KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC
THẾ NÀO LÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY
NGUYỄN ĐÌNH CHÚ *
TÓM TẮT
1. Trên đất nước ta, từ khi có đường lối đổi mới, giường như đã có trào lưu đổi
mới tư duy. Từ các nhà lãnh đạo đất nước, các bộ ngành, các cơ quan, đều nói đổi mới
tư duy. Một số bậc thức giả cùng bàn đến thế nào là đổi mới tư duy. Đó là điều đáng
mứng cho đất nước. Bởi chính sự đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất, tư duy, hơn gì
hết, mới là động lực phát triển đất nước.
2. Tuy nhiên, hiểu thế nào là đổi mới tư duy sao cho thật đúng, thật tường minh,
hẳn là chuyện hoàn toàn không đơn giản mà không tường minh về sự đổi mới tư duy
thì chắc chắn ý nghĩa thực tiễn, tác dụng thực tiễn sẽ bị hạn chế, nếu không muốn nói
là vô tác dụng.
3. Để tường minh thế nào là đổi mới tư duy trên phạm vi đất nước hôm nay,
không thể không thông qua công việc nghiên cứu, hội thảo khoa học. Và ở đây, vai trò
của trí thức phải được đặt lên hàng đầu. Hàng đầu trong việc khai mở nâng cao phẩm
chất tư duy cho xã hội. Hàng đầu trong việc tự nâng cao phẩm chất tư duy của chính
mính là tri thức. Trong việc nâng cao phẩm chất tư duy của xã hội, trước hết lại phải
đặt ra với ngành giáo dục và đào tạo. Mà với ngành Giáo dục-Đào tạo thì trước hết lại
phải đặt ra với nền giáo dục đại học.
ABSTRACT
1. In our country, the innovation of thought is as old as the innovation of
our party, which has been told about by leaders, ministries as well as offices and
learned men. It is a good thing for our country because of innovative thinking,
quality improving, above all, is the motivation for developing our country.
2. However, to understand the innovation of thought clearly and precisely
is not easy. If we cannot understand about innovation of thought clearly, its
practical meanings and effect are limited, even ineffective.
3. To understand what the innovation of thought in our country today, the
của ngôn ngữ sẽ khẳng định sự tồn tại của tư duy. Phan Đình Diệu trong một tiểu luận
về lịch sử phát triển tư duy cũng cho người đọc thấy sự phát triển là từ tư duy huyền
thoại đến suy luận lôgic, đến trí tuệ khoa học (xen vào là tư duy lôgic hình thức), đến
tư duy hệ thống… từ trực giác thị giác đến trực giác trí tuệ.
1.2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, phát hiện, định danh về thế giới tư duy của
nhiền ngành, nhiều phương tiện, rất mực phong phú, chứng tỏ sự phong phú, huyền
diệu, kể cả sự bí ẩn của tư duy loài người thì có: cảm giác, tri giác, lý tính, trực giác,
ý thức, vô thức, tiềm thức, tiền ý thức, cảm xúc, cảm tưởng, cảm tình, cảm thức, tâm
thức, tâm tưởng, tâm linh, tâm thế, tâm trạng, tâm khảm, tâm giao, tâm địa, tâm lý, tâm
thần, tâm tính, tâm hồn, hoàn hồn, thần kinh, thần sắc, thần thái, thần tình, thần diệu,
thần giao, thần giao cách cảm, tinh thần, tư tưởng, ý tưởng, tưởng tượng, liên tưởng,
ảo tưởng, mộng tưởng, tương tư, suy tưởng, viễn tưởng, hồi tưởng, hồi ức, hồi vọng,
trí tuệ, trí năng, tuệ năng, ngộ, đốn ngộ, giác ngộ, diệu ngộ, nhập diệu, thiền định, nhập
thiền, mặc cảm, mặc định, tư duy huyền thoại, tư duy lôgic, tư duy khái niệm, tư duy
trừu tượng, tư duy cụ thể, v.v… tư duy văn học, tư duy toán học, tư duy triết học.v.v..
Đúng tư duy là một sản phẩm kỳ diệu tuyệt vời được Thượng đế ban cho loài
người và phát triển cùng sự phát triển sự sống của loài người để ngày một xứng đáng
là chúa tể của muôn loài.
