1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả.
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong quá
trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Hằng Nga
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm việc và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS., TS. Nguyễn Thị
Mùi – người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, Quý thầy cô thuộc khoa
Tài chính – Ngân hàng, Đại học Thương Mại đã giúp tôi hoàn thành quá
trình học tập và thực hiện Luận văn Thạc sỹ kinh tế.
Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP
Sacombank – chi nhánh Đông Đô nơi tôi đang công tác đã giúp đỡ mọi mặt,
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, xin cảm ơn các đồng
nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sacombank – chi nhánh Đông Đô đã tạo điều
kiện thu thập số liệu, cung cấp thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề
tài.
Nhân dịp này, tôi cũng xin cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên và
giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này.
TTQT
UPAS LC
:
:
:
:
:
:
VAMC
XNK
XK
WTO
:
:
:
:
Doanh nghiệp
Dự phòng rủi ro
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng nhà nước
Nhập khẩu
Thư tín dụng
Point of sale
(Máy chấp nhận thẻ)
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Tổ chức tín dụng
Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng hoạt động cho vay DN XNK
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Việc XNK hàng hóa
là một nhu cầu tất yếu khách quan, tùy theo quan hệ cung cầu để xuất,
nhập các mặt hàng khác nhau. Đặc biệt, từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO, nền kinh tế nước ta càng hội nhập sâu, rộng hơn
với các nên kinh tế trên thế giới. Do đó, hoạt động XNK là yêu cầu khách
quan trong nền kinh tế. Thực tế cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp đều
hạn hẹp về nguồn vốn. Vì vậy để thực hiện tốt chức năng XNK hàng hóa,
dịch vụ, tạo ra lợi nhuận, ngoài việc sử dụng nguồn vốn tự có của mình, các
doanh nghiệp rất cần được tài trợ vốn từ ngân hàng. Mặt khác, đối với các
NHTM, việc cung cấp cho vay các doanh nghiệp XNK đem lại nhiều nguồn
lợi ích khác nhau. Ngoài hiệu quả kinh doanh từ việc thu thuần từ lãi cho
vay, các NHTM còn thu được các loại phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán
quốc tế, lợi nhuận từ hoạt động mua bán ngoại tệ…, đồng thời tăng uy tín
và vị thế của ngân hàng đối với khách hàng nói chung và đối với hệ thống
ngân hàng đại lý nước ngoài nói riêng.
Hoạt động cho vay đối với lĩnh vực XNK là hết sức phức tạp, tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Nó không những phải chịu tác động của chính sách kinh tế
trong nước mà còn chịu sự tác động trực tiếp của thị trường tiền tệ quốc
tế, chịu sự tác động của nhiều qui phạm, nguồn luật khác nhau. Hơn nữa
trong thời điểm hiện nay khi các NHTM đều được phép kinh doanh đối
ngoại, sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các ngân
hàng liên doanh... làm cho mức độ cạnh tranh trong cho vay phục vụ hoạt
biện pháp thực hiện các chiến lược đó nhằm mở rộng cho vat XNK tại ngân
hàng. Tuy nhiên luận văn chưa đề cập đến vấn đề hiệu quả cho vay XNK và
đánh giá thực trạng hiệu quả cho vay XNK thông qua các chỉ tiêu cụ thể để từ
7
đó đề ra các giải pháp sát với thực trạng của Ngân hàng giúp Ngân hàng nâng
cao hiệu quả cho vay XNK.
Đề tài “Tài trợ xuất nhập khẩu ngắn hạn tại các ngân hàng thương
mại cổ phần của Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn
Phương Lan, Đại học Ngoại thương Hà Nội (2006).
Đề tài “Đẩy mạnh hoạt động tài trợ thương mại của Ngân hàng Công
thương Việt Nam sau cổ phần hóa” – Luận văn thạc sĩ thương mại của tác
giả Lương Kiều Linh, Đại học Ngoại thương (2010)
Những công trình này, các tác giả đã tiếp cận hiệu quả tín dụng xuất
nhập khẩu từ nhiều góc độ khác nhau. Hệ thống các giải pháp mà các tác
giả đưa ra cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng xuất nhập
khẩu tại ngân hàng hoặc chi nhánh được nghiên cứu. Tuy nhiên mỗi nghiên
cứu chỉ tập trung đưa ra các giải pháp khắc phục những tồn tại hiện có
trong ngân hàng mà chưa quan tâm nhiều đến điều kiện áp dụng những
giải pháp ấy vào thực tế của ngân hàng. Mặt khác các công trình này thực
hiện trong điều kiện Việt Nam chưa là thành viên WTO, hoặc tham gia ở
những năm đầu. Vì thế, tác động của hội nhập đến hoạt động XNK tại các
DN nói chung, NHTM cho vay XNK nói riêng chưa được chỉ ra tại các công
trình này.
