Trường THPT Trần Hưng Đạo
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Vai trò của giáo viên trong việc phát huy năng lực tự
học của Hs qua phần Văn học dân gian lớp 10.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ Văn.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9 năm 2014.
4. Tác giả:
- Họ và tên:
Phù Thị Thu Hà
- Năm sinh:
1976
- Nơi thường trú: 22Đ – Ô 19 – Phường Hạ Long – TP. Nam Định
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ Văn
- Chức vụ công tác:
Giáo viên
- Nơi làm việc:
Trường THPT Trần Hưng Đạo
- Điện thoại: 0983435258
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100 %
5. Đồng tác giả (nếu có): Không
Họ và tên: ..........................................................
Năm sinh: ..........................................................
Nơi thường trú: ...................................................
thành quá trình tự giáo dục”, là “sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá
trị, bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lĩnh để chiếm lĩnh những giá trị mới
lấy từ bên ngoài”.
- Xã hội hiện đại ngày nay với sự bùng nổ tri thức buộc con người phải có
cách thức để tự chiếm lĩnh tri thức. Từ đó dẫn đến việc cần phải thay đổi
phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra một cách cấp
thiết cùng với việc đổi mới nội dung chương trình nhằm phát huy tối đa tiềm
năng sáng tạo của học sinh (HS), góp phần vào việc đào tạo một thế hệ công dân
mới cho đất nước.
- Cách kiểm tra, đánh giá và đề thi cũng đã thay đổi. Đề thi cũ thiên về tái
hiện kiến thức, áp đặt kiến thức, chứng minh một kết luận có sẵn hay tiếp nhận
tri thức cần áp đặt của giáo viên (GV). Đề thi hiện nay ra theo hướng mở, chú
trọng kểm tra năng lực của HS,câu hỏi tái hiện được hạn chế, câu hỏi áp đặt kiến
thức bị loại trừ dần, gia tăng các câu hỏi thông hiểu, vận dụng với các cấp độ
GV: Phù Thị Thu Hà
2
Trường THPT Trần Hưng Đạo
vận dụng thấp, vận dụng cao. Cách đặt câu hỏi cũng thay đổi từ mệnh lệnh, áp
đặt sang gợi ý, thân mật, tôn trọng. Sau đây là một số đề kiểm tra cụ thể:
* Đề kiểm tra chất lượng 8 tuần Học kì I năm học 2003 - 2004 (trường
THPT Trần Văn Lan):
Câu 1 (2.0 điểm): Thế nào là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ? Cho ví
dụ minh họa.
Câu 2 (8.0 điểm): Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp.
Phân tích truyện Tấm Cám để làm sáng tỏ nhận định trên.
* Đề kiểm tra chất lượng 8 tuần Học kì I năm học 2014 – 2015 (trường
B. Người vợ một lòng không nghe theo chồng
C. Người phụ nữ hiền thục, chung tình
D. Người công dân tự biết tội và dám nhận tội.
Câu 3 (2.5 điểm):
Hãy viết một đoạn văn khoảng 15 câu trình bày suy nghĩ của anh/ chị
về câu thơ:
“Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác”
II. Phần Làm văn (6.0 điểm):
Nhận xét về hình tượng nhân vật Tấm trong truyện cổ tích “Tấm
Cám”, có hai cách đánh giá như sau:
1. Cuộc đời Tấm là cuộc đời một cô gái, bất hạnh, chăm chỉ hiền lành
nhưng thụ động, yếu đuối.
2. Cuộc đời Tấm là cuộc đấu tranh gian nan và quyết liệt để giành lại sự
sống và hạnh phúc.
Trình bày ý kiến của anh/ chị.
B. THỰC TRẠNG
- Chương trình học còn nặng. Tổng số tiết phần VHDG theo PPCT của Bộ
GD – ĐT (áp dụng từ năm học 2011 – 2012) là 16 tiết trong tổng số 105 tiết
chương trình Ngữ văn lớp 10, chiếm tỉ lệ 15.23%. Trong đó có 2 tiết: Khái quát
VHDG, Tác phẩm VH tự sự (Sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười):
8.5 tiết, tác phẩm VH trữ tình (ca dao): 3.5 tiết, tác phẩm tự sự và trữ tình
(truyện thơ): 0.5 tiết, Ôn tập VHDG: 1.5 tiết. Kế hoạch dạy học theo chủ đề môn
Ngữ văn lớp 10 của trường THPT Trần Hưng Đạo năm học 2014 – 2015 (phần
GV: Phù Thị Thu Hà
4
Trường THPT Trần Hưng Đạo
VHDG chỉ có 14 tiết trong tổng số 105 tiết chương trình Ngữ văn lớp 10, chiếm
5
Trường THPT Trần Hưng Đạo
chất lượng 8 tuần Học kì I năm học 2014 – 2015 (trường THPT Trần Hưng
Đạo), phần Làm văn:
Nhận xét về hình tượng nhân vật Tấm trong truyện cổ tích “Tấm
Cám”, có hai cách đánh giá như sau:
1. Cuộc đời Tấm là cuộc đời một cô gái, bất hạnh, chăm chỉ hiền lành
nhưng thụ động, yếu đuối.