12
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC
1.3. Tính chất cá thể và sự phái sinh của tư duy:
Nhân loại có 6 tỷ người là có 6 tỷ tư duy cá thể. Hai anh em sinh đôi thì mỗi
người vẫn là một tư duy. Nhưng tư duy lại đã phái sinh một cách thiên hình vạn trạng
theo sự sống thiên hình vạn trạng của loài người. Từ đó mà có tư duy dân tộc, sắc tộc,
tư duy giới tính, tư duy lứa tuổi, tư duy theo trình độ học vấn, theo trình độ thể chất,
theo cái ngành nghề, theo cái hình thái thiết chế xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, luật
pháp, quân sự.v.v..
Theo sự phân ngành phân nhánh trong khoa học tự nhiên và xã hội, vừa ở cấp
tư duy cầu tính là tính hỗn hợp trong tư duy. Do đó kém tinh thần duy lý và khả năng
phân tách (analytique). Ngược lại, với kiểu tư duy tuyến tính thì lại rất giàu khả năng
13
Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường Đại học Duy Tân
phân tách, do đó mà thuận lợi cho việc phát triển khoa học thực nghiệm, khoa học kỹ
thuật để tạo ra một nền văn minh vật chất khổng lồ. Học giả Phạm Quỳnh cũng đã viết
tiếp: “chỉ cần rút ra từ đó tất cả các hệ quả để khắc hoạ nên những nét của cái nền
văn mình phương Tây và phương Đông. Đắm mình trong chiêm ngưỡng cái lý tưởng
chăm chăm vào cuộc tìm kiếm và đuổi theo cái tuyệt đối phương Đông đã đông cứng
lại trong sự phát triển của mình, dửng dưng với tất cả những tiến bộ của thế giới bên
ngoài, không đủ sức chống lại các bộ lạc du mục man dã xâm chiếm đất nước mình…
và mỗi lần như vậy lại rơi vào cảnh phụ thuộc nhục nhã, một nỗi kinh hoàng tinh thần”
mà cái dân tộc của họ không bao giờ cuộc sống có thể hoàn toàn bình phục được”.
Các nhà duy tân đầu thế kỷ XX cũng đã đưa ra hai khái niệm: văn minh tĩnh và văn
minh động để nói về sự khác nhau giữa văn minh phươg Đônog và văn minh phương
Tây xuất phát từ sự khác nhau về hai kiểu tư duy như trên đã nói.
b. Từ sự khác nhau về tư duy giữa phương Đông và phương Tây cũng đã dẫn đến
thực tế: một bên coi trọng chủ nghĩa duy linh, một bên coi trọng chủ nghĩa duy lý. Chủ
nghĩa duy linh thiên về hướng nội, chủ nghĩa duy lý thiên về hướng ngoại. Hướng nội
nên có đời sống tâm linh phong phú nổi trội. Hướng ngoại nên phát triển khoa học kỹ
thuật từ đó tạo ra một nền văn minh vật chất bậc cụ so với phương Đông. Với phương
Đông, chữ Tâm có nội dung bao la đầy đặn, khác chữ Tâm của phương Tây. Năm
1937, giáo sư Đặng Thai Mai viết thư hỏi vị nhạc phục là cụ cử nhân Hán học Hồ Phi
Thống về tình hình triết học thế giới. Trong bức thư trả lời con rể, vị nhạc phụ vốn say
mê triết học này đã nói về cuộc đấu tranh sôi động ở phương Tây giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm. Nhưng lưu ý ông con rể cần phân biệt chữ Tâm của phương
Đông và của phương Tây. Một sự lưu ý quá đỗi đích đáng. Với chữ tâm phương Đông,
mới tư duy bán vé”.v.v..
b. Bàn đến sự đổi mới tư duy ở cấp độ vĩ mô, thuộc phạm vi toàn bộ sự sống
của đất nước mà có vị đã chủ trương: hãy từ bỏ chủ nghĩa duy tình duy cảm để chuyển
sang chủ nghĩa duy lí.
Chúng ta nghĩ gì trước hiện tình đổi mới tư duy ở hai trạng thái đó? Đúng là
không thể phủ nhận ý nghĩa và tác dụng của việc đổi mới tư duy đã có đó. Nhưng cũng
xin phép được nói thực lòng: quan niệm đổi rmới tư duy như trên chưa thật sự trúng
vấn đề, chưa đủ sự chắc chắn của vấn đề. Bởi với trạng thái thứ nhất thì nói là đổi mới
tư duy cũng được vì làm việc gì mà chẳng liên quan đến tư duy. Hôm qua, quản lý bằng
các việc làm, cách làm này thì có tư duy của việc làm, cách làm này. Hôm nay, quản lý
bằng các việc làm khác, cách làm khác thì cũng có tư duy của việc làm khác, cách làm
khác. Không ai có thể bác được điều đó. Nhưng ở đây, trong thực tế, lại có hiện tượng
vẫn là tư duy cũ, dù hôm qua làm thế này, hôm nay làm thế khác. Rõ là thay đổi cách
làm, chưa hẳn đã thay đổi tư duy. Đổi mới tư duy với yêu cầu đích thực, còn có vấn đề
khác cơ bản hơn, nền tảng hơn.
