THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: "Phân tích và đề xuất một số giải pháp dạy học di sản văn hóa
trong bộ môn Lịch sử nhằm nâng cao hứng thú học tập và yêu thích môn Lịch sử
trong trường trung học cơ sở hiên nay”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Lịch sử
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 9 tháng 9 năm 2014 đến ngày 20 tháng 5
năm 2015
4. Tác giả:
Họ và tên: Vũ Thị Thúy Nga
Năm sinh: 12- 09-1980
Nơi thường trú: Nam Thanh – Nam Trực – Nam Định
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Ngữ văn
Chức vụ công tác: Phó Hiệu Trưởng
Nơi làm việc: Trường THCS Thị trấn Cổ Lễ.
Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Thị trấn Cổ Lễ
Điện thoại: 0945075777
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến : 70%
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Thị trấn Cổ Lễ.
Địa chỉ: Trường THCS Thị trấn Cổ Lễ.
Điện thoại: 03503881303
1
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là
quốc sách hàng đầu. Sự nghiệp giáo dục của nước ta cũng được đề cao và không
ngừng phát triển, điều đó được thể hiện ở sự luôn đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và
học. Nghị quyết II Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo
Tuy nhiên, để góp phần biến đổi thực tế đó, không thể nôn nóng, chủ quan, cực
đoan, duy ý chí mà cần phải có một quan niệm tổng thể, đồng thời phân tích kĩ những
hoàn cảnh khách quan xuất phát từ thực tế của dạy học hiện nay. Từ đó đặt ra một yêu
cầu cấp thiết phải đi tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử ở
trường phổ thông vừa căn bản, vừa thiết thực và có tính khả thi. Một trong những giải
pháp trên là sử dụng những di sản văn hóa trong dạy học lịch sử nhằm phát huy hứng
thú học tập bộ môn, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, tự hào về truyền thống
dân tộc, ý thức bảo vệ di sản...
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản văn hóa Việt Nam gồm di sản văn hóa
vật thể (Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia) và di sản văn hóa phi vật thể (Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y - dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm
thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác) do con
người, thiên nhiên sáng tạo, kiến tạo là sản phẩm vật chất, tinh thần có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, nghệ thuật được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Hòa chung dòng chảy của lịch sử dân tộc, Nam Định là địa phương mang đậm
bản sắc văn hoá truyền thống gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước từ thời đại
Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh. Hiện nay, trên quê hương Nam Định còn lưu
giữ rất nhiều di sản văn hóa có giá trị như: khu di tích lịch sử đền Trần, Trung tâm
Phật giáo Thiên Trường, Đền Bảo Lộc...Tất cả những di sản văn hóa đó đều có khả
năng khai thác, sử dụng trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ
thông.
Thực tiễn cho thấy có nhiều hình thức sử dụng di sản văn hoá (DSVH) trong
dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông: Khai thác di sản văn
hoá làm tư liệu, phương tiện dạy học trên lớp đối với một số môn học; Tổ chức dạy
học tại nơi có di sản văn hoá - bài học thực địa; Tổ chức tham quan - trải nghiệm di
khai thác các di sản văn hóa ở địa bàn nhà trường là nguồn tri thức, là phương tiện dạy
học, giáo dục rất ít khi được quan tâm hoặc nếu có thường mang tính tự phát. Vì vậy
vai trò, thế mạnh của những di sản văn hóa đa dạng, muôn hình muôn vẻ ở địa phương
gần như chưa được ngành giáo dục biết đến và tận dụng. Tất cả vẫn tồn tại ở dạng lí
luận khô cứng.
* Về phía giáo viên
Qua trao đổi với một số GV dạy Lịch sử trường THCS trên địa bàn huyện Trực
Ninh và một số trường trên địa bàn các huyện khác thuộc tỉnh Nam Định, chúng tôi
được biết, hầu như GV chưa ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng di sản văn
hóa trong dạy học lịch sử nên việc vận dụng mang tính hình thức, hoặc không sử dụng.
4
GV chỉ nhắc đến di sản văn hóa trong những giờ học mà SGK có giới thiệu. Một số
GV giới thiệu sơ lược về di sản, đại đa số không chú ý nội dung này. Nguyên nhân
việc GV ngại sử dụng di sản trong dạy học là:
1. Thói quen sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống.
2. Sử dụng di sản trong dạy học khó, tốn nhiều thời gian, công sức chuẩn bị
trong khi lượng kiến thức phải truyền đạt đồ sộ, quỹ thời gian dành cho bộ môn lại quá
ít.