2. Cuộc đời Tấm là cuộc đấu tranh gian nan và quyết liệt để giành lại sự
sống và hạnh phúc.
Trình bày ý kiến của anh/ chị.
• Yêu cầu của đề:
- Về kĩ năng: Thí sinh biết cách làm bài nghị luận VH, sử dụng thành
thạo các thao tác phân tích, so sánh, bình luận; bố cục rõ ràng, lập luận
chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn viết có cảm xúc, hình ảnh, không mắc
hoặc mắc rất ít lỗi về diễn đạt.
- Về kiến thức: Khuyến khích cách kiến giải thể hiện quan điểm riêng
của người viết, bài viết đảm bảo tính logic chặt chẽ, có sức thuyết
phục. Cần đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu về truyện cổ tích “Tấm Cám” và nhân vật Tấm , trích dẫn 2
ý kiến trong đề bài.
2. Giải thích ngắn gọn các ý kiến và nêu quan điểm cá nhân.
3. Phân tích tác phẩm để bảo vệ quan điểm cá nhân:
3.1.
Cuộc đời Tấm là cuộc đời một cô gái, bất hạnh, chăm chỉ hiền
lành nhưng thụ động, yếu đuối. HS cần chỉ ra và phân tích:
- Ngược lại, Nếu HS được GV hướng dẫn để phát huy năng lực tự học
qua các giờ học trên lớp, các em sẽ chủ động, tự tin bày tỏ quan điểm
cá nhân, biết chứng minh để bảo vệ quan điểm một cách thuyết phục;
các em cũng dễ dàng viết phần đánh giá dựa trên các câu hỏi GV đã
cung cấp, hướng dẫn khi học tác phẩm.
Xuất phát từ những thực trạng như trên, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh
nghiệm là: Vai trò của giáo viên trong việc phát huy năng lực tự học của học
sinh qua một số tác phẩm tự sự dân gian lớp 10.
C. CÁC GIẢI PHÁP
I. Giới hạn đề tài: Đề tài này được sử dụng với khối lớp 10 của trường
THPT Trần Văn Lan và trương THPT Trần Hưng Đạo.
GV: Phù Thị Thu Hà
7
Trường THPT Trần Hưng Đạo
II. Đối tượng nghiên cứu: - HS lớp 10.
- Thời gian nghiên cứu trong các năm học:
2012 - 2013, 2013 - 2014 và 2014 - 2015.
III. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Thống kê tỉ lệ HS phát huy năng lực tự học
trước và sau khi thực hiện đề tài.
- Phương pháp phân loại: Phân loại đối tượng HS ở các lớp giảng dạy
để có dung lượng câu hỏi cho phù hợp với điều kiện chuẩn bị và luyện tập ở nhà
cũng như trình độ học tập trên lớp của HS.
- Phương pháp phân tích: Trên cơ sở số liệu đã thống kê để đề xuất giải
pháp giúp HS phát huy năng lực tự học.
IV. Nội dung nghiên cứu:
- Ở cấp THPT, các em đến với môi trường học tập mới. Ở cấp này, Gv vẫn
bên cạnh Hs nhưng mức độ sẽ khác. Gv chỉ hướng dẫn nhằm giúp Hs phát huy
năng lực. Hs sẽ phải tự thích nghi, hình thành cho mình hình thức tự học - hình
thức học tập do các em làm chủ.
1.4 Về năng lực tự học:
- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử
dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân
sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân
loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
- Như vậy cốt lõi của học là tự học. Hầu như ai cũng có năng lực tự học.
Tuy nhiên, để phát huy năng lực tự học của HS rất cần đến vai trò của người
thầy. Người thầy được coi là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện
cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành. Người thầy giỏi là người dạy cho
trò biết tự học. Người học giỏi là người biết tự học sáng tạo suốt đời.