Còn chủ trương rằng đổi mưói tư duy là từ bỏ chủ nghĩa duy tình duy cảm để
chuyển sang chủ nghĩa duy lí thì quả có chút “hạt nhân hợp lý” bởi lẽ đất nước đang
cần phát triển chủ nghĩa duy lý. Nhưng xét ở cấp độ vĩ mô, trước hiện tượng thiên hình
vạn trung rất mực biến huyễn, huyền diệu, thậm chí còn là bí ẩn như đã nói thì cách
đặt vấn đề như thế là phiến diện, bất ổn. Điều cần từ bỏ là chủ nghĩa duy tình duy cảm
cực đoan phiến diện, một chiều chứ không phải là chủ nghĩa duy cảm duy tình. Thứ
này mà bỏ đi thì con người sẽ là thế nào? Riêng với văn chương, đặc biệt là với thơ ca
vốn là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, thì còn đâu mảnh đất để tồn tại nếu đã khai tử
chủ nghĩa duy tình, duy cảm.
Vậy thì đổi mới tư duy là thế nào? Theo ý chúng tôi, nội dung đổi mới tư duy
vẫn phải được đặt ra ở hai bình diện như đã có. Bình diện thuộc phạm vi cụ thể của cái
hình thái hoạt động cụ thể vốn là thiên hình vạn trạng trong sự sống của đất nước. Bình
diện thuộc phạm vi vĩ mô, bao trùm lên toàn bộ sự sống của đất nước. Mỗi bình diện
có nội dung riêng cần đổi mới, nhưng vẫn có quan hệ hỗ trương. Ở bình diện cụ thể, sẽ
là chuyện người người đổi mới, ngành ngành đổi mới, việc việc đổi mới… Mà muốn
Trong tư duy của loài người, có hai kiểu, hai phương thức tư duy tiêu biểu: tư
duy trừu tượng và tư duy cụ thể. Năng lực tư duy trừu tượng khoa học là năng lực nhận
thức sự vật không chỉ ở cấp độ hiện tượng mà quan trọng hơn với nó là nhận thức về
mối quan hệ vốn dĩ là trừu tượng và cũng rất phức tạp, chằng chịt của các hiện tượng.
Trong khi năng lực tư duy cụ thể thì kết quả nhận thức sự vật chủ yếu ngừng ở hiện
tượng cụ thể nếu có nhận thức được quan hệ giữa các hiện tượng thì cũng chỉ ở mức
đơn giản, thô sơ. Trong năng lực tư duy trừu tượng lại có hai trạng thái: Một thứ trừu
tượng từng được mệnh danh là trừu tượng khoa học bởi lẽ nó xuất phát từ hiện thực
khách quan của sự sống. Một thứ trừu tượng được mệnh danh là tư biện (spéculatif) là
thứ trừu tượng đơn thuần không dựa trên thực tế khách quan. Dĩ nhiên, điều cần phát
triển là tư duy trừu tượng khoa học. Ngược lại, với trừu tượng tư biện thì cần loại bỏ.
Có thể nói được rằng: Người Việt Nam ta giàu về tư duy cụ thể mà nghèo về tư
duy trừu tượng. Cứ nhìn vào kho từ vựng tiếng Việt thì thấy rõ điều đó. Từ cụ thể thì
phong phú vô cùng. Còn từ trừu tượng thì nghèo và chủ yếu là ngoại nhập. Với ta, cùng
một động tác di chuyển một vật thể đến một chỗ khác thě có không biết bao nhięu lŕ
từ: mang, xách, ẵm, gồng, gánh, bę, bưng… trong khi với ngôn ngữ Pháp chẳng hạn
một từ “porter” là đủ.