3. Kinh phí cho việc sử dụng di sản trong dạy học rất khó khăn.
4. Khi vận dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử, GV còn lúng túng ở một
số thao tác như lựa chọn di sản văn hóa đưa vào nội dung giảng dạy lịch sử, lập kế
hoạch làm việc với BGH, tổ chuyên môn, cán bộ bảo tàng lịch sử, các nghệ nhân… để
sưu tầm tài liệu, tranh ản hiện vật… của di sản có liên qua đến nội dung bài học phục
vụ việc thiết kế bài học, thiết kế nội dung bài học với di sản, tiến hành nội dung bài
học trên lớp với di sản hoặc tại di sản, tổ chức hoạt động ngoại khóa trải nghiệm di
sản…
*Về phía học sinh
tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự
học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Sử dụng di sản trong dạy học giúp cho quá trình học tập của học sinh trở nên hấp
dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu sâu sắc hơn về sự kiện lịch sử, phát triển tư
duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo dức học sinh. Ý nghĩa, vai trò của các di
sản văn hóa có thể được phân tích dưới góc độ sau:
Cụ thể là:
+ Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho học sinh: Các di sản
văn hóa, dù là vật thật hay ảo ( thể hiện qua tranh ảnh, phim…) sử dụng trong dạy học,
giáo dục đều góp phần nâng cao tính trực quan, giúp người học mở rộng khả năng tiếp
cận đối tượng, hiện tượng liên quan đến bài học tồn tại trong di sản, Tiếp cận với di
sản, học sinh sử dụng hệ thống tín hiệu thứ nhất ( sử dụng các giác quan như mắt –
nhìn, tai – nghe, mũi – ngửi, tay sờ…) để nghe được, thấy được, cảm nhận được và
qua đó tiếp thu những kiến thức cần thiết từ di sản. Ví dụ thăm bảo tàng Chiến thắng
Điện Biên Phủ, quan sát sa bàn chiến trận, các loại vũ khí, công cụ được các anh bộ
đội sử dụng, các vật dụng có trong bảo tàng, tìm hiểu thông tin trong các pano giới
thiệu, chú thích… trao đổi với nhau, hỏi người thuyết minh..,. học sinh hình dung cuộc
sống của các anh bộ đội trong cuộc chiến đấu, diễn biến trận đánh, lòng dũng cảm và
6
sự hi sinh lớn lao của các anh; qua đó các em biết được sâu sắc ý nghĩa của chiến
thắng Điện Biên Phủ, những tấm gương chiến đấu, hi sinh của anh bộ đội cụ Hồ…
Những hình ảnh, hiện vật và thông tin trong bảo tàng sẽ không chỉ giúp các em có têm
hiểu biết mà còn tác động sâu sắc đến tình cảm của các em. Ngoài ra các giá trị có
trong di sản còn được giáo viên khai thác bằng cách đặt câu hỏi mang tính định hướng
gợi ý cho học sinh tìm hiểu chúng qua đó di sản được sử dụng như là phương tiện điều
khiển quá trình nhận thức của học sinh. Ví dụ trước khi thăm bảo tàng, giáo viên yêu
thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của các
em.
+ Giáo dục nhân cách học sinh: Di sản văn hóa là một trong những phương tiện
dạy học đa dạng, sống động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả năng tác
động mạnh tới tình cảm đạo đức, tới việc hính thành nhân cách học sinh. Khai thác
được những giá trị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho học sinh để các em
nhaanjt hức được những giá trị đó, giáo viên giúp hình thành ở học sinh một hệ thống
các quan điểm, các khái niệm về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em nhận
thức được bản chất và có cơ sở giải thích một cách khao học các sự vật, hện tượng liên
quan đến di sản. Tiến hành nghiên cứu di sản môt cách nghiêm túc và kĩ lưỡng cũng
chính là rèn cho các em tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học.
