Luận văn thạc sỹ Nâng cao năng lực công chức quản lý của thanh tra chính phủ - Pdf 34

i

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép
các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình. Các
thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác. Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của
luận văn.
Hà Nội,ngày 26 tháng 8 năm 2013
Học viên

Nguyễn Thành Hưng


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học khóa CH17A chuyên ngành Quản lý
kinh tế tại trường Đại học Thương mại và viết luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân, tác giả cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình
của các thầy, cô giáo trường Đại học Thương mại. Các cán bộ quản lý Khoa
Sau đại học, cô giáo hướng dẫn, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá
trình học tập và công tác.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Trường Đại học Thương mại, Khoa Sau đại học đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tác giả học tập và nghiên cứu.
Các thầy cô giáo Trường Đại học Thương mại đã giảng dạy trong suốt
quá trình tác giả học tập tại trường.
Cô giáo hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan, người đã toàn tâm, toàn ý
hướng dẫn về mặt khoa học giúp tác giả hoàn thành luận văn này.

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Hình 1.1: Vai trò của người quản lý…………………………………………..17

LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo,
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:..................................................................8
Chương 2:Thực trạng năng lực công chức quản lý của Thanh tra Chính phủ. .8
Quan điểm 2: Nâng cao năng lực đội ngũ công chức quản lý theo hướng
chuyên nghiệp hoá, dựa trên cơ sở yêu cầu của công việc..................................83
Quan điểm 3: Nâng cao năng lực công chức quản lý phải đặt phẩm chất đạo
đức nghề nghiệp lên hàng đầu..............................................................................83
3.2.2. Thực hiện luân chuyển công chức quản lý.................................................86
3. Tổ chức đánh giá kết quả thực hiện công việc của công chức quản lý..........93


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

HTX

Hợp tác xã


nước. Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá khoa học về đội ngũ công chức quản lý
Nhà nước và năng lực đội ngũ công chức quản lý Nhà nước có ý nghĩa hết sức
quan trọng, là cơ sở góp phần giúp cho Đảng và Nhà nước có chiến lược trong
việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và
phát triển của đất nước.
Đội ngũ công chức quản lý Nhà nước Việt Nam đã được hình thành và
phát triển cùng với công cuộc giải phóng đất nước, bảo vệ tổ quốc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng đó, công chức quản lý
Nhà nước Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất
lượng, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đất nước
trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển trước những đòi hỏi
của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng, đội ngũ công
chức quản lý Nhà nước Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, năng lực
của đội ngũ công chức quản lý Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu của công
việc, chưa tạo ra tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ của một nền hành
chính hiện đại.
Thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng và nâng cao năng lực
đội ngũ công chức quản lý Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,


2
hiện đại hóa đất nước; nhận thức được những thiếu xót, những yếu kém của
công chức quản lý của đơn vị trong thực hiện công việc, nhiệm vụ mới: yếu
kém về năng lực quản lý, không đáp ứng kịp thời và thích nghi được với nhiệm
vụ mới, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế… Thanh tra Chính phủ - cơ quan
ngang bộ của Chính phủ, có chức năng quản lý Nhà nước về công tác thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng đã có nhiều chính
sách, biện pháp không ngừng nâng cao năng lực đội ngũ công chức quản lý
thông qua công tác đào tạo và tuyển dụng cán bộ. Với những thay đổi, cải tiến
trong công tác tuyển dụng và đào tạo cán bộ, cơ quan Thanh tra Chính phủ

phân tích, lý giải làm rõ khái niệm cán bộ, công chức Nhà nước; vai trò của cán
bộ, công chức trong xây dựng nền hành chính quốc gia, định hướng trong xây
dựng đội ngũ công chức Nhà nước Việt Nam.
Tháng 11-2010, Bộ Nội vụ đã có báo cáo về “Chương trình tổng thể cải
cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2010-2020 và các văn bản triển khai”,
trong đó đã trình bày những phương hướng và biện pháp cải cách hành chính
Nhà nước giai đoạn 2010-2020 và chương trình, kế hoạch đào tạo, phát triển
công chức hành chính Việt Nam trong giai đoạn này. Trong chương trình này,
vấn đề chất lượng công chức hành chính Nhà nước và nâng cao chất lượng
công chức Nhà nước được đặc biệt nhấn mạnh.
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách “Luận cứ khoa
học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” (3-2001). Tác phẩm này đã phân
tích, xây dựng luận cứ khoa học và nội dung của công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước, yêu cầu của công nghiệp hóa – hiện đại hóa với việc nâng cao
chất lượng cán bộ, công chức nói chung.
Trong năm 2004, được sự hỗ trợ của Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế
Thuỵ Điển (Sida), Bộ Nội vụ đã tiến hành cuộc hội thảo về “Quản lý nguồn
nhân lực công” nhằm tìm ra được những vấn đề và xác lập mục tiêu để xây
dựng dự án hỗ trợ của tổ chức Sida cho Bộ Nội vụ giai đoạn mới trong khuôn
khổ chương trình hỗ trợ cải cách hành chính của tổ chức Sida Thuỵ Điển cho


4
Việt Nam. Trong cuộc hội thảo này, các nhà khoa học và quản lý đã đi đến nhất
trí rằng công tác quản trị nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính còn yếu
kém và trong đó điểm mấu chốt là chưa tiến hành được nội dung phân tích công
việc trong các cơ quan hành chính nhà nước. Do chưa thực hiện tốt công tác phân tích
công việc nên các chính sách của quản trị nguồn nhân lực công chưa phát huy được
hiệu quả (như chính sách tuyển dụng, đào tạo và phát triển nhân lực, thù lao lao

Đăng Minh (2004), Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực
tiễn nước ta – Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), phát triển nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Nguyễn Thanh (2002), kinh tế nguồn
nhân lực – Trần Xuân Cầu (2006)…
Từ các nghiên cứu trên cho thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về công chức Nhà nước và chất lượng,
năng lực công chức Nhà nước thường nghiêng về tiếp cận theo hướng từ nền hành
chính Nhà nước, dựa trên quan điểm của Quản lý hành chính Nhà nước hoặc theo
cách tiếp cận của Luật hành chính; ít hoặc không thấy công trình tiếp cận theo
hướng khoa học về quản trị nguồn nhân lực. Do đó, trong luận văn này tác giả
nghiên cứu đánh giá về năng lực công chức quản lý Nhà nước và đưa ra các giải
pháp trên cơ sở của khoa học về quản lý nhân lực.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn luận về khái niệm cán bộ,
công chức, công chức hành chính, viên chức… và thường tập trung phân tích đánh
giá về công chức Nhà nước nói chung ít đi sâu vào một nhóm công chức cụ thể. Vì
vậy, trong đề tài này tác giả luận văn đi sâu nghiên cứu đánh giá về năng lực công
chức quản lý - tại một đơn vị cụ thể đó là Thanh tra Chính phủ.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu thường đánh giá chất lượng công chức
dựa trên yêu cầu của công vụ trong bộ máy hành chính Nhà nước, các giải pháp
thường quan tâm tới nâng cao chất lượng công chức để đảm bảo nâng cao năng
lực, hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính quốc gia; còn ít đề tài nghiên cứu tới
những thay đổi của các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng công chức
cũng như bộ máy quản lý. Trong đề tài này, tác giả luận văn nghiên cứu đánh giá
năng lực công chức quản lý trong trạng thái động dưới sự tác động của các yếu
tố bên ngoài.


6
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đề xuất giải pháp nâng cao năng lực công chức quản lý của Thanh



7
hành phỏng vấn một số công chức quản lý ở các Vụ tại Thanh tra Chính phủ.
Đối tượng điều tra qua bảng hỏi là các công chức quản lý Nhà nước đang
làm việc tại các Vụ thuộc Thanh tra Chính phủ gồm những người có chức danh
từ Phó phòng (hoặc tương đương) trở lên.
Các dữ liệu được xử lý bằng phần mềm excel, tổng hợp và phân tích dựa
trên các phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích và phương pháp so
sánh. Kết quả điều tra có tổng số phiếu phát ra là 180 phiếu, số phiếu thu về là
167, số phiếu hợp lệ là 167, đạt tỉ lệ là 92.78%. Mẫu phiếu điều tra và tổng hợp
kết quả điều tra được thể hiện ở Phụ lục của Luận văn bằng phương pháp excel.
- Đối với dữ liệu thứ cấp: luận văn sử dụng số liệu từ các báo cáo của
Thanh tra Chính phủ và các cơ quan Đảng và cơ quan quản lý Nhà nước Việt
Nam (như Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Văn phòng Chính phủ,
Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê,...); các kết quả đã
công bố của các cuộc điều tra khảo sát và đề tài nghiên cứu khoa học do các cơ
quan trong nước và quốc tế thực hiện.
Các dữ liệu sau khi được tổng hợp, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chung trong khoa học kinh tế như: phương pháp phân tích định
lượng, so sánh, tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả… từ đó đưa ra những
nhận xét, đánh giá tổng quan tình hình thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
- Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy
những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn.
- Qua phân tích, đánh giá thực trạng, rút ra những mặt mạnh, những hạn
chế và nguyên nhân thực trạng, làm tiêu đề để xây dựng, nâng cao năng lực của
đội ngũ công chức nói chung và công chức quản lý của Thanh tra Chính phủ
nói riêng.
- Xây dựng quan điểm và hệ thống giải pháp, kiến nghị nâng cao năng

Nhà nước, chấp hành các công vụ của Nhà nước. Sự ra đời của chế độ công
chức là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử phát triển và hoàn thiện
của các tổ chức Nhà nước, là mốc son đánh dấu của sự văn minh trong hoạt
động quản lý Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội. Xã hội càng phát triển
hiện đại, càng cần một chế độ công chức tiên tiến để bảo đảm quản lý và thúc
đẩy xã hội phát triển một cách đồng bộ.
Vào nửa cuối thế kỷ XVIII chế độ công chức đã ra đời ở các nước tư bản
phương Tây, phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển Nhà nước.
Sau cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội ở các nước tư bản là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển chế độ
công chức. “Nhân vật” trung tâm của chế độ công chức là người công chức nói
riêng và đội ngũ công chức nói chung với những tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu
đáp ứng yêu cầu hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước.
Vậy công chức là gì? Mỗi một quốc gia có quan niệm và định nghĩa khác nhau về
công chức, sau đây là một số quan niệm và định nghĩa công chức có tính đặc trưng.


10
Theo luật Công chức của Cộng hoà Pháp, công chức Nhà nước được định
nghĩa như sau: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm
việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức
dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương
nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương
quản lý. [13, tr 15].
Luật công chức của Vương quốc Anh, ngay từ năm 1859, đã quy định
công chức Nhà nước bao gồm hai bộ phận, cụ thể như sau: Bộ phận thứ nhất là
những người do nhà Vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Uỷ ban dân sự cấp
giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự. Bộ phận thứ hai
là những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của Vương
quốc liên hiệp hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua. [13, tr 16]

sự, kiểm sự và giám sự. Đây là văn bản khởi đầu tạo cơ sở cho việc xây dựng
đội ngũ công chức sau này của Nhà nước Việt Nam. Đến ngày 20/5/1950 Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, trong đó công
chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân
dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính
phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường
hợp riêng biệt do Chính phủ định”. Sắc lệnh này đã tạo tiền đề, cơ sở để hình
thành và phát triển đội ngũ công chức Việt Nam.
Sau khi thống nhất đất nước, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất
nước trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ công chức chính quy,
hiện đại; Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
trong văn bản chỉ đạo ngày 25/8/1995 đã chỉ rõ: Ở nước ta, sự hình thành đội
ngũ cán bộ, viên chức có đặc điểm khác các nước. Cán bộ làm việc trong các
cơ quan Nhà nước, Đảng, Đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính
trị do Đảng lãnh đạo. Bởi vậy cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh
chung đối với cán bộ trong toàn hệ thống chính trị, bao gồm: công chức Nhà
nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, cảnh sát, an ninh…),
cán bộ làm việc chuyên trách ở các cơ quan Đảng, Đoàn thể.


12
Với tư tưởng chỉ đạo đó, ngày 26/2/1998, Pháp lệnh về cán bộ, công
chức đã ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/5/1998. Sự ra đời của Pháp lệnh cán
bộ, công chức đã tạo cơ sở pháp lý cho chế độ công chức Nhà nước Việt Nam
từng bước được xây dựng, hoàn thiện và phát triển đáp ứng yêu cầu của một
Nhà nước pháp quyền XHCN. Trước yêu cầu không ngừng hoàn thiện và nâng
cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức, luật cán bộ công chức đã được ban
hành và có hiệu lực thi hành. Khái niệm về công chức được Nhà nước Việt
Nam nêu trong khoản 2 Điều 4 của Luật công chức như sau:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,

b. Khái niệm về công chức quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước
Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động quản lý, điều hành của các cơ
quan thực thi quyền lực Nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống
xã hội theo luật pháp. Trong cuốn “Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước”, các tác giả
đã viết: “Quản lý Nhà nước còn được gọi là quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động
tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực Nhà nước” [24, tr 27].
Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước chỉ có thể được thực hiện thông
qua vai trò, chức năng quản lý của đội ngũ công chức hành chính Nhà nước.
Những người đảm nhận hoạt động quản lý Nhà nước được gọi là công chức
hành chính Nhà nước hay công chức quản lý Nhà nước. Vì vậy trong nghiên
cứu này, khái niệm công chức quản lý Nhà nước và công chức hành chính Nhà
nước được dùng như nhau.
Để hiểu được khái niệm vể công chức quản lý Nhà nước, trước hết ta cần
phải hiểu được thế nào là nhà quản lý.
Nhà quản lý là người đảm nhận trách nhiệm dẫn dắt, lãnh đạo, hướng dẫn
hoạt động quản lý cho một tổ chức hay một nhóm đối tượng quản lý nhất định
thông qua việc sử dụng các nguồn tài nguyên khác nhau về nhân lực, tài chính, vật tư, tri
thức và giá trị vô hình làm cho tổ chức ấy hoàn thành được những mục tiêu nhất định.
Ở mỗi lĩnh vực khác nhau đòi hỏi mỗi nhà quản lý phải có những kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm và công cụ hỗ trợ quản lý khác nhau. Các loại quản lý có thể
có như: quản lý các quá trình phát triển, quản lý dự án, quản lý công nghệ, quản lý
môi trường, quản lý chất lượng, quản lý tài chính, quản lý công, quản lý xã.


14
Vậy, công chức quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước là những
người hoạt động trong các cơ quan hành chính Nhà nước, thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước đảm nhận trách nhiệm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
soát hoạt động của nhân viên dưới quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước
nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

khả năng thích nghi với hoàn cảnh kinh tế - xã hội mới… của công chức quản
lý. Năng lực công chức quản lý được đánh giá cao hay thấp cần phải được so
sánh với tiêu chuẩn thực hiện công việc ở mỗi công việc mà công chức quản lý
đảm nhận và mức độ thực tế kết quả thực hiện nhiệm vụ công việc của công
chức quản lý.
Năng lực cao của công chức quản lý là cơ sở để hoàn thành chức năng,
nhiệm vụ của bộ máy hành chính Nhà nước, là điều kiện thuận lợi cho phép
tăng cường nhiệm vụ của bộ máy hành chính và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong công tác quản lý.
Vậy, năng lực công chức quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước là
khả năng làm việc thực tế của chính công chức đó được thể hiện ở trình độ
chuyên môn, kỹ năng quản lý và phẩm chất nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu công
việc và mục tiêu đặt ra của cơ quan hành chính nhà nước.
Như vậy, năng lực thực thi công vụ không chỉ bao gồm các yếu tố như trình
độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi ứng xử mà còn bao hàm cả khả năng kết
hợp hài hoà các yếu tố đó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được
kết quả cao nhất với chí phí thấp nhất.
Để thực thi hoạt động quản lý hành chính Nhà nước công chức quản lý của cơ quan
Hành chính Nhà nước cần phải có các kiến thức kỹ năng về hành chính Nhà nước và các
kiến thức chuyên môn trong quá trình tiến hành các hoạt động quản lý tại cơ sở. Kiến thức
của họ còn được trang bị thông qua các loại hình đào tạo (từ Trung cấp đến Đại học) bồi
dưỡng và tự học, còn kỹ năng hành chính là khả năng vận dụng có kết quả tri thức về
phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.
1.1.2. Vai trò của công chức quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước
Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động tổ chức và điều
hành để thực hiện quyền lực Nhà nước - là hoạt động điều chỉnh các quá trình


16
xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực Nhà nước. Trong đó

tríchính
chínhthức
thức

Vai
Vai trò
trò quan
quan hệ:
hệ:
Đại
Đại diện
diện
Lãnh
Lãnh đạo
đạo
Liên
hệ
Liên hệ

Vai
Vai trò
trò thông
thông tin:
tin:
Theo
Theo dõi
dõi
Thông
Thông báo
báo

nguồn lực
lực
Đàm
phán
Đàm phán

Hình 1.1: Vai trò của người quản lý
Nhóm vai trò quan hệ
Là nhóm vai trò rất quan trọng bao gồm các vai trò đại diện, vai trò lãnh
đạo và vai trò liên hệ. Nhóm vai trò thể hiện khả năng của nhà quản lý trong
các mối quan hệ bên trong và bên ngoài nhằm tạo dựng một mối quan hệ hợp
tác tốt đẹp giữa tổ chức và các đoàn thể, đơn vị khác hay giữa các công chức
quản lý trong đơn vị: các công việc có tính chất lễ nghi (tiếp khách, đón khách
tham quan...), chịu trách nhiệm về các công việc của những người trong đơn vị
và các hành động thực hiện vai trò lãnh đạo (tuyển dụng, đào tạo nhân viên...),
tạo dựng một hệ thống thông tin bên ngoài của nhà quản lý...
Nhóm vai trò thông tin
Bao gồm vai trò theo dõi, vai trò thông báo và vai trò người phát ngôn.
Nhóm vai trò này giúp nhà quản lý thu thập thông tin một cách chính xác và
kịp thời dựa trên các mối quan hệ hợp tác của chính nhà quản lý. Từ đó cung


18
cấp, chia sẻ thông tin cần thiết cho nội bộ tổ chức, chuyển tiếp thông tin trong
tổ chức hay cung cấp thông tin ra bên ngoài tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu
nào đó của đơn vị giúp cho hoạt động của đơn vị được trôi chảy.
Nhóm vai trò ra quyết định
Nhóm vai trò này cũng rất cần thiết và quan trọng, nó không những giúp
nhà quản lý có được những quyết định sáng suốt mà nó còn giúp nhà quản lý
giải quyết và hoàn thành công việc một cách chính xác, kịp thời và hiệu quả.

- Công chức quản lý là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có
vai trò đưa đường lối, chính sách của Nhà nước đi vào thực tiễn; tiếp thu và
thực hiện nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của
cuộc sống đặt ra để phản ảnh cho Nhà nước kịp thời có chủ trương, chính sách
sát thực để giải quyết.
- Công chức quản lý là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong
việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước các cấp, là một trong
những nguồn nhân lực quan trọng nhất trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Như vậy, công chức quản lý có một vị trí vô cùng quan trọng đối với sự
tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia. Vấn đề đặt ra: nếu đội ngũ này có số
lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao, được bố trí, sử dụng hợp lý ngang tầm
với yêu cầu thì chẳng những đường lối, chính sách của Nhà nước được xây
dựng đúng, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước;
mà việc tổ chức thực hiện đường lối chính sách ấy cũng sẽ là khả năng hiện
thực. C.Mác đã khẳng định: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con
người sử dụng lực lượng thực tiễn”.
1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC QUẢN LÝ CỦA
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Năng lực công chức được thể hiện qua các mặt như: bản lĩnh chính trị,
phẩm chất Tđạo đức, lối sống, trình độ nhận thức, kiến thức chuyên môn được
đào tạo, năng lực công tác trong thực tiễn, tình trạng sức khoẻ,... Dựa vào các
yếu tố này, người ta đã đưa ra được một số chỉ tiêu đánh giá năng lực công
chức quản lý và luận văn tập trung vào 3 nhóm các chỉ tiêu cơ bản như sau:


20
1.2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn của công chức quản lý
Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực của công chức quản
lý bao gồm các chỉ tiêu như trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, thâm niên, kinh nghiệm công tác và sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status