Trong điều kiện kinh tế thị trường vận động liên tục, luôn luôn đổi mới
và phát triển hơn nên mỗi công trình nghiên cứu lại có giá trị tại một thời
điểm nhất định. Hơn thế, do đặc điểm của mỗi ngân hàng rất khác nhau và
hiện nay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Đông đô chưa
- Thời gian ứng dụng các giải pháp đề xuất: 5 năm, kể từ năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1.Phương pháp luận trong nghiên cứu
9
Dựa trên nền tảng của phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để
tiếp cận lý thuyết, luận giải thực tế, luận văn sử dụng các phương pháp
khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
để phân tích thực trạng hoạt độngcho vay doanh nghiệp XNK tại ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đông Đô. Từ đó rút ra các các kết
luận về hiệu quả cho vay doanh nghiệp XNK trong 3 năm gần đây của chi
nhánh và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp
XNK của Chi nhánh trong những năm tới.
5.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
Luận văn chủ yêu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ
các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh hàng năm, số liệu, thông tin của
ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn
2012 -2014, các loại sách báo chuyên ngành về ngân hàng, tạp chí ngân
hàng… Thông tin số liệu thứ cấp được thu thập nhằm khái quát thực trạng
hiệu quả cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín –
chi nhánh Đông Đô.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục từ viết
tắt, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay doanh nghiệp xuất
nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay doanh nghiệp xuất nhập
1.1.1.2. Cho vay tài trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu của NHTM
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành
vấn đề quan trọng. Thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng,
nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hoá, thị trường đầu tư trở thành nhu
11
cầu cấp bách của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính
có hạn mà các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đủ vốn thu mua chế
biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh ra quan hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài
trợ của các ngân hàng.
Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi
phức tạp, nên những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của ngân
hàng đem lại cho các nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết kỹ thuật và
chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực quan trọng này.
Có thể nói sự ra đời của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu
cầu tất yếu khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương
giữa các nước với nhau.
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của ngoại thương cũng như sự phát triển kinh tế của
đất nước. Cùng với sự phát triển của ngoại thương và hệ thống ngân hàng,
hoạt động hỗ trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng phát triển ngày càng đa
dạng và phong phú:
Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với
các đơn vị nhập khẩu như cho vay để bổ sung vốn lưu động, thu mua chế
biến sản xuất hàng xuất khẩu theo các hợp đồng đã được ký kết, cho vay để
thanh toán các nguyên liệu, hàng hoá, vật tư nhập từ nước ngoài.
Từ hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu, ngân hàng đã mở rộng
trung, dài hạn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập
có thể thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Đối tượng được tài trợ nhập khẩu: Là các doanh nghiệp nhập khẩu
có nhu cầu về tiền để thanh toán cho bên xuất khẩu trong hợp đồng mua
bán hàng hóa, thời hạn tài trợ thường ngắn hạn. Yêu cầu đối với doanh
nghiệp nhận tài trợ phải đảm bảo một số điều kiện như sau: có giấy phép
kinh doanh nhập khẩu, mặt hàng nhập khẩu phải được phép theo quy định
13
của pháp luật, và yêu cầu về khả năng tài chính để đảm bảo hoàn trả tiền
vay.
14
Cho vay tài trợ xuất khẩu:
- Khái niệm: Cho vay tài trợ xuất khẩu là nghiệp vụ của NHTM, đây là
hình thức tài trợ thương mại có kỳ hạn gắn với thời hạn của thương vụ kể từ
khi doanh nghiệp thu gom hàng xuất khẩu, mua vật tư nguyên liệu sản xuất,
tiến hành sản xuất…đến khi hàng được xuất khẩu ra nước ngoài và thu được
tiền về. Bao gồm hỗ trợ về tài chính và thủ tục giấy tờ liên quan để doanh
nghiệp xuất khẩu thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua bán hàng
hóa.
- Đối tượng của tài trợ xuất khẩu: Là các doanh nghiệp xuất khẩu, có
nhu cầu vốn tạm thời trong quá trình sản xuất kinh doanh. Khi doanh
nghiệp xuất khẩu nhận tài trợ, phải đảm bảo điều kiện là doanh nghiệp
được phép kinh doanh xuất khẩu, hoặc có hợp đồng ủy thác xuất khẩu, dự
án kinh doanh có hiệu quả kinh tế.
1.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay doanh nghiệp xuất nhập khẩu
ngân hàng.
Hiệu quả của NHTM trong hoạt động cho vay doanh nghiệp XNK
không chỉ thể hiện qua lãi suất cho vay, mà còn thông qua việc bán chéo các
sản phẩm, dịch vụ khác: dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối,
các sản phẩm phái sinh….
1.1.2.2. Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Tài trợ XNK của NHTM giúp doanh nghiệp thực hiện được những
thương vụ lớn. Những thương vụ trong ngoại thương thường đòi hỏi
nguồn vốn lớn, trong khi đó rất nhiều doanh nghiệp lại hạn chế về vốn,
không đủ để chuẩn bị hàng xuất khẩu, hoặc thanh toán tiền nhập khẩu
hàng hóa. Tài trợ XNK của NHTM là giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện
được kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình.
Tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên thị
trường quốc tế: thông qua tài trợ ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện được
những thương vụ lớn, trôi chảy, quan hệ với nhiều đối tác trên thị trường quốc
16
tế thành công. Từ đó, nâng cao hình ảnh, uy tín của danh nghiệp với các đối tác
nước ngoài.
Tài trợ XNK làm tăng tính hiệu quả của doanh nghiệp trong cơ chế
thị trường. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp
thu mua hàng hóa đúng thời vụ, giao hàng đúng hạn. Đối với doanh nghiệp
nhập khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp nhập máy móc, thiết bị, đổi mới
công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trong
ngành.
Tài trợ XNK của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát
triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, tác động
đến sự phát triển nền kinh tế.
đối tượng cho vay mà quyết định:
- Phương thức cho vay (cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức hay
cho vay đồng tài trợ...).
- Thời gian cho vay (cho vay ngắn hạn đến 1 năm, cho vay trung hạn
từ trên 1 năm đến 5 năm, cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên).
- Số tiền cho vay, lãi suất cho vay.
- Hình thức bảo đảm tiền vay... nhằm ràng buộc người đi vay có trách
nhiệm phải sử dụng vốn sao cho hiệu quả, đúng mục đích, đảm bảo nghĩa vụ
trả nợ vay đúng hạn, như vậy vốn ngân hàng cho vay được bảo toàn và phát
triển.
1.1.3.2. Cho vay trong khuôn khổ tín dụng chứng từ (Documentary credit)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự cam kết trong đó một
ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dông - ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu), mở thư tín dụng (L/C, Letter of Credit) theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu, sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi)
thông qua ngân hàng của nhà xuất khẩu (ngân hàng thông báo) hoặc chấp
nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát trong phạm vi số tiền đã cam kết
18
với điều kiện nhà xuất khẩu trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán
phù hợp với những yêu cầu đề ra trong thư tín dụng.
Trong phương thức tín dụng chứng từ có sự tham gia của ít nhất 2
ngân hàng: Ngân hàng nước người nhập khẩu với tư cách là ngân hàng
mở thư tín dụng và ngân hàng nước người xuất khẩu với tư cách là ngân
hàng thông báo. Với phương thức này, người nhập khẩu được đảm bảo
rằng ngân hàng của mình sẽ không trả tiền nếu người bán không cung cấp
bộ chứng từ phù hợp L/C, và nhà xuất khẩu về phần mình cũng được đảm
bảo thanh toán bởi một ngân hàng (ở mức độ đảm bảo cao hơn so với đảm
Đồng thời khách hàng phải lên kế hoách tài chính nhằm xác định khả năng
thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt
với ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản
ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức
ngân hàng chấp nhận tài trợ.
Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C đã
được chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà
nhập khẩu. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ
sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có
thể thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc
ứng trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán .
1.1.3.3. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
20
Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó, bên bán (nhà xuất
khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục
vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng thu hé cho bên mua
(nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận
các điều kiện và các điều khoản khác.
- Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: Ngân hàng cho vay
thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ
hàng xuất khẩu.
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: Ngân hàng tiếp
nhận chứng từ từ ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà
nhập khẩu. Nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì cần phải
- Chiết khấu miễn truy đòi
Ngân hàng mua lại bộ chứng từ của người xuất khẩu, giá mua sẽ
thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại chi phí chiết khấu
và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhạap khẩu nước ngoài.
Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hãn bộ chứng từ
cho ngân hàng, nhạn tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm
thu tiền và quyền sữ dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng.
ở Việt Nam các ngân hàng ít sữ dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm
ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng.
- Chiết khấu được phép truy đòi
Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối
phiếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếu(nhà xuất khẩu ) và giá trị
chiết khấu cao hơn.
- Chấp nhận hối phiếu:
22
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký
chấp nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập
khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính. Thực
chất ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi
đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì người cho
vay (ngân hàng) - người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu
tin tưởng khả năng thanh toán của bên mua. Họ có thể đề nghị bên mua yêu
cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát.
Nếu ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một
khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến
hạn.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, để quyết định bỏ vốn tài
trợ vào một dự án nào đó, các ngân hàng phải đứng trước hai sự lựa chọn
là lợi nhuận và rủi ro. Mức độ rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Vì thế
trong một quyết định cho vay, ngân hàng có thể theo đuổi mục tiêu lợi
nhuận cao hay thấp, song phải xác định được mối liên hệ giữa rủi ro và sinh
lời để đảm bảo hoạt động cho vay đem lại lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp
nhất. Cho vay được coi là hoạt động xương sống của bất kỳ ngân hàng nào,
mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Hiệu quả hoạt động cho vay DN XNK cũng như hiệu quả hoạt động
tín dụng ngân hàng nói chung phản ánh kết quả mà ngân hàng đạt được
trong hoạt động tín dụng so với những mục tiêu đã đặt ra và so với chi phí
đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả cho vay doanh nghiệp XNK
24
Khi hoạt động, điều các NHTM quan tâm là hiệu quả của hoạt động đó.
Tuy nhiên, để biết được một cách chính xác hiệu quả đạt được, đó không phải
là vấn đề dễ dàng. Để đo lường hiệu quả của hoạt động cho vay doanh nghiệp
XNK, các ngân hàng đã sử dụng hệ thống các chỉ tiêu định tính và định lượng.
Các chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay DN
XNK là những chỉ tiêu về sự đa dạng hóa các sản phẩm cho vay XNK, các
dịch vụ hỗ trợ liên quan đến sản phẩm, mức độ hài lòng của khách hàng với
hoạt động cho vay XNK của ngân hàng.
Các chỉ tiêu định lượng được dùng để làm cơ sở đánh giá chính xác,
khoa học, hiệu quả tín dụng XNK gồm hệ thống các chỉ tiêu về lợi nhuận cho
vay DN XNK, chỉ tiêu về tăng trưởng và chỉ tiêu về chất lượng hoạt động
cho vay DN XNK.
a.Chỉ tiêu lợi nhuận cho vay DN XNK
Ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh, đều hướng tới một mục tiêu là lợi nhuận. Cách xác định
lợi nhuận của ngân hàng cũng dựa trên cơ sở doanh thu và chi phí.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp XNK thông qua
chỉ tiêu lợi nhuận gồm có:
Chỉ tiêu 1: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DN XNK/ Tổng lợi
nhuận
Chỉ tiêu này thể hiện tỷ lệ lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay
doanh nghiệp XNK so với lợi nhuận của toàn ngân hàng, phản ánh mức độ
đóng góp của hoạt động này vào kết quả kinh doanh chung của toàn ngân
hàng. Tỷ lệ này cao cho thấy lợi nhuận ngân hàng thu được có sự đòng góp
lớn của hoạt động cho vay doanh nghiệp XNK.
Chỉ tiêu 2: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay DN XNK/ Dư nợ cho
vay DN XNK