+ Góp phần phát triển một số kĩ năng sống ở học sinh: Để tự lực trong cuộc
sống, học tập và làm việc hiệu quả, học sinh rất cần kĩ năng sống. Kĩ năng sống được
hiểu là khả năng làm chủ bản thân của mỗ người, khả năng ứng xử phù hợp với những
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc
sống. Dạy học với di sản tạo điều kiện phát triển một số kĩ năng sống như:
- Kĩ năng giao tiếp: trong quá trình học tập với di sản, học sinh được rèn luyện
cách trình bày, diễn đạt suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn, cảm xúc của bản
thân dưới hình thức nói, viết một cách phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh và văn hóa
giao tiếp; đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng
quan điểm. Kĩ năng này giúp học sinh có mối quan hệ tích cực với người khác, đồng
thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới. Làm việc với di sản, học sinh có
được môi trường giao tiếp cới mở với bạn bè không chỉ trong phạm vi lớp học, đôi khi
với nhiều đối tượng khác mà các em gặp gỡ. Giáo viên lưu ý cách thức giao tiếp phù
hợp cũng chính là góp phần phát triển ở các em một loại kĩ năng sống cần thiết.
- Kĩ năng lắng nghe tích cực: người có kĩ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự
tập trung chú ý và thẻ hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của
người khác( bằng các cử chỉ điệu bộ, ánh mắt, nụ cười…), biết cho ý kiến phản hồi mà
biệt là các thông tin trái chiều; xác định bản cất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện
tượng….đưa ra những nhận định về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình
huống, sự vật, hiện tượng… Những tác động đó giúp học sinh phát triển kĩ năng tư
duy phê phán.
9
- Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm: Đó là khả năng con người tự tin, chủ động nhận
nhiệm vụ phù hợp với khả năng của bản thân, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và ý thức
cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách
nhiệm, học sinh dựa trên những điêm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm
kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Việc giáo viên giao nhiệm vụ
rõ ràng, học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và trao đổi nhóm, phân công nhau thực thi nhiệm
vụ được giao một cách có ý thức, nhiệt tình và có kết quả. Quá trình đó giúp cho kĩ
năng đảm nhận trách nhiệm của học sinh đươc rèn luyện.
- Kĩ năng đặt mục tiêu: Đây là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản
thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện mục tiêu đó. Trong cả quá
trình tiếp cận di sản, giáo viên đã cùng học sinh xác định mục tiêu chung. Từng hoạt
động cụ thể, học sinh cần biết mình phải đạt cái gì sau mỗi buổi tìm hiểu di sản và biết
phải làm gì để đạt được mục tiêu đó. Kĩ năng đặt mục tiêu giúp cho học sinh hoạt động
có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu do chính mình xác
định.
- Kĩ năng quản lí thời gian: Là khả năng con người biết sắp xếp công việc theo thứ
tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết các công việc chính, trọng tâm trong một thời
gian nhất định. Các buổi học với di sản bao giờ cũng bị giới hạn thời gian, dù có vận
dụng phương pháp dạy học dự án, nghĩa là HS có vài ngày, đôi khi là vài tuần để
chuẩn bị, song thời gian vật chất dành cho việc này thực ra rất hạn chế. Điều đó đòi
hỏi học sinh biết lên kế hoạch, sắp xếp thời gian và tuân thủ đúng kế hoạch đã định
mới có thể thực hiện đầy đủ các công việc và cuối cùng có sản phẩm theo dự kiến. Nếu
2. Giải pháp 2 : Xác định đúng và sưu tầm tư liệu những di sản thường được sử
dụng trong dạy học Lịch sử ở trường THCS:
Di sản văn hóa ở Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú và có nhiều giá trị.
Tính đến năm 2012, Việt Nam được UNESCO công nhận:
- 7 di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới, trong đó các di sản có thể sử
dụng trong dạy học bộ môn lịch sử là: Quần thể di tích cố đô Huế; Phố cổ Hội An,
Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn - Quảng Nam; Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội;
Thành nhà Hồ - Thanh Hóa.
- 7 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong đó các di sản có thể sử dụng
trong dạy học bộ môn lịch sử là: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Ninh, hát xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương – Phú Thọ.
- Ba di sản thông tin tư liệu thế giới: Mộc bản triều Nguyễn, 82 bia đá ở ăn
Miếu Quốc Tử Giám, mộc bản kinh phật chùa Vĩnh Nghiêm – Bắc Giang….