16
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC
Ở ta, không có truyền thống tư duy trừu tượng là do kinh tế Việt Nam xưa là kinh
tế nông nghiệp. Tuy dã có kinh tế hàng hoá nhưng không phát triển như ở các nước
đã phát triển tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế hàng hoá là cơ sở phát triển tư duy trừu
tượng. “Hàng hoá” là biểu tượng có khả năng trừu tượng hoá mọi vật thể, kể cả lương
tâm. Điều đáng nói là ở ta do không có truyền thống tư duy trừu tượng nên về cơ bản
cũng không có truyền thống khoa học, và cũng có thể nói là không có triết học. Vì
không có truyền thống tư duy trừu tượng, nên hễ có ai nói giọng trừu tượng thì thường
bị coi là tư biện cả. Ngày nay, trên đã phát triển, đặc biệt là trong tình hình giao lưu
nên đã có sự ngự trị của tư duy chính trị một cách không bình thường và không lợi
cho sự phát triển đất nước. Hẳn là ở ta, hiện đã có viện triết học, có một số giáo sư,
phó giáo sư triết học. Nhưng liệu như thế đã có thể nói là có triết học được chưa. Xin
mượn lời của giáo sư Trần Văn Giàu vốn được dư luận coi là vị giáo sư triết học sáng
giá nhất dưới chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nói trong bài viết về
17
Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường Đại học Duy Tân
giáo sư Trần Đức Thảo rằng: trên đất nước ta, nếu có một người xứng đáng là triết gia
thì không ai khác là Trần Đức Thảo. Giàu này chỉ là một giáo sự dạy triết học. Quả là
một sự tỉnh táo, trung thực. Bởi lẽ triết gia thì phải tạo ra triết thuyết riêng. Chứ đâu
như giáo sư triết học chỉ là người đọc sách triết của người khác rồi truyền đạt lại cho
học trò.
Đất nước chẳng phải ngày nay không có triết gia mà trong quá khứ cũng đâu đã
có. Hạn chế của văn hoá Việt Nam là thế. Vì thiếu một năng lực tư duy triết học, nên
ngay ở việc tiếp nhận triết học của thế giới vào nước mình cũng thiếu bản lĩnh. Đáng
nói nhất là vì không có tư duy triết học, nến có bao nhiêu quy luật của cuộc sống đang
diễn ra một cách rõ mồn một, mà không thấy giới khoa học xã hội Việt Nam, các vị tự
nhận là nhà nghiên cứu triết học nói đến. Ví như các quy luật: về sự đối trọng, về cạnh
tranh sinh tồn, về sự trỗi dậy của cái tôi cá thể, vệ sự trỗi dạy của đời sống tâm linh, về
quy luật “Sự văn minh tiến hoá bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hoá bấy nhiêu”, quy
luật về sự khập khễnh, không tương đồng giữa giàu có và đạo lý…
Nói riêng trong lãnh vực nghiên cứu văn học của chúng tôi, mà chủ yếu là thuộc
khả năng nhận thức về thế giới con người, sự sống con người vốn dĩ rất phức tạp, rất
kỳ diệu, kể cả sự bí ẩn, bí hiểm thì cũng dễ thấy sự hạn chế không nhỏ do thiếu tư duy
triết học. Một ví dụ “Chuyện người con gái Nam Xương” trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ mà từ trước tới nay, sách giáo khoa vẫn theo lối nhìn xã hội học giản đơn
để cho rằng cuộc đời Vũ Nương tan nát đến phải tự vẫn là do chế độ nam nữ bất bình
đẳng và chiến tranh. Trong khi, nếu nhìn theo triết học thì chẳng phải thế. Bởi lẽ, nam
3.3. Vấn đề tư duy cá thể
Chính đây là vấn đề cơ bản nhất, trọng tâm nhất mà công cuộc đổi mới tư duy
của đất nước phải đặt ra để giải quyết và quyết tâm thực hiện theo yêu cầu phát triển
vững chắc, bề thế, đích thực của đất nước, không chỉ là trước mắt mà còn lâu dài. Để
có được điều này, trước hết phải có sự nhận thức trường minh và vấn đề con người –
cá thể trong sự sống của loài người là gì? Một vấn đề của triết học mà tiếc rằng giới
nghiên cứu triết nói riêng, giới khoa học xã hội nhân văn nói chung ở nước ta còn bỏ
quên hoặc lảng tránh. Chúng ta đều biết sở dĩ có loài người là do có những con người
– cá thể (l’individu). Con người – cá thể là tế bào tạo nên cơ thể là các hình thái cộng
đồng xã hội. Nó vừa là thực thể xã hội có quy luật sinh học tự thân, vừa là thực thể xã
hội với hai thuộc tính: cá thể và cộng đồng. Trong thực tiễn cuộc sống, nó là một nhưng
