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, các tổ chức tín dụng khác ..vv..
Trong 3 năm trở lại đây qua khảo sát thực tế cho thấy , mặc dù tình hình huy
động vốn của chi nhánh Agribank Móng Cái đạt nhiều kết quả đáng khen ngợi xong
bên cạch đó còn có một số hạn chế cũng như các vấn đề tồn tại gây ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Trước bối cảnh dư nợ tín dụng suy
giảm mạnh trong các năm gần đây trong khi đó tốc độ huy động vốn của ngân hàng
vẫn tăng đều qua các năm; điều đó tạo sự bất hợp lý giữa hai hoạt động chính của
ngân hàng là huy động vốn và sử dụng vốn.Vậy để có vốn và sử dụng chúng một
cách hiệu quả cho các ngân hàng thương mại chính là lý do tôi lựa chọn đề tài : “
Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam – chi nhánh Móng Cái, Quảng Ninh”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đứng trước bối cảnh nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn và thách thức vào một
vài năm gần đây đã khiến các nhà kinh tế đưa ra rất nhiều giải pháp nhằm phát triển
hoạt động kinh doanh của mình trong đó có lĩnh vực huy động vốn trong ngân hàng
thương mại. Cụ thể đã có một số luận văn có liên quan với đề tài nghiên cứu ở trên
như sau :
- Luận văn thạc sỹ : “Hiệu quả huy đông vốn tại Ngân hàng thương mại cổ
phần sài gòn Hà Nội chi nhánh Lâm Đồng”, được công bố năm 2011của tác giả : “
Nguyễn Hoài Nhã Trúc”. Trong đề tài tập chung đưa ra các giải pháp về huy động
vốn trong đó trú trọng công tác huy động vốn.Ngoài ra công trình nghiên cứu trên
cũng chỉ ra được những mặt còn yếu kém trong công tác huy động vốn của ngân
hàng thương mại cổ phần sài gòn Hà Nội, công trình cũng đưa ra một số giải pháp
nhằm tháo gỡ những mặt còn tồn tại ngay tại ngân hàng này.


6

7
trình cũng đưa ra được khá nhiều giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt
động huy động vốn của ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu.
- “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại cổ phần quốc tế Việt Nam”, luận văn thạc sĩ công bố năm 2011 của tác giả: “Lê
Quỳnh Trâm”.Công trình Nghiên cứu trên đã đánh giá được tổng quát các hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam, thông qua
các đánh giá đó đã nói lên được tình hình kinh doanh của ngân hàng nói chung và
tình hình huy động vốn của ngân hàng nói riêng. Công trình cũng đưa ra được một
vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về mặt kinh doanh cho ngân hàng này.
Các công trình nghiên cứu trên đã phần nào giải quyết được những tồn tại và
khó khăn mà các ngân hàng thương mại đang gặp phải trong công tác huy động vốn
của ngân hàng. Đó là các vấn đề về khả năng huy động vốn của ngân hàng, sự mở
rộng vốn của ngân hàng, hay các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn cho một
chi nhánh thuộc ngân hàng hay đưa ra các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí trong
công tác huy động vốn ..v.v..Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra được vấn
đề còn yếu kém cũng như chưa khắc phục được của ngân hàng mà mình nghiên cứu.
Qua tham khảo một số công trình nghiên cứu ở trên ta thấy rằng việc nghiên
cứu về đề tài : “ hiệu quả huy động vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Móng Cái, Quảng Ninh” mang tính cấp thiết và
phù hợp, không trùng lắp ý tưởng với các đề tài ở phía trên.
3. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động vốn của ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Móng Cái. Phân tích thực
trạng huy động vốn tại ngân hàng này để biết được những mặt còn hạn chế và các
kết quả mà chi nhánh ngân hàng đã đạt được .Để từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho chi nhánh.