2. Giải quyết vấn đề:
2.1 Mục tiêu, nguyên tắc của việc phát huy năng lực tự học của Hs
qua phần tự sự dân gian lớp 10:
*. Mục tiêu: Giúp HS
- Về kiến thức:
+ Củng cố và nâng cao kiến thức bài học.
+ Tự hoàn thiện bản thân, sống tự chủ, tự tin.
- Về kĩ năng:
GV: Phù Thị Thu Hà
9
Trường THPT Trần Hưng Đạo
GV: Phù Thị Thu Hà
10
Trường THPT Trần Hưng Đạo
đã đặt ra một số cách thức hướng dẫn Hs tự học qua các phương pháp: nghiên
cứu, nêu vấn đề, nêu tình huống, đóng vai, đối thoại, hoạt động nhóm... Cách
thức phát huy năng lực tự học của HS qua một số tác phẩm tự sự dân gian lớp 10
được tôi phân chia thành các dạng sau:
a. Hướng dẫn HS phát huy năng lực tự học trước khi học văn bản
tự sự dân gian:
- Thông thường, GV chỉ dựa vào SGK yêu cầu HS trả lời những câu hỏi
phần Hướng dẫn học bài. Những câu hỏi trong SGK khá logic, hệ thống, phù
hợp với trình độ, sự tiếp nhận của HS. Song tôi nhận thấy, những câu hỏi này
chủ yếu hướng dẫn HS tiếp nhận văn bản, đôi chỗ còn khái quát, chưa kích thích
sự suy nghĩ, sáng tạo của HS khiến HS ngại làm.
- Để phát huy năng lực tự học của HS qua một số tác phẩm tự sự văn học
dân gian lớp 10, trên cơ sở những câu hỏi trong SGK, tôi đã soạn ra một số câu
hỏi cụ thể, chi tiết hơn. Tôi chia phần VHDG thành các kiểu bài: VH sử (bài
Khái quát VHDG), tác phẩm VH tự sự DG (sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích,
truyện cười), tác phẩm trữ tình DG (ca dao), tác phẩm tự sự - trữ tình (truyện
thơ), và bài Ôn tập VHDG.
- Tôi xin được trình bày kĩ về cách thức phát huy năng lực tự học của Hs
qua một số tác phẩm tự sự dân gian mà tôi đã thực hiện:
Ví dụ 1: Về đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” (trích: sử thi Đăm Săn):
Tôi chia lớp thành 4 nhóm chuẩn bị bài:
• Nhóm 1: Phương pháp nghiên cứu: Yêu cầu HS nghiên cứu về :
- Khái niệm sử thi, phân loại sử thi DG, kể tên 1 vài sử thi anh
hùng.
xuống giếng…)
• Nhóm 2: Phương pháp nghiên cứu, thống kê:
- Tóm tắt văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng
Thủy .
- Bố cục văn bản.
- Tìm những chi tiết liên quan đến Trọng Thủy.
• Nhóm 3: Phương pháp thống kê: Yêu cầu Hs trả lời câu 1 phần hướng
dẫn học bài (SGK trang 42): Tìm những chi tiết liên quan đến An
Dương Vương…
GV: Phù Thị Thu Hà
12
Trường THPT Trần Hưng Đạo
• Nhóm 4: Phương pháp thống kê, nêu quan điểm: Tìm những chi tiết liên
quan đến nhân vật Mị Châu:
- Yêu cầu Hs trả lời câu 2 phần hướng dẫn học bài (SGK trang 43).
- Thái độ của nhân dân với Mị Châu ?
Ví dụ 3: Về truyện cổ tích Tấm Cám. Tôi chia lớp thành 4 nhóm chuẩn bị
bài:
• Nhóm 1: Phương pháp nghiên cứu: Yêu cầu HS nghiên cứu về :
- Khái niệm, phân loại truyện cổ tích, đặc trưng của truyện cổ tích
thần kì.
- Kể tên 1 vài tác phẩm thuộc kiểu truyện Tấm Cám trên thế giới.
- Tóm tắt và nêu bố cục văn bản.
• Nhóm 2: Phương pháp phân tích: - Truyện Tấm Cám tập trung miêu tả
mâu thuẫn giữa các tuyến nhân vật nào ? Mâu thuẫn này phát triển ra
sao ? (Gợi ý: - Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi
- Phương pháp nghiên cứu, nêu quan điểm:
+ Đọc truyện em thấy nổi lên mấy tình huống ? Đó là những tình
huống nào ? Thầy đồ đã giải quyết những tình huống đó ra sao ?