thành hai. Một thuộc bản chất nhân văn chân chính có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của xã hội, nên cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy càng mãnh liệt bao nhiêu càng tốt,
càng có lợi cho đất nước, cho nhân quần bấy nhiêu. Một nữa thì ngược lại, phản nhân
văn, nhân bản, huỷ hoại lợi ích của cộng đồng, nên tiêu diệt được nó sớm phút nào là
xã hội, nhân dân được nhờ phút ấy. Ở đây quả là có hai thuật ngữ: con người – cá thể
(l’individu) và chủ nghĩa cá nhân (l’ individualisme). Tiếc rằng, ở ta, do thiếu tư duy
triết học và cũng là thiếu óc duy lý, thiếu khả năng tư duy phân tách nên đã không tách
bạch được hai phạm trù cá thể đó tuy xuất phát từ một nhưng đã thành hai ngả đối lập
nhau như nước với lửa. Mà thực tế, tình hình nhận thức lại giường như chỉ ngừng ở
ngả sau. Cho nên hễ nói đến con người – cá thể thì chỉ thấy đó là chủ nghĩa cá nhân
mà thôi. Điều này, dĩ nhiên cũng liên quan đến một thực tế ở nước ta là nặng về tâm lý
cộng đồng vốn là một nét đẹp, trong chủ nghĩa nhân văn Việt Nam nhưng ngay ở đó
lại là có mặt trái của vấn đề là coi nhẹ, là không nhận thức đầy đủ và cần thiết về con
người cá thể. Chính đây là điều có sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây,
bởi phương Tây, nhờ có sự phát triển sớm nền kinh tế tiền tư bản và tư bản chủ nghĩa
nên cũng đã sớm phát hiện được con người cá thể và biết tận dụng nó để phát triển
cuộc sống, đưa xứ sở lên cõi văn minh phi thường. Còn phương Đông chậm phát hiện
cái tôi, cá thể xét đến cùng cũng là do trong quá khứ sống chủ yếu với nền kinh tế nông
nghiệp dù ít nhiều cũng có kinh tế hàng hoá. Và điều đó, dĩ nhiên đã gây bất lợi cho
đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề tư duy – cá thể đi đúng hướng, không sợ gây ra
mặt trái của vấn đề thì phải áp dụng quy luật đối trọng. Cụ thể là cùng một lúc khuyến
khích và tạo điều kiện cho tư duy. – cá thể được thực thi thì phải phát triển mạnh mẽ
tư duy pháp luật, ý thức pháp luật. Để cuối cùng là trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật nhà nước mà tha hồ tự do tư duy, kế đó là tự do phát ngôn chân lý tự mình
đã trải qua quá trình tư duy nghiêm túc và công phu để tìm được, mà không ai có thể
cấm đoán, gây khó dễ.
Như đã nói vấn đề tư duy – cá thể là vấn đề cơ bản nhất, trọng đại nhất của công
cuộc đổi mới tư duy phải được đặt ra với toàn bộ đất nước, với mọi người dân. Nhưng
thiết thực hơn thì trước hết là phải đặt ra với đội ngũ trí thức, nhất là trí thức khoa học
xã hội và nhân văn. Bởi đặc trưng bản chất của trí thức là hơn người về trí tuệ, có năng
lực tư duy hơn ai hết. Do đó, trí thức phải được giải phóng khỏi tình trạng thụ động về
tư duy để có được độc lập về tư duy, đặng có thể làm đầu tầu cho công cuộc đổi mới
tư duy. Ở đây, rất cần được thiết chế hoá, chế tài hoá một cách chân chính cần cho sự
đổi mới tư duy để có tư duy – cá thể. Tiếp sau vấn đề với tri thức, là vấn đề đối với
tuổi trẻ học đường mà hiện thời đã có mầm mống nhất định. Khẩu hiệu chống lại tình
trạng nặng về thuyết giảng, thầy giảng, trò ghi, trò nhớ, trò nói lại như vẹt là điều đáng
khuyến khích và phải có cách làm sao cơ bản hơn những gì đang có, cũng là chuyện
vô cùng khó khăn. Các nhà lãnh đạo đất nước, lãnh đạo ngành giáo dục phải nhận thức
được rằng: Nếu muốn có một cuộc cải cách giáo dục thực sự đích thực thì không thể
không đặt lên hàng đầu vấn đề tư duy – cá thể. Có thể nói không sợ sai rằng: chừng
nào vấn đề tư duy – cá thể chưa được giải quyết thì chừng đó nền giáo dục nước nhà
vẫn là nền giáo dục lạc hậu. Rộng ra, cũng có thể nói, chừng nào vấn đề tư duy – cá
thể với đất nước, chưa được giải quyết thấu đáo và thành hiện thực thì chừng ấy khả
năng phát triển đất nước vẫn ỳ ạch, chậm chạp so với khu vực, với thế giới văn minh.
20
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC