Luận văn thạc sỹ Quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh lạng sơn - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

Hoàng Việt Đức

QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG NHẰM CHỐNG
KINH DOANH HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
Luận văn thạc sĩ kinh tế

Người hướng dẫn khoa học:
PGS,TS. Nguyễn Hoàng Long


Hà Nội, Năm 2014


3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ sinh tế “Quản lý thị trường nhằm
chống kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” là công trình nghiên
cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết,
nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS.
Nguyễn Hoàng Long.
Các số liệu, mô hình và những dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực,
các giải pháp, đề xuất đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, chưa từng được


TOWS

Threats - Opportunities - Weaknesses - Streangths (Thách
thức - Cơ hội - Điểm yếu - Điểm mạnh)

TRIPS

Trade-related aspects of intellectual property rights (Hiệp
định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ)

TW

Trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

USD

United States Dollar (Đôla Mỹ)

VPHC

Vi phạm hành chính

WTO


Hình 2.3: Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2009-2013
.....................................................................................................................................31


8

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới kể từ năm 1986 đến nay, nền Kinh tế Việt nam đã
có những bước tiến triển vượt bậc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức cao,
thu nhập bình quân đầu người năm 2013 cũng tăng nhanh đạt khoảng 1960 USD,
chất lượng đời sống được cải thiện đáng kể so với trước đây. Cùng với công cuộc
đổi mới đất nước, Ngành thương mại đã trải qua một quá trình đổi mới toàn diện, kể
cả đổi mới về nhận thức và phương thức hoạt động. Với quá trình đổi mới chính
sách, cơ chế thương mại đã tạo ra những thay đổi căn bản trong hoạt động thương
mại, tạo ra "hiệu ứng" tích cực, góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế xã hội của đất nước. Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật có nhiều tiến
bộ. Hệ thống pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế
xã hội theo đúng hướng. Mặt khác tạo ra sự thông thoáng nhằm thúc đẩy thương
mại phát triển. Công tác thực thi pháp luật cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích
lệ, huy động mọi lực lượng và thành phần tham gia.
Trước những thuận lợi trên, Việt nam cũng phải đối mặt với những thách
thức, đặc biệt là vấn nạn kinh doanh hàng giả. Trên thị trường hiện nay hàng giả
xuất hiện nhiều, chủ yếu là giả những hàng hóa, thương hiệu đã có tiếng tăm nhằm
lừa dối người tiêu dùng. Thu nhập người dân hiện nay của người dân cao hơn trước
đây đồng nghĩa với nhu cầu tiêu dùng cũng tăng cao. Nắm bắt được nhu cầu đó,
một số thương nhân đã sản xuất, buôn bán, vận chuyển hàng giả ra thị trường nhằm
bán được giá cao so với chi phí thấp bỏ ra và thu được lợi nhuận lớn. Trong thời kỳ
phát triển của nền kinh tế thị trường, và hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế
giới, hàng giả đã và đang có xu hướng phát triển, thách thức tới hiệu quả thực thi
pháp luật và quản lý nhà nước, có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế của

thương hiệu còn thiếu. Chủ thể quyền chưa tin tưởng vào hiệu quả xử lý của các cơ
quan quản lý.
Người tiêu dùng chưa quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi, lợi ích của mình
do thu nhập thấp chưa đủ sống và cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn
nhiều hạn chế, đặc biệt là người dân lao động nghèo; tâm lý của người tiêu dùng
thích dùng hàng có nhãn hiệu nổi tiếng nhưng với giá rẻ; khó phân biệt giữa hàng
thật với hàng giả; cơ chế khiếu nại còn phức tạp gây ra tâm lý e ngại, không dám tố
cáo.
Cơ sở pháp lý về chống kinh doanh hàng giả còn chưa hoàn thiện; cơ chế
thực thi gặp nhiều khó khăn; năng lực thực thi còn hạn chế; công tác tuyên truyền
pháp luật còn kém hiệu quả.


10
Trước những yêu cầu cấp thiết của sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung,
tỉnh Lạng Sơn nói riêng và bảo vệ lợi ích của người dân, đòi hỏi phải có các giải
pháp đồng bộ, hữu hiệu nhằm hoàn thiện nội dung quản lý thị trường nhằm chống
kinh doanh hàng giả. Quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả phải khắc
phục những tồn tại hiện có, ngăn chặn triệt để hành vi kinh doanh hàng giả, vi phạm
trở hữu trí tuệ.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài với quy mô
và địa bàn nhất định như:
Trần Thị Kim Nhung - Trường Đại học Thương Mại - Luận văn Thạc sĩ kinh
tế (2012) “Quản lý nhà nước nhằm chống buôn bán hàng giả trên địa bàn Hà Nội”.
Đề tài đưa ra cơ sở lý luận về hàng giả; phân tích cụ thể các nguyên nhân của nạn
hàng giả và tác hại của hàng giả đối với người tiêu dùng, doanh nghiệp, xã hội.
Đánh giá về hiệu lực của các văn bản Quản lý nhà nước chống buôn bán hàng giả
trên địa bàn Hà Nội. Đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế sản xuất và buôn bán
hàng giả trên địa bàn thành phố Hà Nội.

trường nhằm chống kinh doanh hàng giả, nó có phạm vi hẹp trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn, có kế thừa và phát huy những ưu điểm đồng thời khắc phục và hạn chế một số
khuyết điểm của các công trình kể trên để đề tài hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn
hơn.
3. Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực tiễn của Quản lý thị
trường nhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh, thành phố, TW nói chung
và của tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
b) Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thị trường nhằm chống
kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đề xuất các giải pháp hoàn thiện
quản lý thị trường, ngăn chặn triệt để vấn nạn kinh doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn.
c) Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước nhằm chống kinh doanh
hàng giả trên địa bàn tỉnh, thành phố, TW.
- Phân tích thực trạng Quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thông qua phân tích dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.


12
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn.
4. Phạm vi nghiên cứu và các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu
a) Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên để phát hiện hàng giả và đánh
giá hiệu quả của quản lý thị trường về hàng giả. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý thị trường chống kinh doanh hàng giả. Tập trung đi sâu
hơn vào hoạt động của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn.

4 phần như sau:
Lời mở đầu
Chương 1: Một số cơ sở lý luận cơ bản của quản lý thị trường nhằm chống kinh
doanh hàng giả trên địa bàn tỉnh. thành phố, trung ương.
Chương 2: Thực trạng quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả của Chi
cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thị trường nhằm
chống kinh doanh hiệu quả trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.


14
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA
QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG NHẰM CHỐNG KINH DOANH HÀNG GIẢ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH. THÀNH PHỐ, TRUNG ƯƠNG

1.1. Khái quát về quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả trên địa
bàn tỉnh, thành phố, trung ương

1.1.1. Một số khái niệm cốt lõi
1.1.1.1. Khái niệm hàng giả và kinh doanh hàng giả
Hàng giả là một hiện tượng kinh tế - xã hội, một phạm trù có lịch sử phát
triển. Sản xuất và buôn bán hàng giả xuất hiện và phát triển trong nền sản xuất hàng
hóa. Thị trường hàng hóa càng phát triển cao thì cơ hội cho việc kinh doanh hàng
giả càng lớn.
Mặc dù vấn đề hàng giả xuất hiện từ lâu và được đặt ra mang tính nhà nước
nhưng vẫn còn nhiều quy định chưa mang tính thống nhất về định nghĩa hàng giả.
Theo Nghị định số 140/HĐBT ngày 25 tháng 4 năm 1991 của Hội đồng bộ
trưởng quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất buôn bán hàng giả “Hàng giả là
những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như
những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ

- Giả mạo về sở hữu trí tuệ là hàng hóa, bao bì hàng hóa có gắn nhãn hiệu,
dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ
dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, của tổ
chức quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà
không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.
- Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả gồm các loại đề can, nhãn hàng hóa, bao bì
hàng hóa, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa
có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất,
đóng gói, lắp ráp hàng hóa.
Hàng giả có thể chứa một hoặc nhiều dấu hiệu giả như trên. Ví dụ như vừa
giả mạo nhãn hiệu hàng hóa vừa giả chất lượng.
Đối với quốc tế không quy định cụ thể về hàng giả, thay vào đó là quy định
về quyền SHTT. Các nước tham gia vào WTO đã cũng nhau ký kết Hiệp định về
các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (Hiệp định
TRIPS). Hiệp định này quy định đối với bản quyền, quy định đối với nhãn hiệu
thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp.


16
1.1.1.2. Khái niệm và nguyên tắc của quản lý thị trường đối với kinh doanh hàng
giả trên địa bàn tỉnh, thành phố, trung ương
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng
quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con
người. Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác
là tính quyền lực của Nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần. Quản lý
nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà
nước nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Quản lý thị trường là một nội dung trong quản lý nhà nước, quản lý tổng thể
các quan hệ về lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch mua
bán và dịch vụ nhằm mục tiêu phát triển thị trường và thương mại.

- Pháp chế xã hội chủ nghĩa: đòi hỏi tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước
phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước, không cho phép việc thực hiện quản lý
nhà nước một cách chủ quan, tùy tiện.

1.1.2. Phương pháp và công cụ quản lý thị trường nhằm chống kinh
doanh hàng giả
1.1.2.1. Phương pháp quản lý thị trường nhằm chống kinh doanh hàng giả
Phương pháp quản lý kinh tế của nhà nước là tổng thể những cách thức tác
động có chủ đích và có thể của Nhà nước lên hệ thống kinh tế nhằm thực hiện các
mục tiêu quản lý của Nhà nước.
Trong thực tế tổ chức và quản lý nhằm chống kinh doanh hàng giả cần phải
thực hiện các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp hành chính: Phương pháp hành chính là cách thức tác động
trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát và có tính bắt buộc trong
khuôn khổ luật pháp lên các chủ thể kinh tế, nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà
nước trong những tình huống nhất định.
Nhà nước xây dựng và không ngừng hoàn thiện khung pháp luật , tạo ra một
hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia vào hoạt động của nền kinh tế. Nhà
nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về mặt tổ chức hoạt động
của các chủ thể kinh tế và những quy định về mặt thủ tục hành chính buộc tất các
những chủ thể từ cơ quan nhà nước đến các doanh nghiệp đều phải tuân thủ.


18
Tác động điều chỉnh hành động, hành vi của các chủ thể kinh tế là những tác
động bắt buộc của nhà nước lên quá trình hoạt động sản suất kinh doanh của các
chủ thể kinh tế, nhắm đảm bảo thực hiện được mục tiêu quản lý của Nhà nước.
- Phương pháp kinh tế: Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp
của Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính huớng dẫn lên đối tượng quản
lý, nhằm làm cho đối tượng quản lý tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được

đến huyện có chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi
phạm pháp luật trong hoạt động thương mại và thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của thanh tra chuyên ngành thương mại theo Luật thương mại. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Quản lý thị trường được quy định tại Nghị định số 10/CP ngày
23/01/1995 của Chính phủ.
Mục tiêu ra đời của lực lượng Quản lý thị trường nhằm mục đích thiết lập
trật tự, kỷ cương, lành mạnh hóa thị trường và đảm bảo cho các hoạt động kinh
doanh trên thị trường thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật.
Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Chi cục Quản lý thị
trường trực thuộc Sở Công thương. Chi cục Quản lý thị trường có các nhiệm vụ
sau”
- Chỉ đạo các đội quản lý thị trường thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát
thị trường; phát hiện hàng nhập lậu, hàng cấm; chống sản xuất, buôn bán hàng giả
và các hành vi kinh doanh trái phép khác.
- Chỉ đạo các Đội quản lý thị trường kiểm tra, phát hiện và xử lý các vi phạm
quy định về thương nhân và hoạt động thương mại theo Luật Thương mại.
- Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, kiểm soát thị trường từng thời
kỳ báo cáo Sở quyết định; tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành
pháp luật thương mại đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh; áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, xử lý các vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chi cục, các
vụ việc do Đội Quản lý thị trường chuyển lên, chịu trách nhiệm về các quyết định
đó.
- Đối với các vụ việc ngoài thẩm quyền thì Chi cục trưởng báo cáo Chủ tịch
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW hoặc Cục trưởng Cục Quản lý thị trường xử
lý.


20
- Trực tiếp điều hành, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động, kiểm tra việc
chấp hành quy chế công tác Quản lý thị trường của các Đội Quản lý thị trường và


21
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật thương
mại theo thẩm quyền. Trường hợp vượt thẩm quyền của đội thì báo các Chi cục
trưởng xử lý.
- Phối hợp với các cơ quan hữu quan trên địa bàn được phân công để kiểm
tra và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến nhiều lĩnh vực. - Đề xuất với Chi
cục để kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền các biện pháp quản lý thị trường,
ngăn ngừa các vi phạm pháp luật thương mại trên địa bàn; những bất cập về cơ chế,
chính sách pháp luật thương mại cần thiết sửa đổi, bổ sung.
- Tổng hợp tình hình trên địa bàn và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
- Kiểm tra hoạt động của kiểm soát viên vể thực hiện quy chế công tác và
chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường.
- Quản lý và thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức của Đội theo sự
phân cấp quản lý; quản lý tài chính, tài sản, phương tiện hoạt động, ấn chỉ, lưu trữ
hồ sơ vụ việc theo quy định.
b) Thanh tra chuyên ngành
- Xây dựng kế hoạch thanh tra gửi Thanh tra bộ, Thanh tra sở tổng hợp trình
Bộ trưởng, Giám đốc sở phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó;
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn
- kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực;
- Thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chánh
Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở giao;
- Thanh tra những vụ việc khác do Bộ trưởng, Giám đốc Sở giao;
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định
xử lý về thanh tra của mình;
- Tổng hợp, báo cáo kết quả thanh tra chuyên ngành với Thanh tra bộ, Thanh
tra sở.
c) Hải quan
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá,

Bên cạnh việc tuân thủ các quy luật thị trường, cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực thương mại đã chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực
thi các cam kết quốc tế, đổi mới sâu rộng cả về chất lượng và tầm nhìn trong việc
hoạch định chính sách, xây dựng thể chế nhằm đáp ứng được đòi hỏi cho quá trình
phát triển hiện tại, nhưng mặt khác đã chủ động, phòng ngừa tránh bị động khi đối
phó với những vấn đề nảy sinh trong quá trình hội nhập.


23
Chiến lược và chính sách thương mại bị ảnh hưởng bởi đường lối chính trị và
quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. việc hoạch định các cơ chế, chính sách
thương mại, trước hết phải căn cứ vào đường lối chính trị và tư tưởng chỉ đạo của
Đảng. chính sách thương mại phải hướng vào mục tiêu của Nhà nước, thể hiện bản
chất và phương hướng của Đảng cầm quyền. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua
việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược, định hướng về cơ chế, chính sách. Nhà nước
thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng bằng pháp luật và thực thi đường lối
chủ trương đó trong thực tiễn.
Ở nước ta, pháp luật Nhà nước là một hệ thống pháp luật thống nhất, từng
bước phù hợp với định hướng XHCN, bao quát và điều chỉnh các quan hệ xã hội
trong nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hình
thành nền kinh tế thị trường ở nước ta, tăng cường quản lý nhà nước đối với các
hoạt động kinh tế nói chung, thương mại nói riêng theo cơ chế thị trường phù hợp
với thực tiễn nước ta và thông lệ quốc tế. chính sách thương mại phải căn cứ vào
những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, tuân thủ những quy phạm pháp
luật được thể chế hoá từ đường lối chính trị đó, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện
hành.
Các điều kiện kinh tế như trình độ phát triển, mức tăng trưởng của nền kinh
tế, sự phát triển và nhu cầu phát triển của lĩnh vực kinh tế là những yếu tố có ảnh
hưởng đến cơ chế, chính sách thương mại. Bên cạnh điều kiện phát triển kinh tế,
hoàn cảnh lịch sử cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành cơ chế, chính sách

quy định. Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền mới
được ban hành văn bản pháp luật. Các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc
hội, chủ tịch nước, chính phủ, thủ tướng chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, chánh án nhân dân tối cao,
viện kiểm sát nhân dân tối cao, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, tổ chức chính
trị - xã hội khi tổ chức chính trị xã hội đó tham gia vào quản lý nhà nước theo quy
định của pháp luật. Chỉ những chủ thể do pháp luật quy định mới có quyền ban
hành văn bản pháp luật. Nếu văn bản được ban hành bởi một cá nhân hay tổ chức
mà pháp luật không quy định về thẩm quyền bab hành thì văn bản đó không có hiệu
lực pháp luật.
Hình thức văn bản pháp luật bao gồm hai yếu tố cấu thành là tên gọi và thể
thức của văn bản. Pháp luật hiện nay quy định rất nhiều loại văn bản pháp luật có
tên gọi khác nhau như: hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, thông tư,
… những quy định đó có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt các văn bản khác
nhau của nhà nước, xác định thứ bậc hiệu lực của từng văn bản tạo điều kiện cần
thiết cho việc thực hiện ban hành, thực hiện hoặc xử lý văn bản khiếm khuyết. Bên


25
cạnh đó pháp luật còn quy định về thể thức văn bản pháp luật, có tác dụng tạo sự
liên kết chặt chẽ giữa hình thức và nội dung của văn bản, đảm bảo sự thống nhất.
Văn bản pháp luật được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định. Thủ tục
ban hành đối với mỗi loại văn bản được pháp luật quy định một cách cụ thể. Thủ tục
ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác như: luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, luật khiếu nại tố
cáo, Luật xử lý vi phạm hành chính…
Trong mỗi thủ tục đó có thể có những nét riêng biệt nhưng nhìn chung bao
gồm những hoạt động mang tunhs chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò trợ giúp cho
người soạn thảo đồng thời tạo cơ chế trong việc phối hợp kiểm tra giám sát của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status