động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu hoạt động theo quy định của luật các


9
tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. ( nghị định số 59/2009/NĐ-CP
của chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM).
Theo luật ngân hàng nhà nước: hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Ngân hàng thương mại là
một trong những tổ chức kinh tế quan trọng nhất của nền kinh tế vì nó đóng vai trò như
hệ thống tuần hoàn cho nền kinh tế.
Có nhiều cách tiếp cận để có được khái niệm đầy đủ về ngân hàng thươngmại
như: thông qua chức năng, hoạt động, các dịch vụ hoặc thông qua vai trò của ngân
hàng thương mại.
Nếu xem xét từ các loại hình dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp, các
nhà kinh tế đã cho rằng “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tàichính
cung cấp các danh mục tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Ngân hàng thương mại là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong nền kinh tế,
cũng là kênh huy động vốn hữu hiệu nhất. Đồng thời, Ngân hàng thương mại cũng
là một tổ chức cho vay chủ yếu đối với các tổ chức, cá nhân. Đây là một trung gian
tài chính quan trọng để trung chuyển vốn cho nền kinh tế sao cho nguồnvốn đó
được phân bổ và sử dụng một cách hiệu quả, hợp lý.


10
1.1.2.Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và

11
nguồn vốn của mình thì mới duy trì được hoạt động có hiệu quả, tránh được những
rủi ro về khả năng thanh toán. Việc tập hợp được những nguồn tiền nhàn rỗi trong
dân chúng để đưa vào kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả
nguồn lực của nền kinh tế.Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng cũng
góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ. Đặc biệt trong nền kinh tế phát triển
nếu dân chúng có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng để sử dụng các dịch vụ của
Ngân hàng thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lí được thu nhập của
người dân.
Một trong những nguồn vốn không kém phần quan trọng, là nguồn vốn phát
hành kì phiếu, trái phiếu. Việc phát hành kì phiếu hay trái phiếu phụ thuộc vào quy
mô vốn cần huy động , thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và tài sản của Ngân hàng.
Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ của
Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các nguồn vốn
huy động được theo yêu cầu của khách hàng. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn
quyếtđịnh đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó quản lí nguồn vốn phù hợp và sử
dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược đối với mỗi Ngân hàng .
Hoạt động sử dụng vốn
Khi đã huy động được vốn rồi, nắm trong tay một số tiền nhất định thì các
Ngân hàng thương mại phải làm như thế nào để hiệu quả hoá những nguồn này,
nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu
quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Và hoạt động sử dụng vốn
của Ngân hàng bằng những cách sau: Ngân hàng đã tài trợ lại cho nền kinh tế dưới
dạng các thành phần kinh tế vay, hoặc Ngân hàng đầu tư trực tiếp, Ngân hàng tham
gia góp vốn cùng kinh doanh hay cho thuê tài sản,Ngân hàng gửi tiền tại các Ngân
hàng khác- tại Ngân hàng Nhà nước- những tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng đầu
tư trên thị trường chứng khoán , Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang
lại thu nhập cho Ngân hàng và có thể bán đi để ra tăng ngân quỹ khi cần thiết...
Những đối tượng tài trợ không chỉ có các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động trong
lĩnh vực thương mại mà còn có cả các cá nhân tiêu dùng, thậm chí Chính phủ cũng

động đầu tư , Ngân hàng được lựa chọn doanh mục đầu tư có lợi nhất cho mình.
Bên cạnh hoạt động cho vay và đầu tư, Ngân hàng có thể tham gia vào thị
trường chứng khoán tuỳ quy định của từng quốc gia. Ngân hàng thương mại có thể
tham gia như một người cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán hay đóng
vai trò là nhà đầu tư, mua bán chứng khoán vì mục tiêu kiếm lời cho chính Ngân
hàng. Hoặc thực hiện kinh doanh chứng khoán thông qua uỷ thác của khách hàng.


13
Thực hiện các dịch vụ trung gian
Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn
thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian cho khách hàng của
mình. Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian bởi vì khi thực hiện các hoạt
động này Ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung
gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cần.
Ngày nay, các dịch vụ của Ngân hàng không ngừng phát triển cả về số lượng
và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng. Hoạt động trung gian gồm rất
nhiềuloại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài khoản
tiền gửi tại Ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này từ tài khoản này đến
tài khoản khác ở cùng một Ngân hàng hay ở hai Ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư
vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính, dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá
dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động. Đây
là những khoản chi thường xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách
hàng sẽ tốn nhiều thời gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp
các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển
theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện nghiệp vụ
trung gian mang tính dịch sẽ đem lại cho Ngân hàng những khoản thu nhập khá
quan trọng. Điều cần lưu ý là dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp Ngân hàng phát triển toàn
diện.Tại các nước phát triển, các Ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau bằng

nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh được.Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản
xuất của ngân hàng thương mại là hoạt động huy động vốn.Như vậy, huy động vốn
đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Thứ nhất: vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có
vốn, vì vốn phản ánh năng lực kinh doanh.Điều này thể hiện ở vốn tự có, vốn huy
động, vốn đi vay của ngân hàng. Nếu vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc
thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định tới quy mô đầu tư,
cho vay nên sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng.
Thứ hai: Vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của ngân hàng
thương mại.


15
Vốn của ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng,
hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh toán của các
ngân hàng thương mại. Thông thường so với các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng lớn
có những khoản mục về đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho
vay của các ngân hàng này cũng lớn hơn. Trong khi các ngân hàng lớn hoạt động
trên phạm vi toàn thế giới thì các ngân hàng nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt động chủ
yếu trong một khu vực nhỏ, trong nước. Nếu khả năng về vốn của ngân hàng đó dồi
dào thì ngân hàng có thể mở rộng được các hoạt động của mình và đáp ứng được
nhu cầu về vốn của khách hàng về cho vay, bảo lãnh, đầu tư...
Thứ ba: Vốn giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh.
Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ
hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh
toán... Bởi vì khi đi vay vốn để thực hiện các hoạt động của mình, ngân hàng sẽ phụ
thuộc hoàn toàn vào đối tượng cho vay về thời hạn vay, số lượng vay và chi phí vay
cao. Do đó có thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Ngược lại, ngân hàng
có lượng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động kinh doanh

phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo lợi nhuận cho ngân hàng,
đặc biệt là tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Huy động từ chủ sở hữu:
Nguồn huy động từ chủ sở hữu thông thường gồm vốn tự có và một số quỹ
mang tính chất đặc thù của mỗi quốc gia ( như Quỹ đầu tư phát triển do Chính phủ
cấp cho một số NHTM quốc doanh ở Việt Nam).
Vốn tự có của NHTM cũng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong
phạm vi bài viết này chúng ta chỉ xem xét dưới các hình thức như: Vốn pháp định,
vốn điều lệ và các quỹ.
Vốn pháp định: Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trước khi được phép khai
trương Ngân hàng là phải có đủ vốn ban đầu theo luật định. ở Việt Nam, để thành


17
lập một NHTM trước hết phải có đủ vốn pháp định theo mức quy định của NHNN.
Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân
hàng quyết định. Theo quy định của Việt Nam có thể khái quát như sau: Nếu là
NHTM thuộc sở hữu nhà nước, vốn pháp định do Ngân sách Nhà nước cấp 100%
vốn ban đầu; Nếu là NHTM cổ phần, vốn pháp định do sự đóng góp của cổ đông
dưới hình thức phát hành cổ phiếu; Nếu là NHTM liên doanh, vốn pháp định là vốn
đóng góp cổ phần của ngân hàng tham gia liên doanh.
Vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ ít
nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN công bố vào đầu mỗi năm tài chính.
Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và
phạm vi hoạt động của ngân hàng đó ( vốn điều lệ bao hàm cả vốn pháp định).
Ngoài ra vốn tự có củaNHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là các
quỹ buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng) như:
Quỹ bảo toàn vốn, Quỹ phúc lợi, Quỹ khấu hao tài sản cố định,...
Nguồn vốn tự có của NHTM thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn

bù đắp thấu chi. Kết quả cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch
tương đương với lãi thu được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
Hiện nay có hai loại tài khoản tiền gửi cạnh tranh nhau: Tài khoản tiền gửi
trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản “Supper NOW”. Hai loại tài khoản này
được trả lãi theo lãi suất trên thị trường tiền tệ và khách hàng có thể thực hiện thanh
thoán cho các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ thông qua việc phát séc hay hối
phiếu uỷ quyền trước.
Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội
Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh, quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội và
được các đơn vị này gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Khoản vốn này tạm
thời được giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử
dụng trong ngắn hạn.
Đây là nguồn chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn cũng như là
trong cơ cấu vốn nói chung của NHTM. Bởi lẽ trong quá trình sản xuất kinh doanh


19
của mình, các doanh nghiệp ít khi có một lượng vốn nhàn rỗi trong một thời gian dài
và nếu có chỉ là một lượng nhỏ mà thôi.Các tổ chức kinh tế- xã hội có vử khả quan
hơn về mặt kỳ hạn nhưng lượng vốn họ có lại không đủ lớn.Tuy vậy nguồn vốn này
vẫn không thể thiếu trong cơ cấu tạo nên nguồn vốn của một ngân hàng. Cũng như
tiền gửi có kỳ hạn nói chung, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội khi gửi
tiền vào ngân hàng cũng phải có sự thoả thuận về kỳ hạn của khoản tiền đó.
Như vậy về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã
thoả thuận. Tuy nhiên trên thực tế do quá trình cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động
ngân hàng ngày càng gay gắt và để thu hút nguồn này một cách tốt nhất, các NHTM
thường cho phép khách hàng được rút tiền ra trước hạn nhưng không được hưởng
lãi hoặc hưởng lãi ở mức thấp hơn. Hầu hết các NHTM ở Việt Nam, nếu khách
hàng rút tiền trước thời hạn đã thoả thuận thì chỉ được hưởng theo lãi suất loại tiền

* Kỳ phiếu:
Nhu cầu phát hành kỳ phiếu thường phát sinh khi ngân hàng muốn có nguồn
vốn đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô, trọng điểm nhằm phục vụ kịp thời
cho đầu tư phát triển của đất nước hoặc vì mục đích kinh doanh của ngân hàng như:
Đầu tư chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác
chưa đáp ứng được. Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát hành bằng từ trình gửi
NHNN. Trong tờ trình “ Xin phép phát hành kỳ phiếu” phải trình bày đầy đủ các
nội dung sau:
+ Lý do xin phát hành
+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn
+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phương thức trả lãi)
+ Thời gian phát hành
+ Tỷ lệ lãi cho từng loại kỳ phiếu
+ Tính toán hiệu quả kinh tế cho từng loại kỳ phiếu.
Phát hành kỳ phiếu là một nghiệp vụ huy động vốn có tính hiệu quả cao, hấp
dẫn người mua và NHTM luôn chủ động trong việc bổ sung vốn hạn khi cần thiết.
* TRÁI PHIẾU:
Trái phiếu Ngân hàng có thể phát hành dưới các hình thức: vô danh, ghi sổ,
ghi danh. Trái phiếu vô danh thuộc quyền sở hữu của người có trái phiếu và được tự


21
do chuyển nhượng, chủ sở hữu trái phiếu ghi danh và ghi sổ muốn chuyển nhượng
thì phải làm thủ tục ở Ngân hàng ( nơi mua trái phiếu).
Lãi suất của trái phiếu do NHTM ấn định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn
trên thị trường sao cho có thể khuyến khích, động viên được người gửi vốn, người
vay có thể chấp nhận được và NHTM đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Phương thức
trả lãi cũng được các NHTM áp dụng một cách linh hoạt: Trả lãi trước, Trả lãi sau,
Trả lãi định kỳ...
NHTM muốn được phép phát hành trái phiếu cần phải hội đủ các điều kiện sau:

theo kế hoạch của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi. Nhưng khoản vay này
thường bị hạn chế số lượng, đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt chặt.
- Vay từ Bộ Tài chính: Mặc dù đã có Tổng cục đầu tư phát triển nhưng Bộ tài
chính vẫn có sự hỗ trợ cho các chương trình tín dụng Ngân hàng. Hàng năm, các địa
phương được phân bổ một số vốn trung và dài hạn cho các công trình phục vụ các
mục tiêu quốc kế dân sinh. Nguồn này sẽ được Bộ Tài chính chuyển sang Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển hoặc của NHTM quốc doanh khác dưới hình thức quỹ đầu tư
phát triển để cho các đối tượng này vay với lãi suất ưu đãi. Nhưng cũng có những dự
án thuộc danh mục Chính phủ chỉ định nhưng NHTM sẽ lo vốn đầu tư toàn bộ. Do đó
NHTM có thể vay một phần từ Bộ Tài chính để tài trợ cho các dự án này, Bộ Tài
chính sẽ chuyển tiền để cấp bù phàn chênh lệch giữa lãi suất cho vay trung và dài hạn
của NHTM là lãi suất ưu đãi để NHTM không bị lỗ trong kinh doanh.
* Vay từ các NHTM và Tổ chức tín dụng khác
Ngoài nghiệp vụ vay từ NHNN và Bộ Tài chính thì các NHTM có thể vay
mượn lẫn nhau hoặc vay từ các Công ty Bảo biểm để đảm bảo vốn cho hoạt động
kinh doanh dựa trên nguyên tắc:
- Các NHTM phải hoạt động hợp pháp
- Thực hiện việc đi vay và cho vay theo hợp đồng tín dụng.
- Vốn vay phải được bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của
NHNN.
Nguồn vay mượn này thường có chi phí cao, kỳ hạn trung hạn là chủ yếu, phụ
thuộc nhiều vào quan hệ cũng như uy tín của NHTM đi vay.
* VAY TỪ NƯỚC NGOÀI:


23
Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 thì các NHTM có
thể vay vốn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong nước.Các NHTM Việt
Nam hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các Ngân hàng trong
khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi. Lãi suất

kết quả đạt cao nhất và chi phí về huy động vốn là nhỏ nhất.Tuy nhiên trong thực tế
thì rất khó có thể xác định được tính hiệu quả của hoạt động huy động vốn.
Như vậy hiệu quả huy động vốn đuợc thể hiện ở khả năng đáp ứng nhu cầu
vốn cao nhất của ngân hàng. Đó là sự đáp ứng một cách đầy đủ , kịp thời nhu cầu
sử dụng vốn với chi phí hợp lý.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
Việc đánh giá được hiệu quả huy động vốn có tầm quan trọng rất lớn đến hoạt
động của ngân hàng thương mại. Thông thường để đánh giá được mức độ hiệu quả
của hoạt động huy động vốn cần làm rõ một số chỉ tiêu như sau :
Chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
Theo như trên đã phân tích, vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động
kinh doanh, vốn quyết định quy mô tín dụng cũng như toàn bộ các hoạt động khác
của ngân hàng, từ đó, vốn quyết định năng lực cạnh tranh, quy mô phát triển của
ngân hàng. Quy mô nguồn vốn huy động phải đủ lớn để tài trợ cho danh mục tài
sản đa dạng và không ngừng tăng trưởng với sự ổn định cao của ngân hàng.
Để xác định tính hiệu quả trong quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ta
dùng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch (TLHTKH) và nó được xác định như sau:
TLHTKH = Tổng vốn huy động/kế hoạch huy động ( %)
Nếu tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động lớn hơn 100%, lượng vốn huy động
thực tế lớn hơn kế hoạch, ngân hàng sẽ phải cố gắng sử dụng hợp lý số vốn thừa.
Bởi, nếu không chi phí sẽ tăng khi lượng vốn này không sinh lời mà vẫn phải trả lãi
và chi phí huy động khác. Ngược lại, nếu không đạt chỉ tiêu để ra (TLHTKH nhỏ
hơn 100%), ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác nêu cần để bổ sung vốn
hoạt động. Còn nếu hoàn thành kế hoạch (TLHTKH bằng 100%) không có nghĩa là
tốt nhất mà còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn hiện tại của ngân hàng.
Quy mô huy động vốn càng lớn không có nghĩa là hoạt động huy động vốn hiệu
quả vì hiệu quả huy động vốn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính an toàn của
đồng vốn huy động hay chi phí vốn cao hay thấp…
Tăng trưởng nguồn vốn là một trong những mục tiêu quan trọng của ngân


Tỷ trọng huy động vốn từ các nguồn =

Lượng vốn huy động từ các nguồn
Tổng vốn huy động


Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển của Ngânhàng NN & PTNN chi nhánh Móng Cái, Quảng Ninh. Cơ cấu tổ chức quản lý của Ngânhàng NN & PTNN chi nhánh Móng Cái, Quảng Ninh. Kết quả hoạt động của Agribank Móng Cá Thực trạng chi phí vốn. Trả lại nhận gửi/vay TCTD ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status