11
Ngoài ra còn có trên 3000 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia;
hàng triệu mẫu vật, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được lưu giữ trong hơn 120 bảo
tàng và các sưu tập tư nhân. Đặc biệt, các hiện vật văn hóa trong cuộc sống hàng ngày,
các di sản văn hóa phi vật thể đang tồn tại trong cộng đồng rất giàu có nhưng ít được
biết đến và khai thác.
Ví dụ: di sản tự nhiên và lịch sử: cây đa Tân Trào – Tuyên Quang, những làn
điệu dân ca ở các vùng miền khác nhau…
Tỉnh Nam Định hiện đang bảo tồn, lưu giữ gần 4.000 di tích lịch sử văn hóa,
trong đó có 77 di tích cấp quốc gia, 216 di tích cấp tỉnh; có nhiều di tích lịch sử văn
hóa, kiến trúc tiêu biểu như: Phủ Dầy, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, cầu Ngói,
chùa Lương, cột cờ Nam Định. Ngoài ra, còn có các di tích lịch sử văn hóa gắn với các
danh nhân.
gian văn hóa liên quan. Những người nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể thường là
những nghệ nhân, người lớn tuổi, người làm nghề chuyên nghiệp, truyền thống, cán bộ
nghiên cứu, cán bộ quản lí di sản… Họ có thể trở thành cộng tác viên đắc lực của nhà
trường trong việc sử dụng di sản văn hóa vào dạy học lịch sử.
3. Giải pháp 3: Đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về sử dụng di sản trong dạy học:
a. Đảm bảo mục tiêu của chương trình GDPT và mục tiêu giáo dục di sản:
GV cần xác định mục tiêu bài học, chuyên đề và sự lựa chon di sản phải hướng
vào thực hiện mục tiêu đã được xác định và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện
mục tiêu được thuận lợi hơn. Bên cạnh đó GV cần xây dựng thêm một số yêu cầu về
di sản đối với HS. Ví dụ HS có thêm sự hiểu biết về sự ra đời của di sản, về cấu trúc
hình thức và nguyên nhân của sự tạo thành cấu trúc đó, về ý nghĩa của di sản đối với
đời sống tinh thần, vật chất của người dân ở địa phương có di sản… Từ đó có thái độ
tôn trọng di sản, có hành vi giữ gìn và chăm sóc di sản. tuy nhiên tùy cách sử dụng di
sản để thiết kế mục tiêu giáo dục di sản cho phù hợp. GV có thể tăng tính trải nghiệm
cho hoạt động học của HS bằng cách phối hợp với chủ thể, người quản lí tạo điều kiện
cho các em học cách thực hành di sản…với mục đích giúp các em có sự cảm nhận của
“người trong cuộc”, từ đó tác động đén thái độ nhận thức đối với di sản. Nếu sử dụng
các hình anh về di sản trong dạy học trên lớp thì mục tiêu giáo dục di sản nên hạn chế
ở sự hiểu biết và thái độ của HS đối với di sản.
b. Xác định nội dung và thực hiện các bước chuẩn bị chu đáo:
Dù tiến hành dạy học tại địa điểm có di sản hay dạy học trong lớp học có sử
dụng di sản, GV cần chuẩn bị kĩ nội dung và các điều kiện thực hiện. Chuẩn bị nội
dung chuyên môn đã được tiến hành chu đáo theo quy định của chuẩn kiến thức kĩ
năng bộ môn và theo gợi ý về phương pháp dạy học môn học, chúng ta tập trung vào
13
việc xác định nội dung và các bước chuẩn bị liên quan đến khai thác di sản như một
phương tiện dạy học.
14
khả năng của HS. Kịch bản hoạt động cần được thiết kế chi tiết từ lúc bắt đầu tiếp xúc
với di sản các công việc cụ thể cho HS tìm thông tin về các đối tượng, sự vật chứa
đựng trong di sản liên quan đến nội dung bài học (ghi chép, lấy mẫu vật, chụp ảnh, vẽ
lại…) trao đổi để phân tích các sự vật hiện tượng, giải thích liên hệ… nêu nhận xét
của cá nhân, nhóm,… đén lựa chọn cách trình bày thông tin, mẫu vật, viết báo cáo.
Trong bước tiên hành hoạt động, HS hoàn toàn làm chủ, tự quản điều khiển
hoạt động. GV chỉ là người tham dự, quan sát và chỉ xuất hiện khi thật cần thiết.
+ Kết thúc hoạt động: Bước này cũng do HS hoàn toàn làm chủ. Có nhiều cách kết
thúc, có thể tập hợp HS, yêu cầu đại diện nhóm nêu cảm nghĩ về buổi làm việc với di
sản, tổ chức cho HS tham gia làm vệ sinh, tổ chức cho HS ghi cảm tưởng đối với di
sản( nếu có sổ ghi cảm tưởng)… Khi thiết kế bước này, GV có thể gợi ý các dự kiến
để HS lựa chon cách kết thúc sao cho hợp lí, tránh nhàm chán, tẻ nhạt.
+ Đánh giá kết quả hoạt động: Là dịp để HS tự nhìn lại quá trình tổ chức hoạt động
của mình từ chuẩn bị, tiến hành hoạt động đến đánh giá kết quả hoạt động. Có thể
đánh giá về ý thức tham gia mọi thành viên trong tập thể hoặc viết thu hoạch sau hoạt
động làm việc với di sản nhằm kiểm tra mức độ nhận thức, thái độ của HS, thu sản
phẩm sau hoạt động …
c. Phát huy tính tích cực, chủ động của HS, tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm:
GV luôn tạo điều kiện tối đa để HS được tham gia vào các hoạt động với di sản,
từ khâu lập kế hoạch tới những hoạt động với di sản như quan sát. Làm việc trực tiếp
với các sự vật hiện tượng chứa đựng trong di sản để các em tìm tòi khám phá, liên hệ
kiến thức đã có để giải thích các hiện tượng, sự vật đó.
GV giao nhiêm vụ rõ ràng, hướng dẫn cụ thể, chi tiết để HS biết cách làm việc
với di sản, được tự chủ với công việc, tự hoàn thành báo cáo tìm hiểu di sản, có sản
phẩm do cá nhân hoặc nhóm tạo ra, các em sẽ làm việc tích cực hơn. Trong quá trình
làm việc với di sản, các em được áp dụng những kiến thức, sự hiểu biết của cá nhân để
Song khi sử dụng các cách trình bày miệng phải đảm bảo yêu cầu phát huy tính tính
cực, chủ động của HS.
+ Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
- Dạy học lịch sử với di sản có thể sử dụng các loại đồ dùng trực quan như
Hiện vật: bao gồm những di tích văn hóa, di tích lịch sử và cách mạng, những di vật
khảo cổ hoặc di vật thuộc các thời đại lịch sử. Đay là những tài liệu gốc có giá trị, có ý
nghĩa to lớn về nhận thức, giáo dục và phát triển HS. Song loại đồ dùng trực quan này
16
không có sẵn trong trường phổ thông mà được giữ gìn trong bảo tàng, hoặc ở nơi có di
tích và không còn được nguyên vẹn. Vì vậy, khi sử dụng các hiện vaaqtj trong dạy
học cần phát huy trí tưởng tượng Tái tạo, tư duy lịch sử để HS hình dung đúng đời
sống hiện thực của quá khứ. Trong điều kiện thuận lợi, GV nên tổ chức dạy học trong
các viện bảo tàng ở Trung ương, địa phương hay ở ngay các địa điểm có di tích, tức là
tiến hành bài học ngay tại di sản.
Đồ dùng trực quan tạo hình: bao gồm mô hình, sa bàn và các loại đồ phục chế
khác, hình vẽ, phim, tranh ảnh…GV có thể khai thác, sưu tầm, chụp ảnh từ các di sản
đem về trường, xây dựng để tiến hành bài học trên lớp hay tại di sản.
Đồ dùng trực quan quy ước: Bao gồm các loại bản đồ, đồ thị, sơ đồ, bảng biểu…
GV có thể khai thác, sưu tầm từ bảo tàng, di tích hoặc dựa vào tài liệu viết về di sản để
xây dựng, phục vụ các bài học lịch sử tiến hành trên lớp hay tại di sản.
- Khi sử dụng những đồ dùng trực quan trên, GV phải căn cứ vào đặc trưng môn
học, đối tượng để có phương pháp sử dụng phù hợp, phát huy tính tích cực, chủ động
của HS trong quá trình quan sát kết hợp phát biểu, tự chiếm lĩnh kiến thức.
- Sử dụng trao đổi, đàm thoại giữa thầy với trò, trò với trò dưới sự hướng dẫn của
thầy để đạt được mục đích học tập đề ra. Ví dụ khi sử dụng tranh, ảnh về di sản trong
bài học trên lớp GV cần hướng dẫn HS quan sát, nêu câu hỏi gợi mở để HS tìm hiểu
nội dung bài học thể hiện qua tranh ảnh, trao đổi thảo luận, trình bày ý kiến trước lớp.
đánh giá quá trình và kết quả…làm việc nhóm là dạng tổ chức hoạt động chủ yếu cả
dự án. Dạy học dự án góp phần gắn lí thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà
trường và xã hội, kích thích động cơ và hứng thú học tập của HS, phát huy tính tính
cực, tính trách nhiệm, sáng tạo, bền bỉ, kiên nhẫn trong công việc của HS.
Trình tự tổ chức dạy học theo dự án thường là:
- Lựa chọn đề tài và xác định mục đích của dự án. Đây là việc làm rất quan trọng, GV
và HS phải cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS xây dựng kế hoạch
thực hiện dự án, trong đó cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật
liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc của nhóm.
- Thực hiện dự án: Các thành viên thực hiện kế hoạch đề ra, trong đó HS cần kết hợp
các hoạt động trí tuệ với hoạt động thực tiễn, thực hành như thu thập thông tin qua báo
chí, Internet, thư viện, thực nghiệm, quan sát; xử lí thông tin, thảo luận trong nhóm,
trao đổi, xin ý kiến GV…
18
- Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: HS tập hợp tất cả kết quả thành một sản
phẩm cuối cùng. Kết quả dự án có thể trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau như
báo cáo, thu hoạch, đóng kịch…
- Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả thu được, từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm.
+ Sử dụng CNTT trong dạy học:
Bên cạnh các đồ dùng trực quan truyền thống để dạy học lịch sử, GV cần sử
dụng máy vi tính với các phần mềm thông dụng mà phổ biến hiện nay là Power Point.
Ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học với di sản nói riêng nhằm
tạo hứng thú học tập và tích cực hóa các hoạt động của HS. Sử dụng di sản trong dạy
học lịch sử cần thiết ứng dụng CNTT. GV có thể khai thác các tranh ảnh, hiện vật, dấu
tích… của di sản xây dựng thành những nội dung phục vụ các bài học trên lớp hay
sưu tầm nơi có di sản GV phải nghiên cứu kĩ SGK và lập một danh sách các di sản cần
thiết phải sử dụng trong bài học hoặc nội dung dạy học của bộ môn. Khi trực tiếp đến
nơi có di sản GV phải bao quát quá trình hình thành và xây dựng khu có di sản, sau đó
tham quan toàn bộ để xác định những tài liệu nào, tranh ảnh, hiện vật, những mẩu
chuyện, điệu hát…) phù hợp với nội dung giảng dạy. GV có thể liên hệ, trao đổi với
cán bộ quản lí di sản để nhờ họ giúp đỡ tìm hiểu sâu hơn, có hiệu quả hơn về sự hình
thành, tồn tại và nội dung di sản
Phát động học sinh tham gia sưu tầm tài liệu, tranh ảnh hoặc hiện vật về di sản
phục vụ cho hoạt động dạy học. Công việc có thể phát động thường xuyên hoặc trong
các đợt thi đua chào mừng những ngày lễ lớn thông qua đó mà tạo hứng thú học tập và
bước đầu tập dượt nghiên cứu khoa học cho HS. Khi đã sưu tầm được tài liệu về di
sản, GV phải tiến hành phân loại cho phù hợp với nội dung từng bài học cụ thể để tiến
hành việc dạy học.
- Khi soạn giáo án, GV cần chọn những tài liệu điển hình nhất, cần thiết nhất để
đưa vào bài giảng, tránh tình trạng đưa quá nhiều tài liệu, sử dụng không đúng lúc,
đúng chỗ, làm loãng nội dung cơ bản của bài học, gây quá tải về kiến thức với HS.
Những tài liệu về di sản dược sử dụng trong hình thức này như là các phương tiện trực
quan, nguồn kiến thức. Do đó cần kết hợp chặt chẽ với trình bày miệng và các phương
pháp khác. Song phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng HS. Ví dụ: GV có thể sử
dụng ảnh chụp kết hợp với việc miêu tả khái quát có phân tích những kiến thức liên
quan, hoặc GV có thể sử dụng tranh ảnh về di sản kết hợp với những mẩu chuyện để
cụ thể hóa kiến thức hay kết hợp sử dụng tranh ảnh về di sản với trao đổi đàm thoại
nhằm giúp HS hiểu sâu sắc những kiến thức cơ bản của bài học.
+ Tiến hành bài học tại nơi có di sản: Tiến hành bài học tại nơi có di sản là
HS đã được quan sát các dấu vết, mảnh vụn của quá khứ để bổ sung, cụ thể hóa những
kiến thức các em đang nghiên cứu. Nó giúp các em phát triển trí tưởng tượng, đa dạng
hóa hoạt động nhận thức, gây hứng thú học tập bộ môn. Tiến hành học tại di sản là
phương thức thực hiện dạy học gắn với đời sống, có tác dụng nâng cao hiểu biết về
20
với các chứng tích hiện vật tại di sản, xem các chứng tích hiện vật tại di sản là nguồn
kiến thức chủ yếu của bài học hoặc ít ra cũng có tác dụng dẫn chứng, minh họa cho
một nội dung của bài học. GV không cần và cũng không thể giới thiệu toàn bộ di sản
hoặc toàn bộ bài học mà chỉ lựa chọn những kiến thức được minh chứng rõ ràng qua di
21
vật của di sản. Điều quan trọng là nguồn kiến thức từ di sản phải làm sáng tỏ nội dung
kiến thức trọng tâm của bài.
Ngoài việc lựa chọn nội dung kiến thức được qui định trong chương trình của
lớp học, cấp học phù hợp với di sản, bài giảng tại đây cần được bổ sung nguồn tài liệu
địa phương để làm sinh động, cụ thể hóa nội dung bài học. Qua đó khôi phục bức
tranh quá khứ đã diễn ra tại di sản một cách sống động chân thực nhất. Nguồn tài liệu
địa phương được sử dụng phải đảm bảo độ chính xác tin cậy.
Đối với bài học trong SGK, bài giảng tại di sản cần được bổ sung các tài liệu
địa phương phù hợp bằng cách vừa giảng vừa kết hợp tổ chức cho học sinh quan sát
tìm hiểu hiện vật, chứng tích thực địa có liên quan đến bài học. Hoặc sau khi giảng dạy
xong nội dung của bài học, GV tổ chức cho HS quan sát, tìm hiểu về các tài liệu, hiện
vật liên quan đến bài, bổ sung tài liệu về địa phương, tài liệu về di sản làm sinh động
sâu sắc hơn nội dung bài giảng là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên GV cần đảm bảo nội
dung chương trình, tránh quá tải với HS hoặc ôm đồm kiến thức lịch sử địa phương.
Đối với bài học về các nội dung địa phương: nội dung bài giảng tại di sản có thể
do GV thiết kế theo tài liệu hướng dẫn của Sở Giáo dục Đào tạo hoặc do GV tự biên
soạn. Trong đó, cần tuân thủ các nguyên tắc về phương pháp dạy học:
+ Chọn những kiến thức cơ bản, tiêu biểu của địa phương tương ứng với một
nội dung kiến thức của bài học trong chương trình SGK chung làm nội dung cho các
tiết học về địa phương.
+ Việc học lịch sử địa phương mang tính chất tổng hợp toàn diện, không phải là
dạy chuyên đề về một lĩnh vực nào đó.
Đây là điều kiện cần thiết để bài học tại di sản đạt kết quả tốt. HS chỉ có thể trả
lời được các câu hỏi, chỉ ra được mối quan hệ bên trong giữa các đối tượng quan sát và
bản chất của hiện tượng trên cơ sở biết phân tích, so sánh, khái quát các mặt chủ yếu
của những điều quan sát được. Vì vậy, phải phát triển khả năng tự học của học sinh
trong và sau giờ học. Khi tiến hành bài học tại thực địa, tùy vào điều kiện cụ thể, GV
có thể tổ chức các hoạt động tự học cho HS như:
- Hướng dẫn HS tập dượt, nghiên cứu thông qua tiếp xúc với các loại tài liệu
nagy tại di sản như tìm hiểu niên đại, xuất xứ, chất liệu, hình thức thể hiện (kiểu kiến
trúc, hoa văn trang trí, kiểu chữ…) và nội dung kiến thức của cá dấu vết hiện vật…liên
quan đến bài học.
- Hướng dẫn HS làm các loại bài tập thực hành từ đơn giản đến phức tạp: Vẽ sơ
đồ khu di sản, vẽ lược đồ thể hiện diễn biến sự kiện, hiện tượng đã diến ra tại nơi có di
sản, lập hồ sơ, đánh giá, phân loại hiện vật tại di sản…
- Hướng dẫn HS viết bài thu hoạch về bài học.
- Kết hợp tổ chức cho HS tham gia các hoạt động ngoại khóa sau bài học như
tham quan toàn bộ khu di sản, tổ chức các trò chơi lịch sử, đóng kịch diễn lại các câu
chuyện, sự tích liên quan đến di sản.
23
*Các bước tiến hành bài học tại di sản:
Có thể tiến hành với 2 loại bài học: Bài nghiên cứu kiến thức mới, bài học ôn tập, sơ
kết, tổng kết.
Nếu có điều kiện kết hợp với ban quản lí di sản thì có thể tiến hành bài học nghiên cứu
kiến thức mới như sau:
- GV giới thiệu những nét cơ bản về nội dung kiến thức có liên quan đến di sản.
- Một cán bộ địa phương (cán bộ lãnh đạo, cán bộ phụ trách văn hóa, hay người đã tam
gia, chứng kiến) trình bày cụ thể về nội dung, kiến thức bào học liên quan đến di sản.
- GV chốt lại những vấn đề chủ yếu trong chương trình học liên quan đến di sản.
- Khai thác và sử dụng tư liệu về di sản để tổ chức triển lãm, ra báo học tập:
- Tổ chức thi tìm hiểu về di sản nói chung, di sản địa phương nói riêng.
- Tổ chức cho HS chăm sóc, bảo vệ các di sản văn hóa địa phương
5. Giải pháp 5: Kiểm tra, đánh giá việc sử dụng di sản trong dạy học:
- Đánh giá kết quả học tập của HS khi GV tiến hành dạy học với di sản phải
đảm bảo những yêu cầu chung của công tác đánh giá kết quả học tập của HS.
- Cần lưu ý đánh giá HS thêm qua sự hiểu biết đối với di sản theo mục tiêu đã
xác định và đánh giá các kĩ năng học tập của HS với di sản qua việc hoàn thành nhiệm
vụ của HS do GV giao hoặc theo sự phân công trong nhóm. Khi được giao một nhiệm
vụ học tập cụ thể, kết quả hoàn thành nhiệm vụ phải được HS thể hiện qua việc trình
bày miệng trên giấy hoặc trình bày một sản phẩm, một báo cáo, trả lời một câu hỏi…
Quan sát việc thực hiện nhiệm vụ học tập của HS cùng những sản phẩm cụ thể ta có
thể nhận biết mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các em và nhận biết thái độ của HS
trước các hoạt động với di sản.
- Trong câu hỏi của bài kiểm tra định kì, thường xuyên GV nên thiết kế một câu
hỏi có nội dung liên quan đến di sản mà HS đã được tiếp cận. Ví dụ: Nêu ý nghĩa,
nhận xét, bình luận về di sản, những hiểu biết về di sản liên quan đến nội dung bài
học….
Minh họa: Tổ chức hoạt động dạy học với di sản tại địa phương
trong một số tiết học của chương trình lịch sử lớp 7.
Trong chương trình Lịch sử lớp 7, Chương III: Nước Đại Việt Thời Trần
(Thế kỉ XIII – XIV), GV tổ chức dạy trên lớp bài 13: Nước Đại Việt ở thế kỉ XIII,
Bài 14: Ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên (Thế kỉ XIII), Bài 15:
Sự phát triển kinh tế văn hóa thời Trần với những di sản Đền Trần liên quan đến
nội dung bài học như tổ chức bộ máy quan lại thời Trần, giới thiệu 13 đời vua
Trần, quân đội thời Trần: giới thiệu những tướng tài quân sự tiêu biểu là Trần
Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư… Các chính sách phát triển kinh
tế, xã hội thời Trần về nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, kiến trúc…
25