+ Chỉ ra ý nghĩa phê phán của truyện. (Có phải truyện chỉ phê
phán một đối tượng cụ thể là anh học trò dốt hay không ?)
• Nhóm 2: Yêu cầu Hs chuẩn bị bài Nhưng nó phải bằng hai mày:
Phương pháp nghiên cứu:
- Yêu cầu Hs nghiên cứu về :
+ Khái niệm, phân loại truyện cười, đặc trưng của truyện cười.
+ Văn bản Nhưng nó phải bằng hai mày thuộc loại truyện cười nào ?
+ Kể tên 1 vài truyện cười khác cùng loại với truyện cười trên.
- Phương pháp đóng vai: Yêu cầu HS chuyển thành hoạt cảnh kịch nói
nhỏ hoặc yêu cầu HS đọc phân vai. Mỗi nhóm cử 3 HS đến giờ học lên trình bày
( 1 Hs trong vai người dẫn chuyện, 1 Hs trong vai thày lí, 1 Hs trong vai Cải)
- Phương pháp phân tích:
+ Tình huống gây cười đã được tác giả dân gian chuẩn bị như thế
nào ? Việc nêu cụ thể số tiền đút lót của từng người nhằm mục đích gì ?
+ Thày lí đã xử kiện như thế nào ?
+ Cử chỉ và câu nói của thày lí có tác dụng gây cười như thế nào ?
GV: Phù Thị Thu Hà
14
Trường THPT Trần Hưng Đạo
Sau đây, tôi xin trình bày cụ thể kết quả chuẩn bị của HS: Về truyện cổ
tích Tấm Cám.
• Nhóm 1: Phương pháp nghiên cứu: HS nghiên cứu về :
- Khái niệm, phân loại truyện cổ tích, đặc trưng của truyện cổ tích
Trường THPT Trần Hưng Đạo
+ Tấm về giỗ cha, bị mẹ con Cám hại chết và đưa Cám thế chỗ Tấm trong
cung vua.
+ Tấm chết hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi và khi thành
quả thị thì được một bà lão đem về
+ Mỗi khi bà lão đi vắng, Tấm hiện ra don dẹp nhà cửa. Sau đó bà lão phát
hiện ra Tấm.
+ Một hôm nhà vua đi qua, ghé vào quán nước của bà cụ. Nhận ra Tấm qua
miếng trầu, đem Tấm về cung.
+ Tấm hạnh phúc bên vua còn mẹ con Cám bị chết.
+ Bố cục: chia làm 2 phần
+ Từ đầu -> hằn học của mẹ con Cám: Thân phận của Tấm và con đường dẫn
đến hạnh phúc của Tấm.
+ Tiếp-> hết: Cuộc đấu tranh quyết liệt của Tấm để giành lại sự sống và hạnh
phúc.
• Nhóm 2: Phương pháp phân tích: - Truyện Tấm Cám tập trung miêu tả
mâu thuẫn giữa các tuyến nhân vật nào ? Mâu thuẫn này phát triển ra
sao ? (Gợi ý: - Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi
xem hội. – Từ đoạn truyện về cái chết của Tấm trở đi.)
HS đã chuẩn bị: Căn cứ vào quan hệ gia đình, có 2 mâu thuẫn chủ yếu:
- Tấm – Cám ( hai chị em cùng cha khác mẹ)
- Tấm - mẹ Cám ( con chồng – dì ghẻ)
→ Mâu thuẫn giữa Tấm- Cám là mâu thuẫn chủ yếu, xuyên suốt toàn
truyện. Mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng bổ sung và không liên tục.
⇒ Mâu thuẫn khái quát : Tấm - Mẹ con Cám
Mâu thuẫn phát triển từ thấp đến cao và trở thành xung đột gay gắt, qua 2
chặng:
→ Chặng 1: từ đầu ÷ Tấm đi xem hội: Mâu thuẫn xoay quanh những hơn
thua về vật chất, sự bắt ép làm việc cực nhọc và sự ganh ghét nhỏ mọn của mẹ
+ Thể hiện sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt của cái thiện trước sự vùi dập của
cái ác. cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí.
+ Thể hiện triết lí: “ở hiền gặp lành” trong quan niệm của nhân dân
GV: Phù Thị Thu Hà
17
Trường THPT Trần Hưng Đạo
+ Thể hiện ước mơ của người lao động về 1.xã hội công bằng, công lí được
thực hiện: Người lao động chăm chỉ hiền lành sẽ được hưởng hạnh phúc.
+ Ảnh hưởng thuyết luân hồi của Phật giáo, thể hiện ước mơ niềm lạc quan
của nhân dân lao động. Tấm tìm được hạnh phúc cho mình ngay ở cuộc đời này
chứ không phải ở một thế giới khác.
• Nhóm 4: Phương pháp động não, nêu quan điểm: Về hành động trả thù
của Tấm, có bạn Hs cho rằng: Với hành động ấy cô Tấm không hiền
như chúng ta nghĩ. Đó là hành động giết người, trả thù độc ác không
kém hành động giết hại Tấm của mẹ con Cám. Em có đồng tình với ý
kiến của bạn Hs đó không ? Vì sao ?
HS đã chuẩn bị:
Tấm là nhân vật trong truyện cổ tích thần kì. Nhân dân lao động sáng tạo ra
hình tượng cô Tấm để gửi gắm ước mơ cháy bỏng về hạnh phúc gia đình, về lẽ
công bằng xã hội, cái thiện sẽ luôn thắng cái ác. Vì thế, dân gian không cho rằng
hành động của Tấm là độc ác mà ngược lại rất cần thiết với Cám. Kẻ ác cần bị
trừng trị thích đáng. Kẻ gieo gió ắt phải gặp bão.
b . Hướng dẫn Hs phát huy năng lực tự học sau khi học văn bản tự
sự dân gian:
- Thông thường, Gv cũng chỉ dựa vào SGK yêu cầu HS trả lời những câu
hỏi phần Luyện tập. Tôi nhận thấy những câu hỏi này phù hợp với trình độ, sự
- Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: An Dương Vương đã tự tay
chém đầu người con gái duy nhất của mình nhưng dân gian lại dựng
đền và am thờ hai cha con ngay cạnh nhau. Cách xử lí như vậy nói lên
điều gì trong đạo lí truyền thống của dân tộc ta ? (Câu 2 - Phần Luyện
tập - SGK tr. 43)
- Phương pháp làm việc độc lập:
+ Tìm một số bài thơ viết về Mị Châu – Trọng Thủy và nêu lên sức
sống lâu bền của Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.
(Câu 2 - Phần Luyện tập - SGK tr. 43)
+ Viết lại khoảng 1 trang giấy cảm nghĩ của em về Truyện An Dương
Vương và Mị Châu – Trọng Thủy . Nếu em có cảm hứng, hãy làm một
bài thơ hoặc mấy câu thơ về một trong các nhân vật An Dương Vương,
Mị Châu, Trọng Thủy hoặc vẽ tranh về nhân vật.
- Phương pháp nghiên cứu, nêu quan điểm:
+ Kể lại tác phẩm với cách kết thúc khác.
GV: Phù Thị Thu Hà
19
Trường THPT Trần Hưng Đạo
+ Lựa chọn và lí giải sự lựa chọn của em về văn bản tác phẩm (Văn
bản trong SGK và dị bản) bằng cách tạo lập văn bản (viết 5 đến 7 câu).
Ví dụ 3: Về truyện cổ tích Tấm Cám:
- Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:
+ Ở giai đoạn đầu cuộc đời Tấm (khi cô ở nhà), Bụt luôn xuất hiện và
giúp Tấm mỗi khi cô gặp khó khăn,còn khi cô vào sống trong hoàng cung
thì Bụt không xuất hiện nữa. Hãy lí giải.
+ Tấm bị mẹ con Cám hãm hại, mụ dì ghẻ đưa Cám vào cung để thế chị.
+ + Thử đặt nhan đề khác cho truyện cười trên.
+ Với truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: Đọc tham khảo truyện
cười Hai bảy mười ba trong sách “Bình giảng truyện dân gian” của Hoàng Tiến
Tựu (NXB Giáo dục, 1990).
Sau đây, tôi xin trình bày cụ thể kết quả Luyện tập của HS: Về truyện
cổ tích Tấm Cám.
- Ở giai đoạn đầu cuộc đời Tấm (khi cô ở nhà), Bụt luôn xuất hiện và giúp
Tấm mỗi khi cô gặp khó khăn,còn khi cô vào sống trong hoàng cung thì Bụt
không xuất hiện nữa. Hãy lí giải.
HS: + Giai đoạn đầu cuộc đời: Tấm là người con gái yếu đuối, thụ động, phản
ứng yếu ớt, thường nhường nhị, nhận sự thua thiệt về mình. Tấm là nhân vật
điển hình trong truyện cổ tích (mồ côi, bất hạnh). Tấm luôn được Bụt giúp đỡ,
điều đó phản ánh một quan niệm: Người sống lương thiện sẽ được hưởng hạnh
phúc, kẻ ác dù nham hiểm đến đâu rồi cũng phải thất bại. Đó là mong ước khát
vọng ngàn đời của nhân dân.
+ Khi cô vào sống trong hoàng cung thì Bụt không xuất hiện nữa: Tấm đã
trưởng thành, đã có những phản ứng mạnh mẽ, hành động quyết liệt để diệt trừ
cái ác. Phải chăng điều này gửi gắm quan niệm: sự trợ giúp bên ngoài từ lực
lượng siêu nhiên chỉ có giới hạn, con người không thể trông chờ, ỷ lại mà phải
nỗ lực vươn lên để bảo vệ sự sống và hạnh phúc.
- Tấm bị mẹ con Cám hãm hại, mụ dì ghẻ đưa Cám vào cung để thế chị.
Vua nghe xong, trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả. Tấm hóa
thành chim vàng anh, Cám nhân lúc vua đi vắng, bắt chim làm thịt nấu ăn. Thấy
mất vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:… Vua không nói gì cả. Hãy lí giải về thái độ
của nhà vua.
HS: Có các ý kiến trái chiều:
GV: Phù Thị Thu Hà
21
hoặc vẽ tranh.
HS:
Trong giấc chiêm bao em đã gặp cô Tấm…
GV: Phù Thị Thu Hà
22
Trường THPT Trần Hưng Đạo
Không má phấn môi son
Chẳng đánh mắt, nối mi
Vẫn làm bậc đế vương say lòng qua chiếc hài thiếu nữ
…Về với đời thường, cô lại giúp bà gói bánh, têm trầu
Vua nhận ra cô – người vợ đảm đang, tháo vát, chung tình
Miếng trầu cánh phượng đã đưa cô trở lại hoàng cung kết thúc những
thăng trầm.
(Đỗ Khánh Linh – HS lớp 10B2 – Trương THPT Trần Hưng Đạo)
3. Kết thúc vấn đề:
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy: Nếu thầy cô có ý thức
và có cách thức phát huy năng lực tự học của HS qua một số tác phẩm tự sự văn
học dân gian lớp 10, HS sẽ cảm thấy thoải mái, hào hứng ngay với chương trình
Ngữ văn bậc THPT. Tuy nhiên, GV cần căn cứ vào đối tượng HS từng lớp để
hướng dẫn HS tự học cho phù hợp, đạt hiệu quả. Mặt khác, tôi cũng nhận thấy
cách thức phát huy năng lực tự học của Hs qua một số tác phẩm tự sự dân gian
lớp 10 cũng góp phần làm cho giờ học văn thêm sinh động, hứng thú. Bản thân
GV thấy nhẹ nhàng. HS nắm bắt bài họcchủ động, thoải mái, hào hứng.
III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
1. Hiệu quả kinh tế (Giá trị làm lợi tính thành tiền): Không
(100%)
(4.1 %)
(16.3 %)
(44.9 %)
(34.7 %)
2. Năm học 2013- 2014 ở lớp 10: 10A4, 10 A6 (Trường THPT Trần
Văn Lan) sau khi thực hiện đề tài:
. Kết quả khảo sát đầu năm (thi 8 tuần Học kì I)
Tổng số HS
90
Giỏi
7
Khá
22
Trung bình
51
Yếu
10
(100%)
(7.7 %)
(24.4 %)
(56.7 %)
GV: Phù Thị Thu Hà
24
Trường THPT Trần Hưng Đạo
Như vậy so với kết quả khảo sát đầu năm, tỉ lệ HS khá, giỏi tăng lên rõ
rệt; HS yếu, kém giảm. Chất lượng bài làm của HS qua mỗi bài thi lại càng tốt
hơn.
Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục tìm tòi nghiên cứu phương pháp dạy
học để mỗi giờ học văn sẽ đem đến cho HS niềm say mê, thích thú và đạt được
mục tiêu giáo dục.
IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Tôi xin cam kết sáng kiến trên đây không sao chép hoặc
vi phạm bản quyền.
Nam Định, ngày 15- 6- 2015
Thủ trưởng đơn vị
Xác nhận của
Người làm đề tài
tổ trưởng chuyên môn
Phù Thị Thu Hà
GV: Phù Thị Thu Hà
25